Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm bia Halida. - Pdf 34

Hội đồng quản trị
Chủ tịch hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
GĐ Tổ chức hành chính
GĐ kỹ thuật
GĐ tài chính – Kinh doanh
P. tổ chức
P.
hành chính
P.
bảo vệ
P.
kỹ thuật
P.
KCS
P.
kế hoạch –vật tư - kho
P.
Tài chính – kế toán
P.
kinh doanh
Nhà máy bia Việt Hà
Nhà máy nước tinh khiết Opal
Công ty KD XNK tổng hợp và DV mỹ phẩm
Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Những năm gần đây, nền kinh tế nước ta có nhiều chuyễn biến lớn, cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp bị đẩy lùi, từng bước nhường chỗ cho cơ chế
mới. Đó là cơ chế thị trường mà đặc trưng là “một nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành thành phần và mở cửu. Các thành phần kinh tế bình đẵng hoạt động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Nhất là khi chúng ta đẵ

CHƯƠNG I – TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA BIA HALIDA
I – Giới thiệu chung về nghành bia Việt Nam
2
2
Chuyên đề tốt nghiệp
1. Tổng quan về nghành bia Việt Nam
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của đất nước nên nhu
cầu về thực phẩm và đồ uống cũng tăng theo. Trong đó bia là thứ đồ uống
không thể thiếu của người tiêu dùng ngày nay. Hiện nay ở Việt Nam số lượng
nhà máy bia có rất nhiều trong đó bia địa phương vẫn chiếm một tỷ lệ khá
cao, thông thường mỗi tỉnh thì lại có một nhà máy bia. Còn bia liên doanh
cũng không phải là ít.
Bia xâm nhập vào nước ta từ rất sớim, từ thời kỳ đầu của cuộc chiến với
thực dân Pháp, người Pháp đẵ cho mở nhà máy bia đầu tiên tại Hà Nội vào
năm 1890, để đáp ứng cho nhu cầu của những quân nhân Pháp đang đóng tại
Việt Nam. Còn người dân Việt Nam lúc đó thì không khoái món này lắm, và
rượu vẫn là ưu tiên hàng đầu. Cho đến đầu những năm 1990 thì ở thị trường
chỉ có một số loại bia như: 333, Saigon…..nói chung là còn rất ít, còn lại là
bia nhập lầu từ nước ngoài mà chủ yếu là Trung Quốc. Sau 1995, do đổi mới
cơ chế chính sách nghành bia Việt Nam mới có cơ hội phát triển, cùng với đó
là hàng loạt nhà máy bia ra đời để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân
tăng cao.
Hiện cả nước có khoảng 20 nhà máy có công suất lớin (triên 50 triệu lit/
năm), còn lại là các nhà máy có quy mô 20 triệu lít/ năm và các nhà máy có
công suất nhỏ 10triệu lít/ năm (rất khó thống kê đầy đủ do đây là các nhà máy
địa phương, không tham gia Hiệp hội Rượu bia Việt Nam)
Mức tiêu dùng hiện nay của người dân Việt Nam là khoảng 1,5 tỷ lít/
năm, tức là hàng năm mỗi người chưa tiêu thụ đến 20 lit bia mỗi năm, con số
này vẫn là thấp so với các Phương Tây, đặc biệt là người Đức tiêu thụ gần gấp

4
4
Chuyên đề tốt nghiệp
UBND Thành phố Hà Nội đẵ có những điều chỉnh rất hợp lý cho phù hợp hơn
với thực tế. Ngày 02/6/1992 UBND Thành phố Hà Nội đẵ có quyết định số
1224/QĐ - UB về việc chuyển “Nhà máy Thực phẩm Hà Nội” thành “ Nhà
máy bia Việt Hà” thuộc Liên hiệp Thực phẩm vi sinh, có nhiệm vụ sản xuất
nước giải khát có cồn như : bia lon, bia hơi và nước không độ cồn nh
Vinacola, nước khoáng…..
Được sự ủng hộ của các chính quyền Trung ương và Thành phố Hà
nội lãnh đạo Nhà máy đẵ mạnh vay 3 triệu USD mua sắm trang thiết bị,
công nghệ hiện đại để cho ra đời sản phẩm “con cưng” đó là bia
HaLiĐa. Quyết định đó đẵ đem lại cho sự thành công của công của
Công ty Việt Hà ngày nay. Sau một thời gian tính toán cân nhắc Nhà
máy đẵ đồng ý liên doanh với hãng bia nỗi tiếng của Đan Mạch đó là
bia Carslberg, trong đó cồng ty đóng góp 40% vốn.
Song song vớii việc mở rộng sản xuất ở liên doanh, Nhà máy đẵ tự
nghiên cứu và lắp đặt một dây chuyền sản xuất bia hơi mang tiên “ bia hơi
Việt Hà”. Từ đây, nhà máy bia Việt Hà được chia làm hai bộ phấn: toàn bộ
dây chuyêng sản xuất bia lon được đa vào liên doanh, thực hiện hoạch toán
độc lập, lấy tên là Liên doanh Nhà máy bia Đông Nam á. Phần sản xuất bia
hơi gọi là nhà máy bia Việt Hà.
Với sản phẩm chính giờ đây là các loại bia lon, bia chai, bia hơi, ngày
2/11/1994, UBND Thành phố Hà nội đẵ có quyết định số 2817/QĐ - UB đổi
tên “ Nhà máy Bia Việt Hà “ thành “Công ty bia Việt Hà” với chức năng
nhiệm vụ : sản xuất và kinh doanh các loại bia lon, bia chai, bia hơi và các
loại nước giải khát có ga, không ga, nước khoáng.
SV: Trần Hữu Nam Lớp: Đầu tư 45B
5
5

