Nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở huyện đông anh, TP hà nội - Pdf 33

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=======***=======

NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH THPT Ở HUYỆN ĐÔNG ANH,
TP HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành đƣợc bài khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn tới Khoa Giáo
Dục Chính Trị -Trƣờng Đại Học Sƣ Phạm Hà Nội 2 cùng tập thể giảng viên
Khoa Giáo Dục Chính Trị.Đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình dạy học để em
có đƣợc những kiến thức cơ bản. Qua đây, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới
cô Chu Thị Diệp đã trực tiếphƣớng dẫn chỉ bảo cho em trong xuốt quá trình em
thực hiện bài khóa luận này.Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô của
các trƣờng THPT đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, em cũng xin bày tỏ
lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên trong quá trình em thực hiện bài
khóa luận. Bàikhóa luận của em còn nhiều thiếu xót do còn hạn chế về tài liệu
nghiên cứu, em mong thầy cô góp ý để bài khóa luận của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


LỜI CAM ĐOAN


Giáo dục và đào tạo

KHXH:

Khoa học xã hội

Nxb:

Nhà xuất bản

NQ/TW:

Nghị quyết/ Trung Ƣơng

QĐ-TTg:

Quyết định- Thủ tƣớng

PGS:

Phó giáo sƣ

THPT:

Trung học phổ thông

TNCS:

Thanh niên cộng sản

THPT ........................................................................................................... 46
3.2. Một số giải pháp cần thực hiện đối với công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh các trƣờng THPT ở huyện Đông Anh ................................................. 49
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 61


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc thì con
ngƣời và sự phát triển đạo đức con ngƣời đƣợc xem là vấn đề trung tâm, tiên
quyết để phát triển, các nhà triết học Trung Hoa xƣa đã nó câu: “Tiên học lễ,
hậu học văn”. Các bậc tiền nhân cách đây 530 năm (1848 - 2014) trên tấm bia
Tiến sĩ đầu tiên đặt ở Văn Miếu Quốc Tử Giám của nƣớc ta đã khắc ghi:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nƣớc mạnh rồi
lên cao, nguyên khí suy thì nƣớc yếu rồi xuống thấp”. Đảng và Nhà nƣớc ta
luôn coi trọng vấn đề giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói
chungvà học sinh, sinh viên trong thời kì đổi mới nói riêng. Sinh thời, Hồ Chí
Minh cũng đã dạy: “Có tài mà không có đức thì là ngƣời vô dụng, có đức mà
không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Ngƣời còn dạy: “Công tác giáo dục
đạo đức trong nhà trƣờng là một bộ phận rất quan trọng và có tính chất nền
tảng của công tác giáo dục trong nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa. Dạy cũng nhƣ
học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài, đức là cái gốc của ngƣời cách mạng,
đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng” (Trích lời dạy của
Bác Hồ- tháng 10/ 1964). Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ:
“Xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con ngƣời Việt Nam…bồi dƣỡng
các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tƣởng
sống, lối sống, năng lực, trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con ngƣời Việt
Nam”.
Thấm nhuần tƣ tƣởng đó của Chủ tịch Hồ chí Minh, Nghị quyết Đại hội

thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tƣơng lai của bản thân và đất nƣớc”
[4,tr. 22].Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tƣởng giảm sút niềm tin, ít
quan tâm đến tình hình đất nƣớc, sống thực dục xa dời văn hóa, gía trị truyền
thống của dân tộc.

2


Đứng trƣớc tình hình đó, công tác giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức
lối sống cho học sinh THPT là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và bức thiết
của nhà trƣờng, của gia đình và của toàn xã hội. Nhà trƣờng phải coi trọng
dạy chữ cùng với dạy ngƣời và dạy nghề, cần tăng cƣờng giáo dục đạo đức
cho học sinh nhằm góp phần giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh.
Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho
học sinh nhà trƣờng, vận dụng vào từng địa phƣơng cụ thể nênem quyết định
lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả việc giáo dụcđạo đức cho học sinh
THPT ở huyện Đông Anh, TP Hà Nội”
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay ở nƣớc ta, việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên nói
chung và thanh niên- học sinh nói riêng là một trong những nội dung quan
trọng đƣợc xã hội quan tâm. Đây đƣợc xem là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm cần đƣợc nhà trƣờng chú trọng đến giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống
giúp các em trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.Có rất nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên cả nƣớc nhƣ:
Bài viết đăng trên Tạp chí Triết học của PGS. TS Nguyễn Văn
Phúc,Quan niệm của C.Mác về đạo đức và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp
xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay. Luận văn thạc sĩ khoa học
giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh (2009),Những giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Phan
Bội Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay đã đƣa ra những phƣơng

