Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn mạng tại Bộ Thông tin và Truyền thông - Pdf 25

0 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THANH HÀ
HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN MẠNG
CỦA BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Hà Nội – 2014
1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
 Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình học tập và viết luận văn tốt nghiệp;
 Bộ Thông tin và Truyền thông, các đơn vị thuộc Bộ, đặc biệt là Trung
tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam, Vụ Hợp tác quốc tế và các cán bộ
Lãnh đạo, chuyên viên Bộ Thông tin và Truyền thông;
 PGS. TS. Hoàng Khắc Nam đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt
thời gian học tập và viết luận văn;
 PGS. TSKH. Hoàng Đăng Hải đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
làm việc và nghiên cứu đề tài này tại Bộ Thông tin và Truyền thông;
 Các thầy - cô của Khoa Quốc tế học, Trường ĐHKHXH&NV đã
truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báu về chuyên ngành Quan hệ quốc tế;
 Gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa học.
Luận văn này được hoàn thành với sự nỗ lực hết sức của người viết, tuy
nhiên sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp quí báu của các thầy - cô và đồng nghiệp để luận văn này được hoàn
thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
3 MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7

3.2.2. Nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế 89
Tiểu kết Chương 3 93
KẾT LUẬN 94
KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99 5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APCERT Asia Pacific Computer Emergency Response Team.
Hiệp hội các Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính
Châu Á Thái Bình Dương
ASEAN

Association of South East Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATM
An toàn mạng
ATTT
An toàn thông tin
CERT