thuộc báo sổ. Tiến tới để phù hượp với chủ trơng của Nhà nước, các đơn vị
thành viên sẽ hoạt động theo mô hình công ty mẹ con.
3. Bộ máy tổ chức của công ty
Dựa vào đặc điểm của mình Công ty Việt Hà đẵ tổ chức bộ máy quản lý
gọn nhẹ theo hình thức trực tiếp điều hành có hiệu quả.
SV: Trần Hữu Nam Lớp: Đầu tư 45B
7
7
Hình 1 : Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và dịch vụ Việt Hà
Chủ tịch hội đồng quản trị : là ngời đứng đầu Hội đồng quản trị do Đại
hội đồng cổ đông bầu ra. Chủ tịch hội đồng quản trị có thể kiêm giám đốc
hoặc tổng giám đốc Công ty.
Hội đồng quản trị : là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc
thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.Giám đốc: là người có quyền hành cao
nhất trong công ty. Có trách nhiệm quản lý điều hành mọi hoạt động của công ty
trên cơ sở chấp hành đúng đắn chủ trương chính sách chế độ Nhà nước, chịu mọi
trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Phó giám đốc : giúp giám đốc giải quyết các công việc do giám đốc
giao phó trong lĩnh vực quản lý
Các phòng ban chức năng : Chịu sự điều hành trực tiếp của phó giám
đốc. Ngoài việc thực hiện các chức năng của mình còn phải có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau nhằm kiểm tra đối chiếu số liệu và giúp đỡ nhau để hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao phó.
Cụ thể
Giám đốc Tài chính – Kinh doanh: Chịu trách nhiệm về công tác sổ sách
kế toán toàn công ty. Tổ chức tình hình sản xuất kinh doanh ...làm tốt nhiệm
vụ bảo toàn vốn, có kế hoạch mở rộng sản xuất, tìm đối tác về tài chính, chịu
trách nhiệm trực tiếp ra quyết định điều hành tưới các phòng tài vụ và phòng
kiến thiết cơ bản.

nguyên liệu, tổ chức giới thiệu và bán sản phẩm, tạo điều kiện để xuất vật tư
một các dễ dàng. Nhập vật tư, bảo quản dự trữ khoa học để hàng hoá không bị
hư hỏng, hàng hoá trong kho không bị hao hut mất mát...
Phòng tài chính – kế toán : có chức năng quản lý tài sản và các nguồn
vốn, thanh quyết toán theo pháp lệnh thống kế toán tài chính, hạch toán chi
phí sản xuất, tính giá thành hạch toán tiêu thụ, phân tích kết quả sản xuất kinh
doanh, tư vấn phương án giá, theo dõi tính lương và trả lương, tham gia thực
hiện công tác thanh lý tài sản.
Phòng kinh doanh :
•Xây dựng kế hoạch marketing các sản phẩm của Công ty, hổ trợ việc
tiêu thụ các sản phẩm
•Xây dựng chính sách đối vớii từng sản phẩm (thương hiệu, hình ảnh,
chiến lược…)
•Tổ chức thực hiện và quản lý các hợp đồng marketing nhằm bảo đảm
dúng các chính sách, kế hoạch đề ra với kết quả tốt.
•Xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các chính sách, lựa chọn vật
phẩm quảng cáo và sử dụng hàng quảng cáo có hiệu quả.
Tổ chức bảo vệ :
•Xây dựng nội quy bảo vệ, đôn đốc kiểm tra các bộ phận trong Công ty
thực hiện nội quy đẵ ban hành.
•Xây dựng và tổ chức thành mạng lưới vảo vệ các phân xởng, tổ sản
xuất để nhằm đảm bảo thực hiện tốt nội quy đẵ quy định .
4.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Đến nay, doanh thu của công ty Việt Hà so với thời điểm mới thành
lập (tức năm 1992), tăng từ 5 tỷ đồng lên trên 1000 tỷ đồng (tăng 200 lần) vào
cuối năm 2005, nộp ngân sách từ 50 triệu đồng lên 200 tỷ đồng (tăng 4000 lần
) lợi nhuận tăng từ 10 triệu đồng lên 103 tỷ đồng (tăng 10.300 lần), lương
người lao động tăng từ 150.000 nghìn đồng lên 3 triệu đồng/người/tháng. Có
được thành quả ngày hôm nay đó là nhờ công lao của tập thể đội ngũ cán bộ
công nhân viên chức Công ty miệt mài thi đua lao động sản xuất, không