cho học sinh trƣờng THPT
Thứ hai, đề xuất một số biện pháp về công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh trƣờng THPT
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng
Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Một số trƣờng THPT trên địa bàn huyện Đông Anh, TP Hà Nội trong 3
năm 2010-2011; 2011-2012; 2012-2013: (trƣờng THPT Cổ Loa, THPT Bắc
Thăng Long, THPT Đông Anh, THPT Liên Hà, THPT Vân Nội…)
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận của đề tài
Khóa luận đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận Duy vật biện
chứng và Duy vật lịch sử các quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc, các bộ ban
nghành về giáo dục và giáo dục đạo đức.
Khóa luận sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể: Phƣơng pháp
phân tích- tổng hợp, phƣơng pháp logic- lịch sử, phƣơng pháp điều tra xã hội
học.
6. Ý nghĩa
Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn sinh
viên, đồng nghiệp đang quan tâm, vận dụng vào giảng dạy nâng cao chất
lƣợng môn GDCD và giáo dục ý thức đạo đức cho học sinh các trƣờng THPT
trong bối cảnh hiện nay.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận
gồm 3 chƣơng và 6 tiết.



6


ngƣời đầu tiên bàn đến đạo đức, nhƣng công lao chính của ông đã tổng kết
đƣợc kinh nghiệm thực tiễn của đời sống xã hội, trên cơ sở đó xây dựng nên
học thuyết về đạo đức. Học thuyết này còn nặng về tƣ tƣởng nho giáo và ý
thức hệ phong kiến, nhƣng nó chứa đựng nhiều vấn đề đạo đức xã hội. Đó là
ý thức đối với bản thân, ý thức đối với xã hội đặt các mối quan hệ của con
ngƣời trong mối quan hệ tƣơng quan xã hội, cách ứng xử và hành vi của con
ngƣời, phẩm hạnh con ngƣời, hạnh phúc con ngƣời.
Trong xã hội Ấn Độ cổ đại, học thuyết của đạo Phật do Thích Ca Mâu ni
sáng lập đã đề cập đến nhiều vấn đề đạo đức nhƣng chủ yếu khuyên con
ngƣời sống thiện, biết thƣơng yêu nhau, giúp đỡ nhau, tránh điều ác.
Ở phƣơng Tây vấn đề đạo đức đã từ lâu đƣợc nhiều nhà tƣ tƣởng quan
tâm đến.Cho đến nay, ngƣời ta vẫn coi Xoocrat (469-399) là ngƣời đầu tiên
đặt nền móng cho khoa học Đạo đức học, còn Arixtốt (384-322) đã viết bộ
sách Đạo đức học với 10 cuốn trong đó ông đặc biệt quan tâm tới phẩm hạnh
của con ngƣời. Nội dung của phẩm hạnh chính là ở chỗ biết định hƣớng, biết
làm việc thiện. Trong lịch sử Đạo đức học, Êpiquya (341-271) đƣợc xem là
ngƣời đầu tiên đƣa ra phạm trù “lẽ sống” vào đạo đức học.
Trong giáo trình “Đạo đức học” của Trần Đăng Sinh- Nguyễn Thị Thọ,
đạo đức đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là
tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và
đánh giá cách ứng xử của con ngƣời trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã
hội, chúng đƣợc thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh
của dƣ luận xã hội” [14,tr.6].
Từ định nghĩa về đạo đức chúng ta cần chú ý nhƣ sau:
Một là, đạo đức với tƣ cách là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã
hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội.Đạo đức cũng nhƣ các quan

Mọi hoạt động của con ngƣời luôn có mối quan hệ tác động qua lại với nhau,
do đó con ngƣời có hai đặc tính là tính tự giác và tính xã hội, chúng quy định