Computer Emergency Response Team

Bảng 1.2: Một số tổ chức, hiệp hội an toàn mạng khu vực 27
Bảng 1.3: Một số tổ chức, hiệp hội, diễn đàn an toàn mạng thế giới 28
Bảng 1.4: Quy mô sử dụng Internet tại Việt Nam. 30
Bảng 2.1: Hợp tác về an toàn mạng với các đối tác Nhật Bản 47
Bảng 2.2: Hợp tác triển khai dự án với các đối tác Nhật Bản. 49
Bảng 2.3: Các hợp tác an toàn mạng với Hàn Quốc 50
Bảng 2.4: Hợp tác an toàn mạng với Lào. 52
Bảng 2.5. Thái độ tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về an toàn mạng của cán bộ
Bộ Thông tin và Truyền thông 63
Bảng 2.1: Đánh giá về điều kiện thuận lợi, khó khăn trong hoạt động hợp tác quốc
tế về an toàn mạng đã thực hiện 77
Biểu đồ 1.1: Nhận thức các biện pháp an toàn mạng tại Việt Nam [17]. 31
Biểu đồ 1.2: Các sự cố mạng tại Việt Nam từ năm 2011 đến 2013 [11,tr.25]. 32
Biểu đồ 2.1: Hợp tác song phương về an toàn mạng của Bộ TTTT[11,tr.25]. 56
Biểu đồ 2.2: Hợp tác đa phương về an toàn mạng của Bộ TTTT[2]. 61
Biểu đồ 2.3: Đoàn ra an toàn mạng Bộ TTTT ( 2008- 2013) [2]. 62
Biểu đồ 2.4: Đoàn vào về an toàn mạng từ năm 2008 đến 2013[2]. 63
Biểu đồ 2.5: tổng số đoàn ra Bộ TTTT (2008-2013)[2]. 73
Hình 1.1: Phân loại HTQT theo số lượng chủ thể tham gia 17
Hình 1.2: Phân loại HTQT về an toàn mạng theo nội dung hợp tác 20
Hình 1.3: Phân loại HTQT về an toàn mạng theo mục đích hợp tác 22
Hình 1.4: Bộ máy quản lý nhà nước về an toàn mạng tại Việt Nam [11,tr.25] 35
Hình 2.1: Định hướng phát triển ATTT quốc gia 40
Hình 2.2: Mô hình phối hợp, điều phối ứng cứu sự cố máy tính 44
Hình 2.3: Lợi ích thu được từ HTQT về an toàn mạng 68
Hình 2.4: Kết quả thu được từ HTQT về an toàn mạng tại Bộ TTTT 72
Hình 2.5: Các khó khăn trong thực hiện HTQT về an toàn mạng 786
7 với cáo buộc sử dụng kỹ thuật mạng ăn cắp bí mật kinh tế của các công ty
Mỹ [24]. Như vậy, các tấn công mạng, các sự cố mạng đã diễn ra ở mọi nơi,
mọi nước trên thế giới mà Việt Nam là một phần không thể tách rời trong cả
hệ thống kết nối đó.
Trong những năm vừa qua, các sự cố an toàn mạng tại Việt Nam, các
tấn công mạng từ nước ngoài vào Việt Nam đã liên tục tăng cao. Một số sự
kiện an toàn mạng mới nhất tại Việt Nam xảy ra trong năm 2013 như: các
trang báo điện tử Dân Trí, Vietnamnet, Tuổi Trẻ liên tục bị tấn công từ chối
dịch vụ; 2600 máy tính bị tấn công mã độc; 5 đợt tấn công lớn vào Việt Nam
từ máy chủ ở 5 quốc gia khác nhau [14] cho thấy vấn đề đảm bảo an toàn
mạng ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, trả lời chất
vấn trước Quốc hội tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, Bộ trưởng Bộ Công
an Trần Đại Quang đã khẳng định: “Nguy cơ một cuộc chiến tranh mạng đối
với nước ta là có thể xảy ra” [12]. Và ở thời điểm hiện tại, trong những ngày
tháng 5 căng thẳng tại Biển Đông, khi Trung Quốc trái phép đặt giàn khoan
Hải Dương 981 trong vũng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, các tấn
công mạng Việt nam từ Trung Quốc đang có xu hướng gia tăng [24].
Như vậy, bảo vệ an toàn mạng trở nên cấp bách và quan trọng hơn bao
giờ hết. Việc xây dựng và sử dụng các hệ thống mạng càng phát triển thì các
tấn công mạng càng xảy ra nhiều. Các tấn công mạng được thực hiện từ máy
chủ đặt tại nước này để tấn công sang nước khác. Kẻ xấu có thể ngồi một chỗ
và thực hiện tấn công cùng một lúc vào các hệ thống mạng khác nhau của
nhiều nước khác nhau ở khắp nơi trên thế giới. Do vậy, không một cá nhân,
một quốc gia nào có thể có một kết nối mạng an toàn cho riêng mình trong
bối cảnh đó. Không một quốc gia nào có thể đơn phương tự bảo vệ được an
toàn hệ thống mạng của mình giữa các tấn công có nguồn gốc từ bất cứ đâu
trên thế giới như vậy. Và cũng chính vì Internet không có biên giới quốc gia
nên không riêng quốc gia nào có thể một mình bảo vệ an toàn mạng. Các