Miền Bắc 250.56 44.04 300.24 43 350.76 42.18
Miền Nam 128.56 22.59 168.06 24 200.3 24.08
Miền Trung 189.78 33.34 230.06 32.9 280.45 33.7
Tổng 556.89 100 698.35 100 831.51 100
Nguồn : Phòng kế hoạch – tài chính
Qua bảng trên ta thấy doanh thu của công ty tăng đều qua hàng năm và
không có sự thay đổi lớn trong tỷ trọng doanh thu của các Miền, trong đó
miền Bắc luôn đứng ở vị trí dẫn đầu(trung bình chiếm 43% năm) và kế tiếp là
miền Trung chiếm một tỷ trọng tương ứng là 34% còn miền Nam chỉ chiếm
gần 23%.
Sự tăng trưởng nhanh chóng của doanh thu sản phẩm bia HaLiDa đẵ kéo
theo doanh thu của Công ty Việt Hà cũng tăng theo nhanh chóng điều đó càng
chứng tỏ được vai trò của sản phẩm bia Halida đối với sự phát triển của Công
ty Việt Hà. Tính đến cuối năm 2005 doanh thu của toàn Công ty là 1020 tỷ
đồng, trong đó doanh thu của bia Halida là 831.51 tỷ đồng chiếm hơn 80%
của toàn Công ty. Halida thực sự là sản phẩm nòng cốt trong sự phát triển của
của Công ty.
II – Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm
bia Halida
1. Nguồn vốn kinh doanh của Công ty sản xuất kinh doanh đầu
tư và dịch vụ Việt Hà.
Bảng I: Nguồn vốn kinh doanh của Công ty Việt Hà năm 2006
Đơn vị : tỷ đồng
Đầu năm Cuối năm Chênh lệch
Số tiền Tỷ lệ(%) Số tiền Tỷ lệ(%) Số tiền Tỷ lệ(%)
II-Tổng
nguồn vốn
170.527 100 183.149 100 12.622 7.4
1. Koản nợ
2.Ngắn hạn

Theo bảng số liệu thì nguồn vồn của Công ty Việt Hà chủ yếu từ 2
nguồn là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả:
• Vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn này chủ yếu từ hai nguồn từ Ngân
sách Nhà nước cấp và do Công ty tự bổ sung trong quá trình phát
triển.
• Nợ phải trả: bao gồm nợ ngắn hạn và nợ khác, trong đó nợ ngắn
hạn chiếm tỷ trọng lớn (Công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và
dịch vụ Việt Hà không vay nợ dài hạn).
Nợ phải trả chiếm tỷ trong nhỏ (khoảng 12%), trong đó chủ yếu là nợ
ngắn hạn (khoảng 77%), không có nợ dài hạn.
Hệ số vốn chủ sở hữu tương đối cao, chứng tỏ Công ty có khả năng độc
lâp về tài chính là tường đối lớn, điều này tạo ra sự chủ động của Công ty đối
với những dự án mà mình đang theo đuổi.
2. Tình hình đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản
phẩm bia HaLiDa
2.1 - Đầu tư xây dựng cơ bản và máy móc thiết bị
Do nhu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng và củng để cho sản phẩm của
Công ty luôn đạt chất lượng, hàng năm nhà máy đẵ chi ra một số tiền không
nhỏ để đổi mới trang thiết bị máy móc, nâng công suất cải tạo nhà xưởng, cải
tạo môi trường làm việc…. HaLiDa là sản phẩm bia đẵ khá uy tín trên thị
trường, do đó để duy trì và nâng cao uy tín cho sản phẩm của mình Công ty
luôn chú trọng đến việc đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm. Ta có thể thấy
được qua bảng số liệu sau:
Năm 2003 2004 2005 2006
Vốn ĐTXDCB và TB
(trđ)
7.350 8.620 12.832 18.569
Tốc độ tăng liên hoàn
của vốn (%)
- 17.27% 48.86% 44.7%