8


và chế ƣớc lẫn nhau. Trong quá trình quan hệ qua lại tác động lẫn nhau tính tự
giác và tính xã hội của con ngƣời đã đƣa ra những yêu cầu cho bản thân con
ngƣời, những yêu cầu đó đƣợc gọi là những chuẩn mực đạo đức. Chuẩn mực
đạo đức là yêu cầu do con ngƣời đƣa ra cho mình trong quan hệ với ngƣời
khác và với xã hội. Hệ thống những chuẩn mực đó do con ngƣời đề ra và tự
giác tuân theo trong qua trình giao tiếp với ngƣời khác và với xã hội. Theo
giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sƣ phạm của tác giả Lê Văn
Hồng (chủ biên) thì quan niệm rằng: Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực
biểu hiện thái độ đánh giá quan hệ giữa lợi ích của bản thân và lợi ích của
ngƣời khác và của toàn xã hội[6,tr.141].
Những chuẩn mực hành vi đạo đức của con ngƣời ra đời đều bị chi phối
và thay đổ theo hình thái kinh tế xã hội, chế độ chính trị khác nhau. Những
chuẩn mực đạo đức quyết định hành vi, cử chỉ của cá nhân hƣớng con ngƣời
đến cái thiện và tránh cái ác.
Theo tài liệu“Giáo dục công dân lớp 10”- Nxb Giáo dục, của một nhóm
tác giả do Mai Văn Bính tổng chủ biên thì “Đạo đức là hệ thống các quy tắc,
chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con ngƣời tự giác điều chỉnh hành vi của mình
cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội”[2,tr.63].
Nhƣ vậy đạo đức không phải là cái có sẵn, cũng không phải là do thiên
định mà đạo đức là sản phẩm quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa cá
nhân con ngƣời với tập thể, với cộng đồng xã hội bởi đạo đức bắt nguồn từ
tồn tại xã hội, từ lao động sản xuất của con ngƣời, từ bản chất của con ngƣời
luôn hƣớng đến các giá trị chân, thiện, mỹ để hoàn thiện chính mình. Để đạt
đƣợc con ngƣời trƣớc hết phải hoàn thiện về đạo đức và nhân cách.

ngƣời khác và với chính bản thân mình, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí,
hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con
ngƣời- tự nhiên, với xã hội, con ngƣời với con ngƣời.

10


* Cấu trúc của đạo đức
Khi nhìn nhận về cấu trúc của đạo đức chúng ta nhìn nhận nó dƣới
nhiều góc độ khác nhau.Mỗi góc độ của đạo đức đều cho chúng ta cái nhìn
mới mẻ về cấu trúc của đạo đức.Trong mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động
thì hệ thống đạo đức đƣợc hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực
tiễn đạo đức. Trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời thì đƣợc nhìn
nhận là quan hệ đạo đức. Nếu trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng,
cái đơn nhất và cái đặc thù thì đạo đức đƣợc tạo nên từ đạo đức xã hội và
đạo đức cá nhân.
Cấu trúc của đạo đức đƣợc thể hiện là sự thống nhất biện chứng giữa ý
thức đạo đức và thực tiễn đạo đức, mọi ý thức đạo đức đều đƣợc thể hiện thông
qua thực tiễn đạo đức và biểu hiện dƣới dạng những quan hệ đạo đức trong xã
hội. Ý thức đạo đức là sự ý thức về những chuẩn mực đạo đức, những nguyên
tắc đạo đức xã hội đặt ra và những cảm xúc, tình cảm của con ngƣời nó giúp
cho con ngƣời nhận thức đƣợc những hành vi của bản thân là đúng hay sai để
từ đó hƣớng con ngƣời đến những giá trị tốt đẹp. Thực tiễn đạo đức là hoạt
động của con ngƣời do ảnh hƣởng của niềm tin, ý thức đạo đức. Thực tiễn đạo
đức còn là nơi kiểm tra tính đúng đắn của mọi ý thức đạo đức.
Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức có mối quan hệ biện chứng tác động
và bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức của con ngƣời, của một giai
cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử. Ý thức đạo đức phả
đực thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn
ngừa cái ác.Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt đến

và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đây đƣợc xem là những nhân tố mới tác
động mạnh mẽ nhất đến truyền thống đạo đức của dân tộc.Tuy nhiên trong sự
vận động và phát triển của sự tiến bộ không thể thiếu đi vai trò và chức năng
của đạo đức. Đạo đức rất cần thiết đối với những con ngƣời của thời đại mới
vừa có đức vừa có tài.

