TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
PHẠM THỊ LAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
KHẢ NĂNG THU HÚT NGUỒN VỐN FDI
Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. TRẦN THỊ HOA LÝ
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân em đã
nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Em xin chân thành cảm ơn tới các
thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong
khoa giáo dục chính trị đã giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm sâu sắc nhất tới cô giáo ThS. Trần Thị Hoa Lý
- người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình nghiên
cứu khóa luận.
Tôi xin cảm ơn tới các bạn, và toàn thể gia đình đã góp ý và ủng hộ tôi
hoàn thành khóa luận này.
Do điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
khóa luận của em khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, bạn bè để khóa luận của em được
hoàn thiện hơn.
Doanh nghiệp nhà nước
ĐTNN:
Đầu tư nước ngoài
ĐTTTNN:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP:
Tổng sản phẩm quốc dân
KCN:
Khu công nghiệp
ODA:
Hỗ trợ phát triển chính thức
USD:
Đô la Mỹ
nước ngoài cũng có vai trò hết sức quan trọng. Ngoài ý nghĩa về vốn thì đầu
tư trực tiếp nước ngoài giúp cho chúng ta tiếp thu các công nghệ hiện đại và
những kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các nước phát triển.
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng, cửa ngõ Tây Bắc của
thủ đô Hà Nội, có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của đất nước. Nhìn
chung Vĩnh Phúc là một tỉnh có nền kinh tế mang đặc trưng của một tỉnh
nông nghiệp, điểm xuất phát thấp, nguồn vốn tích lũy từ nội bộ chưa thể đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn vốn
phát triển còn hạn hẹp có thể nói là thiếu vốn trầm trọng, ở các cơ sở sản xuất
trên địa bàn tỉnh về thiết bị và công nghệ vẫn còn lạc hậu, trình độ quản lí còn
yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Do vậy việc thu hút vốn đầu tư
nói chung và vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nói riêng là rất quan trọng và cấp
thiết với tỉnh đảm bảo cho tỉnh phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
- hiện đại hóa.
Nhận thức được tầm quan trọng đó của vốn FDI, Vĩnh Phúc cũng như
các tỉnh khác trong cả nước đã tích cực đẩy mạnh công tác kinh tế đối ngoại
và thực hiện những biện pháp nhằm thu hút các dự án FDI và đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ.Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
(29/12/1987) đến nay việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh
Phúc đã thu được những kết quả khả quan. Đầu tư trực tiếp nước ngoài bước
1
đầu đã góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh làm thay đổi hẳn cơ cấu
kinh tế. Tuy nhiên kết quả đạt được còn nhiều hạn chế chưa tương xứng với
tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.Vì vậy cần phải xem xét thực trạng đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Phúc để tìm ra các nguyên nhân yếu kém,
trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm thu hút nhiều hơn nữa nguồn
vốn nước ngoài.
Qua thực tiễn hơn 20 năm thực hiện luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam, đề tài đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tác giả nghiên cứu
dưới nhiều khía cạnh khác nhau:
- Trần Xuân Nam “Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài”, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội - 2005.
- PGS.TS Phùng Xuân Nhạ, “Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở Việt Nam: Chính sách và thực tiễn”, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội 2007.
- Trần Xuân Tùng, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - thực trạng
và giải pháp”, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội - 2005.
- TS, Nguyễn Trọng Xuân, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội 2002.
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí về vấn đề
này. Các công trình trên đã tiếp cận và giải quyết những khía cạnh khác nhau
của vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài. Xong đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Vĩnh
Phúc. Do đó, việc nghiên cứu hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Vĩnh Phúc là hết sức cần thiết.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
3
Khóa luận nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
.Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận còn sử dụng chủ yếu các phương pháp
sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp thống kê, so sánh
- Phương pháp điều tra xã hội học…
5. Ý nghĩa của đề tài
Hệ thống hóa lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.
Theo quan niệm của “Tổ chức thương mại thế giới” (WTO): Đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)
có một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lí
tài sản đó. Phương diện quản lí là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài
chính khác. Trong phần lớn trường hợp cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó
quản lí ở nước ngoài là cơ sở kinh doanh và nhà đầu tư thường hay gọi là “công
ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
5
“Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế quốc tế” (OECD) đưa ra khái
niệm: “Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở
hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu biểu quyết. Điểm mấu chốt
của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”.
“Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” (12/1987) đưa ra khái niệm:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất cứa tài khoản nào đó được chính phủ
Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành
lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy
định của luật này”.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại một quốc gia
là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào
vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lí hoặc quyền kiểm soát
một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu
hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng
tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia một xí nghiệp liên
doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh đặc điểm của hình
thức liên doanh này là:
+ Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân
mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
+ Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp
liên doanh được quy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước.
+ Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh,
đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỉ lệ góp vốn. Theo luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam (1987) tỉ lệ góp vốn của bên hoặc các bên nước
ngoài tối thiểu không dưới 30% vốn pháp định, không quy định giới hạn tối
7
đa và trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định. Đối với các
dự án xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, các dự án vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự án trồng rừng thì tỉ
lệ này có thể thấp đến 20% nhưng phải được cơ quan cấp giấy cho phép đầu
tư chấp nhận.
Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên thế giới từ trước tới nay, nó là hình thức thâm nhập vào thị trường
nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả thông qua hợp tác
- Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài: Đây là hình
thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá
nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Đặc điểm của các công ty này là:
Được thành lập dưới hình thức công ty TNHH và là một pháp nhân mới ở
nước nhận đầu tư. Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầ tư
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng được các chủ
mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua
việc gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị.
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và đã tạo ra
rất nhiều thuận lợi, cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều
dự án khác nhau tạo điều kiện thuận lợi cho họ điều phối và hỗ trợ các công ty
trực thuộc trong việc tiếp thị, tiêu thụ hàng hóa.Lập kế hoạch chỉ đạo kiểm
soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh mục đầu tư. Công ty mẹ cung cấp
cho các công ty con các dịch vụ như: kiểm toán nội bộ, quan hệ đối ngoại,
phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển.
- Hình thức công ty cổ phần: Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách
nhiệm hữu hạn) là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và
các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào
9
doanh nghiệp. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng tối đa không
hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tối thiểu. Đặc trưng của
công ty cổ phần là có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ
đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
Về cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng
quản trị và giám đốc. Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc
nhóm cổ đông sở hữu 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia giám sát
quản lý hoạt động của công ty cổ phần. Đại hội cổ đông gồm tất cả cổ đông
có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần.
Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu tư nước ngoài
được thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hóa doanh nghiệp FDI
(doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt
động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hóa.
Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài hình thức của công ty này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về
thân nhân trách nhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Hình thức đầu tư này
trước hết rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm
rõ rệt nên cũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm.
- Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A) (Merger & Acquisition)
Là một hình thức liên quan tới việc mua lại và hợp nhất với một doanh
nghiệp nước ngoài đang hoạt động. Với hình thức này có thể tận dụng lợi thế
của đối tác ở nơi tiếp nhận đầu tư tận dụng thị trường, tiết kiệm thời gian,
giảm thiểu rủi ro.
Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức một hoặc một số doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang
một doanh nghiệp khác đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị
sáp nhập.
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp chuyển toàn
bộ tài sản, quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành doanh
nghiệp mới.
11
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, chính phủ nước nhận đầu
tư còn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình như: khu
chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế…Trong đó, khu chế xuất
là khu vực lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định do chính phủ nước nhận đầu
tư cho phép thành lập, trong đó có thể do một hoặc một số xí ngiệp sản xuất
hàng hóa phục vụ xuất khẩu hoăc thay thế hàng nhập khẩu. Trong khu chế
xuất, áp dụng chế độ tự do thuế quan, tự do mậu dịch. Khu công nghiệp theo
luật pháp Việt Nam quy định là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện các dịch vụ cho sản xuất do chính phủ thành lập hoặc cho phép
nhập các doanh nghiệp với nhau. Ngoài ra hiện nay thì hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty
xuyên quốc gia. Các công ty mẹ có thể thông qua các công ty con để trực tiếp
đầu tư vào quốc gia có công ty con đó.
1.2. Vai trò của vốn FDI đối với kinh tế - xã hội.
Ngày nay xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng mở rộng và
được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm. Đó là quá trình các nền kinh
tế của các nước tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và phụ thuộc vào nhau.
Đứng trước xu hướng đó Đảng và nhà nước Việt Nam đã chủ động lợi dụng
“những khả năng to lớn của nền kinh tế thế giới về di chuyển vốn, mở rộng
thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lí để bổ sung và phát
huy có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong nước. Và phương pháp hữu
hiệu nhất để thực hiện chủ trương này là “Đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ kinh tế đối ngoại” trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động to
lớn đến việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị xã hội.
1.2.1. Vốn FDI góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vốn FDI ngày
càng đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
13
kinh tế đối với bất kì một quốc gia nào, một địa phương nào. Điều đó thể hiện
ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, FDI bổ sung cho nguồn vốn trong nước.
Vốn là yếu tố rất quan trọng đối với việc thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
tế, khi một nền kinh tế luôn muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn
hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ
nước ngoài, trong đó có vốn FDI
Vốn cho đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn
nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì
vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
Thứ tư, FDI góp phần tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công.
Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động trong nước cũng như nâng cao
hơn nữa chất lượng lao động là một trong những mục tiêu đặt ra khi thực thi
chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đó cũng chính là mục đích của
các nước đầu tư FDI nhằm đạt chi phí sản xuất thấp. Song song với việc giải
quyết việc làm là việc không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng lao động
tạo ra cho nền kinh tế nhiều đội ngũ lao động có tay nghề, có trình độ khoa
học công nghệ cao, đội ngũ cán bộ quản lí có năng lực…góp phần quan trọng
trong việc phát triển kinh tế xã hội, thu hút FDI không chỉ có lao động thông
thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và
được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn ĐTNN.
Thứ năm, FDI tạo ra nguồn thu ngân sách lớn.
FDI đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu ngân sách cho nhà nước
thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài đây là nguồn thu quan
trọng đảm bảo cho các hoạt động của nhà nước được ổn định, tăng thêm các
khoản chi cho các hoạt động của công cộng, các vấn đề xã hội được quan tâm
nhiều hơn, phúc lợi xã hội được tăng thêm, đặc biệt đời sống nhân dân ngày
càng được cải thiện.
15
1.2.2. Vốn FDI góp phần vào việc ổn định chính trị - xã hội
Vốn FDI có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
góp phần tạo cho kinh tế được ổn định. Bên cạnh những vai trò quan trọng đối
với kinh tế xã hội nguồn vốn FDI còn có ý nghĩa to lớn đối với sự ổn định
chính trị, xã hội của các nước nhận vồn đầu tư.
Về mặt xã hội, doanh nghiệp FDI tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người
dự kiến thì khó có thể tiên định được của kết quả hoạt động kinh doanh.
Chính sách thương mại với thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào thương mại
…sẽ kích thích hoặc hạn chế đến việc thu hút ĐTTTNN.
Hai là, tình hình chính trị - văn hóa, xã hội
Ổn định chính trị là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của Chính phủ đối với
các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư. Đồng thời, đây là nhân tố tác động đến
tính rủi ro của các hoạt động đầu tư
Đây là yếu tố cũng rất quan trọng được các nhà đầu tư xem xét cẩn
trọng mỗi khi quyết định bỏ vốn đầu tư, bởi vì rủi ro chính trị có thể gây thiệt
hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài
Ba là, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phụ trợ cho việc hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Cơ sở hạ tầng thường được các nhà đầu tư đưa ra xem xét kĩ lưỡng khi
đưa ra quyết định đầu tư. Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng như: giao
thông vận tải, điện, nước…sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các
dự án đầu tư từ nước ngoài.Cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp, xí nghiệp trong quá trình hoạt động và ngược lại nếu như
không có cơ sở hạ tầng hay các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng còn yếu kém thì sẽ
cản trở hoạt động của các doanh nghiệp, các nhà máy …chính vì vậy cơ sở hạ
tầng là yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư cần xem xét trước khi có quyết
định đầu tư vào bất kì quốc gia nào đó hay bất kì địa phương nào.
17
Bên cạnh đó hệ thống các dịch vụ phụ trợ cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh như: hoạt động tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện
thủ tục giấy tờ có liên quan, cung cấp thông tin thị trường, các chương trình
Maketting…, cũng được coi là yếu tố tác động không nhỏ đến sự tăng trưởng
chuyên chở hàng hóa và dịch vụ giữa các điểm sản xuất và tiêu thụ ảnh hưởng
đến giá thành và rủi ro trong quá trình vận chuyển. Chất lượng và tính đa
dạng của sản phẩm phụ thuộc vào khí hậu, mật độ dân số cũng như tài nguyên
thiên nhiên.Các quốc gia hay các khu vực có vị trí và điều kiện tự nhiên thuận
lợi thì vốn đầu tư nước ngoài sẽ được ưu đãi nhiều hơn ví dụ như gần biển
hay gần khu vực trọng điểm kinh tế…
Sáu là, khả năng hồi hương vốn đầu tư.
Bất kì một nhà đầu tư nào trước khi họ đầu tư thì họ cũng phải tính đến
khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận của mình sau khi đi đầu tư vì vậy khả năng
hồi hương vốn được xem là một yếu tố quan trọng trong quyết định ĐTTTNN
của các nhà đầu tư, bởi họ sẽ không thể nào mà đầu tư vào nước không có
tiềm năng, không có khả năng thu lại vốn, không có đảm bảo về kinh tế và sự
ổn định về chính trị, xã hội. Các nước hay các khu vực có tiềm năng kinh tế,
chính trị xã hội ổn định sẽ thu hút các nhà đầu tư
19
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của bất kì một địa phương nào bao giờ
cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến quyết định của các nhà
đầu tư. Các nhân tố này không chỉ tác động đến quy mô mà còn quy định một
số đặc điểm của hoạt động đầu tư nước ngoài tại địa phương. Vì vậy trước khi
nghiên cứu thực trạng thu hút FDI ở Vĩnh Phúc không thể không xem xét đến
các điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội tại đây.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận
chuyển, đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguồn nguyên liệu