Tổng số 100% 117% 148.63% 144.7%
Nhìn vào nội dung vốn đầu tư xây dựng cơ bản và thiết bị của Nhà máy
bia HaLiDa ta thấy môt số điều đáng lu ý nh sau. Trước hết là nói đến chi phí
xây lắp, chi phí này tăng lên đều đặn qua hàng năm với 134.71% (năm 2004
so với năm 2003) 126.21% (năm 2005 so với năm 2004) 133.66%(năm 2006
so với năm 2005) điều này cho thấy Công ty luôn quan tâm đến đến việc cải
tạo và mở mang nhà xưởng để luôn xứng đáng là doanh nghiệp đi đầu trong
lĩnh vực bia. Còn đầu tư vào trang thiết bị là cũng tăng đều nhưng đáng chú ý
là năm 2006 (so vớii năm 2005) tăng không bằng năm 2005 (so với 2004),
điều này cũng dễ hiểu bởi nguyên tắc của Công ty là sẽ tận dụng mọi nguồn
lực trong nớc, nếu như trong nước không đáp ứng được thì lúc đo mới mua
thiết bị từ bên ngoài. Năm 2005 Công ty đẵ chủ động được nguồn lực trong
nước, đó là sử dụng các thiết bị trong nước sản xuất, có giá thành rẻ hơn nước
ngoài nhưng chất lượng thì vẫn đảm bảo. Số vốn để đầu tư mua sắm thiết bị
sản xuất công ty đối với những thiết bị trong nước chiềm khoảng 30% tổng số
vốn mua sắm thiết bị sản xuất. Những thiết bị mà công ty mua ở trong nước
thường là những thiết bị mà chất lượng không thua kém gì thiết bị nhập ngoai
như: hệ thống thiết bị chưng cất, máy dán nhãn, máy dập nắp…..
Những con số trên một lần những khẳng định lại quyết tâm của cán bộ
lãnh đạo nhà máy là đưa thương hiệu bia HaLiDa thành một thương hiệu
mạnh trong cả nước, Công ty luôn duy trì một mức đầu tư ổn định qua hàng
năm. Tránh đầu tư một lần một khối lượng lớn vốn vào việc mua sắm thiết bị
và xây lắp gây đột biến ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty. Đối với bộ phận chi phí khác như chi phí nghiên cứu khả thi, chi
phí đấu thầu, chi phí thẩm định…. cũng tăng lên làm đáp ứng cho việc lựa
chọn và cho phép Công ty khẳng định các quyết định là chính xác và phù hợp
với tình hình kinh doanh của Công ty hiện nay.
2. - Đầu tư vào nguồn nhân lực
Bất cứ trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng thế, nguồn nhân lực luôn
đóng vai trò then chốt trong đó. Một Công ty có làm ăn phát đạt thì công đầu

Trong quá trình làm việc những công nhân mới vào sẽ được những
công nhân làm việc lâu năm kèm cặp để hướng dẫn làm quen với dây chuyền
thiết bị nhà máy, tránh cho họ lúng túng khi xử lý công việc.
Một khi đẵ được nhận vào làm tại Công ty thì người đó sẽ nhận
được sự hỗ trợ cần thiết từ Công ty để có thể phát huy hết khả năng của
mình. Công ty luôn chú trọng đến môi trường làm việc của người công nhân
vì có như thế mới đảm bảo được sức khoưẻ cho người lao động. Ai có dịp đi
tham quan các xưởng sản xuất bia của Công ty, thì một điều dễ nhận thấy là
phân xưởng luôn sạch sẽ, trang bị hệ thống đồng bộ và hiện đại. bởi Công ty
đẵ duy trì và thực hiện tốt hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
ISO9000, tiêu chuẩn HACCP, môi trường theo ISO14000….
Mức lương hiện nay của người lao động ở Công ty là khá cao so với
những doanh nghiệp khác, mức lương trung bình là 3 triệu đồng/người/tháng,
chưa kể Công ty còn có tiền thưởng tương đối lớn trong các dịp nghỉ lễ, tết và
cho những người có thành tích tốt trong công tác.
Bảng : Trình độ học vấn của CBCNV tại Công ty HaLiDa giai
đoạn 2003-2006
Năm 2002 2003 2004 2005
Công nhân kỹ thuật
150 180 210 280
Đại học trở lên
85 95 105 165
Trung cấp, cao đẳng
115 113 111 120
Tổng số
350 388 426 565