trong lĩnh vực này có vai trò quan trọng như thế nào cũng sẽ được phân tích,
đánh giá cụ thể trong nghiên cứu này.
10 Tác giả luận văn hiện đang là cán bộ trực tiếp tham gia vào các hoạt
động HTQT về an toàn mạng tại Bộ. Việc lựa chọn đề tài này giúp tác giả có
cơ hội học hỏi, nâng cao kiến thức chuyên môn đồng thời giúp phục vụ cho
công việc tác giả đang được giao thực hiện, đóng góp vào bảo vệ an toàn
mạng ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có điều kiện áp dụng trong thực tế,
góp phần xây dựng các chiến lược, triển khai các kế hoạch HTQT trong an
toàn mạng tại Bộ TTTT nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động này tại Bộ.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về các vấn đề liên quan HTQT
trong lĩnh vực an toàn mạng. Các nghiên cứu này phần lớn là của các tác giả
Châu Âu và Hoa Kỳ, như tác giả Gerard De Graaf, Giám đốc Phát thanh,
Truyền hình và Internet, Hội đồng Châu Âu; Troels Oerting, Trợ lý Giám đốc
điều hành của EUROPOL; Chris M. Painter, Điều phối viên các vấn đề mạng
thuộc Văn phòng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ; Heli Tiirmaa-Klaar, Tư vấn chính
sách an toàn mạng, Cơ quan đối ngoại Châu Âu.
Các nghiên cứu này đã tập trung tìm hiểu các biện pháp, cơ chế phối
hợp quốc tế nhằm bảo vệ an toàn mạng quốc gia và khu vực; các trở ngại
trong quá trình tăng cường hợp tác đảm bảo an toàn mạng; vai trò của các tổ
chức khu vực và quốc tế; các vướng mắc pháp lý và kế hoạch quốc gia trong
bảo vệ quyền công dân trên mạng
- Tại Việt Nam, đã có 2 đề tài nghiên cứu về mối quan hệ giữa internet,
ATTT với quan hệ quốc tế: Luận văn “Vấn đề an ninh thông tin trong quan
hệ quốc tế đương đại” của tác giả Trần Xuân Tiến, Cao học QHQT khóa 10,
Học viện Ngoại giao và Luận văn “Tác động của Internet đến quan hệ quốc

an toàn mạng tại Bộ Thông tin và Truyền thông.
+ Phân tích, đánh giá các kết quả thu được cũng như mặt được và chưa
được trong hoạt động HTQT về an toàn mạng tại Bộ TTTT.
12 + Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế về an toàn
mạng tại Bộ Thông tin và Truyền thông.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận:
+ Tiếp cận hệ thống: xem xét thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế về
an toàn mạng và các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động này trong một
hệ thống quốc tế kết nối bằng mạng và hoạt động an toàn mạng trong hệ
thống quốc gia.
+ Tiếp cận lịch sử: xem xét các hoạt động hợp tác quốc tế về an toàn
mạng theo cách tiếp cận lịch đại (các năm trước 2009 và các năm sau 2009)
và tiếp cận đồng đại, tập trung vào 5 năm gần đây (2009 - 2014).
+ Tiếp cận định tính và định lượng, phân tích và tổng hợp: áp dụng
trong việc thu thập và xử lý các thông tin.
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Nghiên cứu tài liệu: các báo cáo về an toàn mạng của các tổ chức
quốc tế và các cơ quan Việt Nam.
+ Điều tra: Thiết kế các phiếu điều tra bằng bảng hỏi tự ghi, gồm
những câu hỏi đóng và câu hỏi mở, gửi tới 50 đơn vị trong và ngoài Bộ và 40
cán bộ kỹ thuật về an toàn mạng tại Bộ.
+ Phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu 07 cán bộ là Lãnh đạo Bộ và
Lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ là những cán bộ liên quan trực tiếp tới hợp tác
an toàn mạng tại Bộ về thực trạng hoạt động, nguyên nhân dẫn đến những
hạn chế và các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động HTQT về an toàn mạng tại
Bộ TTTT.

nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn mạng tại Bộ Thông tin và
Truyền thông.
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục

14
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Các khái niệm
Khái niệm hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc
tế nhằm thực hiện các mục đích chung. Trong đó, chủ thể quan hệ quốc tế là
những thực thể đóng một vai trò có thể nhận thấy được trong quan hệ quốc tế.

Các chủ thể trong mối quan hệ này có mục đích tham gia, có tham gia vào, có
khả năng thực hiện và có ảnh hưởng tới quan hệ quốc tế [10,tr.24].
Do Bộ Thông tin và Truyền thông được Chính phủ giao nhiệm vụ phụ
trách các hoạt động trong lĩnh vực thông tin và truyền thông trên toàn lãnh
thổ Việt Nam, nên trong hầu hết các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực
này, Bộ cũng là đại diện quốc gia thực hiện các hoạt động hợp tác đó.
Với các hoạt động hợp tác của một lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật, các
chủ thể hợp tác có thể là cá nhân chuyên gia, nhóm người đại diện cho tổ
chức chính phủ, phi chính phủ, doanh nghiệp của các quốc gia khác nhau. Và
tại Bộ Thông tin và Truyền thông, chủ thể quan hệ quốc tế có thể là các cán
bộ hoặc đơn vị thuộc Bộ được cử đại diện cho Bộ tham gia các quan hệ hợp
tác với nước ngoài. Do Bộ có vai trò đại diện quốc gia trong các hợp tác quốc