12


Xuất phát từ việc đề cao vai trò, chức năng giáo dục của đạo đức đối với
sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân hay của toàn xã hội, vấn đề giáo dục
đạo đức đƣợc đặt ra. Giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng là một
hoạt động chuyên môn của xã hội nhằn hình thành và phát triển nhân cách
con ngƣời theo những yêu cầu của xã hội trong tƣng giai đoạn lịch sử nhất
định. Trong sự hình thành và phát triển nhân cách đạo đức của học sinh thì
giáo dục giữ vai trò chủ đạo, ngoài ra nó còn đƣợc xem là sự tác động đến lứa
tuổi thanh niên về mặt tƣ tƣởng tình cảm, hành vi, đạo đức… nhằm hình
thành thái độ niềm tin, thói quen cƣ xử đúng đắn trong gia đình nhà trƣờng và
toàn xã hội. Giáo dục đạo đức vạch ra phƣơng hƣớng cho sự hình thành và
phát triển nhân cách.Vì giáo dục là quá trình tác động có mục tiêu xác định,
hình thành một mẫu ngƣời cụ thể cho xã hội.
Ngày nay bên cạnh những giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân
tộc thì một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên không có lý tƣởng sống, hay
có lối sống không lành mạnh chỉ biết hƣởng thụ không biết lao động, chạy
theo đồng tiền…Vì vậy công cuộc giáo dục đặc biệt là giáo dục đạo đức mới
là một việc làm vô cùng cần thiết, quan trọng.
Giáo dục đạo đức đƣợc xem là một bộ phận của quá trình giáo dục. Là
quá trình tác động tới ngƣời học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm, niềm
tin đạo đức, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập đƣợc thói quen và
hành vi đạo đức tốt. Hƣớng con ngƣời vào những phẩm chất đạo đức tốt đẹp.

trình phát triển, biến đổi về nhân cách của học sinh về mặt đạo đức. Quá trình
giáo dục đạo đức chứa đựng trong bản thân nó rất nhiều mâu thuân cơ bản:
mâu thuẫn giữa cái tốt và cái xấu, hành vi đạo đức đúng với chuẩn mực hay
trái với chuẩn mực đạo đức. Bên cạnh đó giáo dục đạo đức mang tính tƣơng
tác hai chiều giữa nhà giáo dục và đối tƣợng đƣợc giáo dục.
Trong quá trình giáo dục thì cấu trúc của quá trình giáo dục bao gồm:
mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung phƣơng pháp giáo dục đạo đức. Giáo dục đạo

14


đức trang bị những tri thức cần thiết về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức văn hóa,
kinh tế, pháp luật, văn hóa xã hội cho học sinh, để từ đó hình thành nên thái
độ đúng đắn. Giáo dục đạo đức góp phần giáo dục ý thức, tình cảm niềm tin,
hành vi thói quen đạo đức
* Vai trò của việc giáo dục đạo đức đối với học sinh THPT
Điều 2 chƣơng I của Luật Giáo dục đã ghi: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con ngƣời việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Đảng ta cũng đã khẳng định quan điềm về phát triển giáo dục trong
chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội 2001- 2010: “Giáo dục con ngƣời Việt
Nam phát triển toàn diện có đạo đức, có tri thức, có sức khoẻ và thẩm mỹ...
góp phần làm cho dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,
phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Nhƣ vậy, giáo dục đạo đức là một mặt giáo dục bắt buộc, một bộ phận
cấu thành của quá trình giáo dục trong trƣờng học. Giáo dục đạo đức đƣợc
xem là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt giáo
dục khác. Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT phụ thuộc vào nhiều yếu tố

cá nhân. Bản thân con ngƣời khi sinh ra không có ai là xấu Hồ Chí Minh đã
khẳng định rằng: “Hiền dữ đâu phải là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà
nên”giáo dục giúp cho học sinh hình thành và nhận thức đƣợc đâu là hành vi
tốt, đâu là hành vi xấu. Nếu nhƣ khi các em học sinh thực hiện hành vi đạo
đức tốt thì bản thân các em thấy hạnh phúc, ngƣời đƣợc giúp đỡ cũng cảm
thấy hạnh phúc, thấy cuộc sống đẹp hơn có ý nghĩa hơn. Giáo dục đạo đức
giúp thức tỉnh bản chất tốt đẹp bên trong mỗi cá nhân, là động cơ có sức mạnh
thôi thúc các em đấu tranh chống lại những cái ác, cái xấu, giữ gìn và phát
huy cái tiến bộ, tốt đẹp.

16


Tóm lại, vai trò của giáo dục đạo đức chính là góp phần định hƣớng,
hình thành và phát triển nhân cách của các em học sinh. Bằng việc đề ra
những chuẩn mực đạo đức để học sinh tự nguyện, tự giác thực hiện nhờ quá
trình nhận thức giúp cho học sinh định hƣớng mọi hành vi của bản thân, cung
cấp cho học sinh những kiến thức thực tiễn về đạo đức để từ đó học sinh có
thể nhận thức đƣợc cái tốt.
1.2. Các yếu tố cấu thành của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
1.2.1. Chủ thể giáo dục đạo đức
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT đƣợc thực hiện chủ yếu dƣới
vai trò tác động trực tiếp của ngƣời giáo viên.Giáo viên là ngƣời cung cấp tri
thức cho học sinh và luôn đƣợc mọi ngƣời nhìn nhận là ngƣời có trình độ
chuyên môn cao.Vì vậy, giáo viên phải không ngừng trau dồi tri thức chuyên
môn.Giáo dục đạo đức là một việc làm quan trọng mà ngƣời giáo viên cần
phải thực hiện trong công tác giáo dục của mình. Bằng sự hiểu biết về tri thức
ngƣời thầy giáo, cô giáo cần phải tìm hiểu tâm lý lứa tuổi, đặc điểm tình cảm,
hoàn cảnh gia đình, tạo mối quan hệ gần gũi giữa thầy- trò. Tất cả những nhân
tố đó góp phần to lớn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh.Bên cạnh đó

