một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh thpt của huyện long thành - Pdf 10

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả
quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT của Huyện Long Thành
Nguyễn Thò Đáp
I./ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đạo đức và giáo dục đạo đức là một phạm trù xã hội, xuất hiện
khi có xã hội loài người, tồn tại và phát triển theo sự phát triển của xã
hội loài người. Đạo đức là một mặt quan trọng trong nhân cách của
mỗi con người, nói lên mối quan hệ giữa con người vớiï nhau trong xã
hội. Đạo đức là kết quảû của một quá trình giáo dục, là kết quả của sự
tu dưỡng, rèn luyện của bản thân.
Ngày 21 tháng10 năm 1964 Bác Hồ khi về thăm trường ĐHSP Hà
Nội, đã nói :“công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ
phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường
XHCN. Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là
đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng”. Nhiệm vụ của nhà
trường là phải làm sao tìm những biện pháp có hiệu quả trong công tác
giáo dục đạo đức cho học sinh.
Hội nghò lần II của BCH TW khoá VIII đã khẳng đònh “ Muốn
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển
mạnh, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững để thực hiện mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội

tâm lý, đặc biệt sự phát triển về “con người sinh lý” lại nhanh hơn “con
người xã hội” nếu không được giáo dục sẽ dẫn đến có những hành vi tự
phát thiếu văn hoá, phi đạo đức, do ý thức không kiềm chế được bản
năng. Vì vậy trong những năm gần đây có một số học sinh nữ phải bỏ
học vì có thai.
Hội nghò BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam lần II khoá VIII, khi
đánh giá về công tác giáo dục đào tạo trong thời gian qua đã nêu “Đặc
biệt đáng lo ngại trong một bộ phận học sinh, sinh viên có trình trạng
suy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu
hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”.
Trong những năm tới cần “tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư
tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghóa Mác Lê Nin…tổ chức cho học
sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp vớiï lứa
tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện.
Long Thành là một huyện của tỉnh Đồng Nai (có thể nói đây là
một trong những trung tâm văn hoá và giáo dục lớn của khu vực miền
Nam), cách TP.Hồ Chí Minh khoảng 60Km. Huyện Long Thành dễ
dàng và nhanh chóng tiếp thu ảnh hưởng những mặt tích cực cũng như
tiêu cực đã xảy ra trong cơ chế thò trường và quá trình hội nhập của
thành phố này đặc biệt là lối sống thành thò với những nhu cầu đời
sống vật chất và tinh thần rất cao. Những thực trạng trên đã, đang xảy

ra ở huyện Long Thành và có chiều hướng ngày càng gia tăng, vì vậy
các nhà quản lý giáo dục cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này đặc biệt
là việc nghiên cứu quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trên đòa bàn
huyện Long Thành. Cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu tổng
kết kinh nghiệm để rút ra những kết luận khoa học về việc nâng cao
hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT của Huyện Long

1. Một số cơ sở lý luận về việc quản lý giáo dục đạo đức cho học
sinh THPT .
2 .Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường
THPT Long thành .
• Thực trạng việc xây dựng và tổ chức chỉ đạo thực hiện
kế hoạch giáo dục đạo đức.
• Việc kiểm tra đánh giá công tác giáo dục đạo đức cho
học sinh .
• Một số vấn đề về hiệu quả giáo dục đạo đức cho học
sinh .
• Phân tích nguyên nhân của hiện trạng .
3. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh .

VI./ HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
:

1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu lý thuyết về giáo dục, giáo dục đạo đức , quản lý
gíáo dục, quản lý giáo dục đạo đức.
Nghiên cứu tài liệu về hoạt động của cán bộ quản lý, giáo viên
chủ nhiệm, Đoàn thanh niên, nghò quyết Chi Bộ. Phân tích tổng hợp,
phân loại, hệ thống hoá thông tin.
2 Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò : chúng tôi sử dụng 4
loại phiếu:
Xin ý kiến của 92 cha mẹ học sinh của 5 trường. Nội dung các
câu hỏi nhằm tìm hiểu về sự quan tâm của cha mẹ đến việc học tập và
giáo dục đạo đức con mình, sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường
trong việc giáo dục đạo đức .
Xin ý kiến của 95 giáo viên chủ nhiệm ở 5 trường. Nội dung các
CHƯƠNG I :
LỊCH SỬ VẤN ĐE
À

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát
triển theo sự phát triển của xã hội loài người. Việc giáo dục đạo đức
luôn là vấn đề được đặt ra từ xa xưa và luôn thay đổi theo sự thay đổi
của xã hội.
Việc giáo dục đạo đức của học sinh trong nhà trường được xem là
vấn đề quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân
cách cho học sinh, vì thế đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu,
nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm.