ngữ “cyber-security” của tiếng Anh. Do tiếp đầu ngữ “cyber-” có ý nghĩa gần
giống với từ “network” là “được kết nối với các hệ thống truyền thông điện
tử, đặc biệt là mạng Internet”. Một số thuật ngữ tiếng Anh liên quan đến an
toàn mạng trong nghiên cứu này là: tội phạm mạng (cybercrime); không gian
mạng (cyberspace); chiến tranh mạng (cyberwar) [23].

Thông tin truyền trên mạng thường ở dạng tín hiệu số hóa (digital) và
bảo vệ mạng cũng là để bảo vệ các thông tin được truyền trên đó, nên các
thuật ngữ “an toàn thông tin”, “bảo mật thông tin”, “an toàn thông tin số”,
16 “an ninh thông tin”, “an ninh mạng”, “an toàn an ninh mạng” được dùng
phổ biến tại Việt Nam để chỉ cùng một khái niệm như “an toàn mạng”.
Như vậy, “an toàn mạng” là tình trạng được bảo vệ hoặc hoạt động bảo
vệ các máy tính và thiết bị được kết nối, bảo vệ việc truyền nhận thông tin
thông qua các kết nối đó.
Xét chi tiết về khía cạnh kỹ thuật, Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU)
định nghĩa khái niệm an toàn mạng như sau:
An toàn mạng là tập hợp các công cụ, chính sách, khái niệm về an toàn,
bảo vệ an ninh, các hướng dẫn, các tiếp cận quản lý rủi ro, các hành động,
hoạt động đào tạo, thực tiễn, bảo hành và công nghệ mà có thể sử dụng để
bảo vệ môi trường mạng và tài sản của tổ chức, cá nhân người sử dụng. Tài
sản của tổ chức, cá nhân người sử dụng gồm các thiết bị máy tính được kết
nối, nhân sự, cơ sở hạ tầng, các ứng dụng, các dịch vụ, các hệ thống viễn
thông và toàn bộ những thông tin được lưu trữ hoặc/và truyền phát trong môi
trường mạng. An toàn mạng nhằm đảm bảo có được và duy trì việc sở hữu an
toàn các tài sản của tổ chức, cá nhân người dùng trước các rủi ro an toàn
trong môi trường mạng. Mục đích an toàn nói chung gồm: tính sẵn sàng; tính
toàn vẹn, mà có thể gồm cả tính xác thực và tính liên tục; tính bảo mật [35].

Quan hệ hợp tác này thường là các quan hệ hợp tác trong các hiệp hội,
diễn đàn, tổ chức quốc tế phạm vi khu vực hoặc thế giới, vì mục đích xây
dựng một môi trường mạng khu vực và trên thế giới an toàn hơn.
Việt Nam
(Bộ TTTT)
Tổ chức
quốc tế
(cá nhân, tổ
chức nhiều
nước)
Quốc
gia khác
(cá nhân, tổ
chức một
nước)
Song phương
Đa phương
18 Các quan hệ hợp tác song phương và đa phương về an toàn mạng tại
Việt Nam nói chung và của Bộ Thông tin và Truyền thông nói riêng thường
đan xen nhau do mỗi nước trong khu vực đều tham gia vào nhiều nhóm, hiệp
hội khác nhau. Hoạt động hợp tác song phương do vậy cũng có thể nằm trong
chương trình hành động của các hợp tác đa phương.
Hợp tác đa phương và song phương có mối quan hệ qua lại với nhau.
Hợp tác đa phương góp phần tạo tiền đề cho hợp tác song phương và hợp tác
song phương tạo nhiều yếu tố thuận lợi cho hoạt động đa phương.
1.1.2.2. Phân loại theo nội dung hoạt động
Hợp tác tư vấn xây dựng chính sách là các hợp tác thuộc các dự án tư