triển từ lúc dậy thì và kết thúc khi bƣớc vào tuổi ngƣời lớn, các em luôn có xu
hƣớng tự khẳng định mình, có ý thức vƣơn lên làm chủ bản thân. Ở giai đoạn
này, sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của ngƣời lớn làm các em luôn luôn cảm
thấy khó chịu, bực bội và dễ nổi nóng, lúc này cái “tôi” ngày càng đầy đủ
hơn. Trong quá trình phát triển, các em muốn tìm tòi, phát hiện, khám phá
những điều chƣa biết của cuộc sống, các em muốn có quyền tự khẳng định
mình và muốn thoát ra khỏi sự ràng buộc của bố mẹ, gia đình và những ngƣời
lớn tuổi.
Tuổi vị thành niên mang tính chất tập thể, sự giao tiếp với bạn bè là một
nhu cầu rất lớn của các em, các em có xu hƣớng tụ tập thành từng nhóm có
cùng sở thích, phù hợp với tình hình để vui chơi, đùa nghịch.Thời kì này, quá

18


trình phát triển sinh lý ảnh hƣởng nhiều đến tính cách của các em. Các em dễ
bị lôi kéo, dễ bị kích động, lòng kiên trì và khả năng tự kiềm chế yếu, có tính
tình không ổn định, dễ nổi cáu, khi thì quá sôi nổi nhiệt tình nhƣng hễ có trở
ngại lại dễ chán nản, buông xuôi. Các em rất hiếu thắng hoặc tự ti và dễ dàng
đi đến những hành động thiếu suy nghĩ chín chắn, đôi lúc vi phạm nhƣng
không làm chủ đƣợc bản thân.
Cùng bƣớc vào lứa tuổi vị thành niên nên học sinh trên địa bàn huyện
Đông Anh cũng phát triển những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nhƣ ở
trên.Nhƣng bên cạnh đó những đặc điểm đó còn mang những đặc thù riêng
của từng xã trong địa phƣơng. Do sự phát triển của điều kiện kinh tế- xã hội
của địa phƣơng, nơi đây đƣợc xem là cửa ngõ giao lƣu phía Bắc của TP Hà
Nội, tập trung hai khu công nghiệp lớn Bắc Thăng Long, khu công nghiệp
Đông Anh của thành phố, sự phát triển của những khu công nghiệp kéo theo
đó là nhiều hệ lụy nhƣ kinh tế, chính trị, môi trƣờng và tác động mạnh mẽ
nhất là đạo đức con ngƣời chính vì lẽ đó đã tác động ảnh hƣởng không nhỏ

đình, đạo đức mới trong học tập, đạo đức mới trong giao tiếp. Ý thức cộng
đồng, tinh thần khoa dung, chống chủ nghĩa cá nhân. Biểu hiện cụ thể, sinh
động là bằng nhiều hình thức giáo dục cho học sinh ý thức tập thể, phong trào
“uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, phụng dƣỡng những ngƣời có
công với cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, bảo vệ của công, giữ
vững kỷ cƣơng, nội quy, quy chế ở trƣờng trong học tập và trong thi cử, tuân
thủ kỉ luật học đƣờng, ý thức chấp hành pháp luật của nhà nƣớc.
Về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT gồm một số nội dung
chủ yếu sau: Thứ nhất, Giáo dục đạo đức gia đình đƣợc thể hiện trong nội
dung nhiều môn học. Nhƣng nội dung giáo dục chủ yếu đƣợc đề cập trong các
bộ môn KHXH và đặc biệt là bộ môn GDCD.
Bản chất mỗi con ngƣời sinh ra là thánh thiện, là tốt. Chủ tịch Hồ Chí
Minh từng nói: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà

20


Trích đoạn Nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinhTHPT Một vài nét khái quát về các trường THPT trên địa bàn huyện Đông Anh, TP Hà Nộ Các yếu thuận lợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status