Qua bảng trên ta dễ dàng nhận thấy chất lượng nguồn nhân lực được
nâng lên rõ rệt số lượng người có trình độ không ngừng gia tăng. Đặc biệt là
số người có bằng đại học với mức tăng 2005 là 157.14%, là mức tăng cao

suất, để tận dụng công suất dư thừa của dây chuyền thiết bị bia lon thì Phòng
kỹ thuật Nhà mày phối hợp với Trung tâm nghiên cứu của Liên hiệp thực
phẩm vi sinh Halimex nghiên cứu sản xuất hai loại nước giải khát là Vinacola
(cola đóng lon) và Haloirange (nước cam đóng lon).
Khi sản phẩm bia HaLiDa đẵ có chỗ đứng vững chắc trên thị trường thì
công suất hiện tại là không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường, lãnh đạo công ty
đẵ chọn hãng Bia Carlsberg để liên doanh sản xuất bia Carlsberg. Theo thiết
kế xây dựng, phía nước ngoài yêu cầu toàn bộ nền sàn của phân xưởng đặt
thiết bị cần phải đổ bê tông liền khối sâu 400mm. Nếu như vậy, riêng phần
nền móng phải chi thêm 4 tỷ đồng so với dự kiến ban đầu của đề án. Công ty
đẵ hợp tác vớii các chuyên gia thuộc Bộ nông nghiệp đưa ra giải pháp xây
dựng móng cục bộ cho các thiết bị lớn, thuyết phục các chuyên gia nước
ngoài chấp nhận để nhanh chóng đưa sản xuất đi vào ổn định. Sau đó, trong
quá trình lắp ráp và chế tạo, chính các chuyên gia của Công ty đẵ phát hiện và
khắc phục được môt số sai sót kỹ thuật.
Bên cạnh xưởng sản xuất bia, để giải quyết công ăn việc làm cho công
nhân, Nhà máy chủ trương học tập kinh nghiệm nước ngoài, tự đầu tư thiết kế
dây chuyền sản xuất bia hơi và hợp tác sản xuất mỳ ăn liền. Đối vớii thiết bị
được coi là phức tạp nhất trong dây chuyền snr xuất bia là thiết bị lọc tách bã
“Lauter”. Nhà máy đẵ kết hượp vớii Viên nghiên cứu cơ khí Cơ khí của Bộ
Công nghiệp thực hiện đề tài cấp Nhà nước, thiết kế chế tạo thành công thiết
bị này, đi vào sản xuất ổn định. Từ năm 1990 đến nay Công ty đã thực hiện 2
đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, 5 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành
phố, 95 đề tài cấp cơ sở vớii tổng kinh phí 35 tỉ đồng và có 586 sáng kiến,
tổng số tiền làm lượi hàng trăm tỉ đồng. Năm 2002, đề tài đẵ được Nhà nước
trao tặng giải nhất VIFOTEC – Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt
Nam vớii sự nghiệp
Thời gian qua Công ty đẵ chi một số tiền không nhỏ để nâng cấp và mua
mới nhiều máy móc thiết bị thay thế cho hệ thống máy móc thiết bị đẵ lỗi thời
như hệ thống máy chưng cất, máy dán nhãn, mày dập nắp… Các máy móc

cho các doanh nghiệp hiểu được nhu cầu lớn nhất của khách hàng là gì, hiểu
được cách thức lựa chọn sản phẩm, từ đó đa ra chiến lược kinh doanh , những
sản phẩm phù hượp với thị thiếu.
Nghiên cứu thị trường là cần thiết nhưng để triển khai mở kênh phân
phối, các đại lý và phát triển thị trường mới còn khó hơn nhiều vì phải giới
thiệu được sản phẩm và thuyết phục khách hàng quan tâm sử dụng sản phẩm
và tái sử dụng sản phẩm. Hoạt động đầu tư nghiên cứu thị trường đòi hỏi một
lượng vốn không nhỏ, thời gian hượp lý và đội ngũ cán bộ làm thị trường có
kinh nghiệm và chuyên môn sâu. Hoạt động đầu tư mở rộng thị trường tiêu
thụ được Công ty tiến hành hàng năm với kế hoạch cụ thể, chi tiết với từng thị
trường và đối với từng đối tượng tiêu dùng.
Trong những năm qua Công ty đã tổ chức nghiên cứu thị trường bằng 2
phương pháp

Trích đoạn Phương hướng nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Giải pháp về huy động vốn Giải pháp về nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status