toàn cho các ứng dụng này chính là nội dung của đảm bảo an toàn mạng.
- Hợp tác ứng cứu sự cố máy tính là hợp tác phòng chống các loại sự cố
máy tính gồm: lừa đảo ngân hàng (phishing site), nhiễm phần mềm độc hại
(malware), ăn cắp dữ liệu (key logger, scan), tắt hệ thống (request to shut
down), máy chủ phát tán phần mềm độc hại (malware hosting site), đe dọa
tấn công (attack warning), nhiễm độc SQL (SQL Injection), tấn công có chủ
đích (targeted attacks), bẫy mạng (bot/botnet/C&C), tấn công từ chối dịch vụ
(DoS/DdoS), thư giả mạo (fraud e-mails), tạo địa chỉ giả (fake sites), lừa đảo
đăng ký tên miền (domain registration fraud Hợp tác nhiều nhất hiện nay
của Việt Nam về an toàn mạng là hợp tác trong ứng cứu sự cố máy tính
[11,tr.25].
Trong hoạt động hợp tác này còn có nội dung hợp tác chuyển giao kỹ
thuật là các hoạt động thử nghiệm phần mềm của các tổ chức nước ngoài
cung cấp; tiếp nhận các quy trình, tài liệu, giải pháp vận hành các hệ thống kỹ
thuật do nước ngoài cung cấp.
Hợp tác đào tạo nhân lực là việc tổ chức hoặc tham dự các khóa đào
tạo có yếu tố nước ngoài như mời chuyên gia nước ngoài giảng dạy tại Việt
Nam, đào tạo cho học viên người nước ngoài. Kinh phí tổ chức do quốc tế tài
trợ hoặc tự cử người đi học.
20 An toàn
mạng
Chính
sách
Nhân
lực
Kỹ
thuật

bố; ngăn ngừa hoạt động tuyên truyền chống phá nhà nước; chống xâm nhập
phá hoại hệ thống mạng quốc phòng; truy tìm tội phạm có âm mưu lật đổ
chính quyền. Trong đó, phòng chống chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin
là quan trọng nhất.
Trong đó, chiến tranh thông tin là việc áp dụng CNTT ở mức độ cao
trong các hoạt động chỉ huy - quản lý, tình báo, điều khiển, chiến tranh điện
tử, kinh tế, tâm lý, xã hội, ; là một loại hình tác chiến mới trong chiến tranh
hiện đại; Mục tiêu tấn công của chiến tranh thông tin là các cơ sở hạ tầng
thông tin (quân sự, tài chính, ngân hàng, mạng máy tính quốc gia, ) [6,tr.20].
Cũng có thể gọi chiến tranh thông tin là chiến tranh mạng. Viện nghiên
cứu Pháp lý và Tội phạm quốc tế của Liên Hợp quốc (UNICRI) định nghĩa:
“Chiến tranh mạng là bất cứ hành động nào của một quốc gia xâm nhập vào
hệ thống máy tính của quốc gia khác nhằm mục đích phá hoại”.
Có quan niệm cho rằng chiến tranh mạng là loại chiến tranh thứ 5 bổ
sung vào danh sách 4 loại đã có: chiến tranh mặt đất, trên biển, trên không và
trong vũ trụ. Chiến tranh truyền thống là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức
giữa các đơn vị chính trị đối kháng và gây ra hậu quả đáng kể. Do vậy, chiến
tranh mạng là chiến tranh phi truyền thống nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào
và có sức tàn phá không kém gì chiến tranh thông thường [43].
Phòng chống tội phạm mạng
Hợp tác quốc tế trong an toàn mạng nhằm phòng chống tội phạm mạng
là nói đến sự phối hợp quốc tế trong việc ngăn chặn và truy tìm tin tặc có
hành động ăn cắp tiền của cá nhân, tổ chức bằng các kỹ thuật máy tính; ngăn
chặn và truy tìm tội phạm sử dụng máy tính kết nối là công cụ gây ra nguy
hiểm cho tính mạng, tài sản, thể xác, tinh thần của những người dùng khác,
như hạ thấp uy tín tổ chức, lạm dụng trẻ em, buôn bán người, phá hoại hệ
22 thống mạng của người khác… Hoạt động HTQT trong lĩnh vực này thường

tội
phạm
mạng
23 1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Hiện trạng an toàn mạng trên thế giới và của Việt Nam
1.2.1.1. Hiện trạng sử dụng mạng và mất an toàn mạng trên thế giới
Thế giới hiện nay là một thế giới của toàn cầu hóa với các ứng dụng
mạng phát triển vượt bậc và mặt trái là các rủi ro tổn thất mạng cao kỷ lục.
Thứ nhất, đó là thế giới của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Loài
người đã trải qua quá trình tiến hóa và có những bước phát triển vĩ đại trong
lịch sử. Từ khi Columbus giương buồm ra khơi vào năm 1492 và tìm ra Châu
Mỹ cho đến nay, thế giới đã trải qua 3 thời kỳ: quá trình thế giới hóa
(Mondialisation), quốc tế hóa (Internationalisation) và hôm nay, Internet và
thương mại điện tử đã thực sự làm thế giới bước vào một kỷ nguyên hoàn
toàn mới: Toàn cầu hóa (Globalisation) [8,tr.22].
Ba quá trình trên, theo như Thomas L. Friedman, nhà báo tờ The New
York Time, chính là ba mức phát triển của toàn cầu hóa: toàn cầu hóa 1.0 với
chủ thể là quốc gia; toàn cầu hóa 2.0 với chủ thể là các công ty và toàn cầu
hóa 3.0 là khi các cá nhân cộng tác và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Với quá trình này, thế giới dường như đang phẳng ra mà nền tảng cốt
lõi thúc đẩy điều đó chính là các kết nối vào một mạng lưới Internet chung
trên toàn cầu. Do vậy an toàn mạng là phần không thể tách rời của toàn cầu
hóa hiện nay giữa các quốc gia, tổ chức và cá nhân trên thế giới [3,tr.50].
Thứ hai, đó là thế giới của kết nối mạng. Thế kỷ 21 toàn cầu hóa mang
đến của sự bùng nổ trong việc sử dụng mạng và phát triển các ứng dụng
CNTT. Các thiết bị thông minh với việc tích hợp của nhiều tiện ích ra đời
giúp con người có thể “di chuyển” cả thế giới bên mình. Giám đốc điều hành

4,514,400
167,335,676
15.6 %
3,606.7 %
7.0 %
Châu Á
3,922,066,987
114,304,000
1,076,681,059
27.5 %
841.9 %
44.8 %
Châu Âu
820,918,446
105,096,093
518,512,109
63.2 %
393.4 %
21.5 %
Trung Á
223,608,203
3,284,800
90,000,455
40.2 %
2,639.9 %
3.7 %
Bắc Mỹ
348,280,154
108,096,800
273,785,413

thiệt hại này ước tính hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm.
Ở Hoa Kỳ, tai nạn xe hơi gây thiệt hại từ 99 tỉ USD đến 168 tỉ USD
mỗi năm, tương đương từ 0,7 % đến 1,2 % GDP. Trong khi đó, tấn công
mạng khiến Hoa Kỳ mất khoảng 24 tỉ USD đến 120 tỉ USD mỗi năm, hay
0,2% đến 0,8% GDP. Báo cáo của Symantec cũng đưa ra con số thất nghiệp
do các tấn công mạng là 508.000 người [22].

Trích đoạn Yêu cầu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn mạng Những khó khăn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status