1/ Tác giả phương Đông :
Từ thời cổ đại : Khổng Tử (551-479-TCN )trong các tác phẩm:
“Dòch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo
đức.trong các lời giáo huấn của ông đều nhấn mạnh đến “lý” đó là
cách ứng xử thích hợp, đúng mức.
Ông khuyến khích việc thờ cúng tổ tiên coi đó là hình thức thể

Năm 938 dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập dân tộc, thống
nhất quốc gia xây dựng nhà nước phong kiến. Nền giáo dục phong kiến
do nhà nước chỉ đạo được hình và phát triển qua 10 thế kỷ. Căn bản là
giống nhau về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy và học.
Qua 1000 năm lòch sử nền giáo dục phong kiến coi trọng việc giáo
dục luân lý lễ nghóa góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã
hội.
Cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm chiếm nước ta nền giáo dục
phong kiến bò thay đổi toàn bộ. Hệ thống giáo dục nhà trường chú
trọng đến nội dung giảng dạy kiến thức khoa học thực nghiệm, thực
dụng nhằm đào tạo lớp người phục vụ cho lợi ích thực dân pháp cho
việc chinh phục thuộc đòa.
Sau CMT8(1945) và trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ:
+ 1950 TW Đảng và chính phủ quyết đònh tiến hành cải cách giáo
dục “nền giáo dục của dân, do dân, vì dân” thực hiện ba nguyên tắc
“Dân tộc, khoa học, đại chúng” với phương châm: “học đi đôi với
hành”, “lý luận gắn liền với thực tiễn”.
+ Mục tiêu nhà trường đào tạo người cán bộ vừa có tài vừa có
đức, Bác Hồ đã thường nhấn mạnh đến giá trò đạo đức cách mạng là

nhân, nghóa, trí, dũng, liêm, và cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô
tư…
Đến năm 1979 Bộ chính trò và TW Đảng CSVN đã ra nghò quyết
về cải cách giáo dục và UB cải cách giáo dục TW đã ra quyết đònh số
01 về cuộc vận động tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong
trường học, đã ghi rõ: “ Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học
sinh từ mẫu giáo đến đại học, nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ
dạy.
Tiếp sau đó đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề giáo dục

là nhiệm vụ và là mục tiêu cơ bản của sự nghiệp giáo dục đào tạo.
Giáo dục nhân cách mới mà thời đại mới yêu cầu là “ giáo dục cho học
sinh, sinh viên lòng yêu nước, yêu chủ nghóa xã hội, có bản lónh vững
vàng,tư duy sáng tạo, có năng lực thực hành, có khả năng thích ứng với
nền kinh tế nhiều thành phần”.
Ở Đồng Nai ngành giáo dục- đào tạo đã quan tâm và có nhiều
văn bản chỉ đạo về việc giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh
trong nhà trường và đã tổ chức nhiều chương trình hội thảo, toạ đàm
về công tác phòng chống tệ nạn xã hội và ma tuý xâm nhập học đường.
Tuy nhiên ở Tỉnh Đồng Nai nói chung và huyện Long Thành nói
riêng về lý luận và thực tiễn vấn đề này chưa được nghiên cứu một
cách có hệ thống. Vì vậy chúng tôi mong rằng với đề tài : “Một số biện
pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở
Huyện Long Thành” sẽ góp phần giúp cho các nhà QLGD các trường
THPT trên đòa bàn huyện Long Thành có thể tham khảo để nâng cao
hiệu quả việc giáo dục đạo đức cho học sinh .
Trạng thái mới của hệ thống được đặc trưng bởi các mục tiêu dự
kiến phát triển của nhà trường, tức là những mục tiêu quản lý của
người Hiệu trưởng. Mục tiêu đó được xác đònh căn cứ vào nhận thức
bản chất và quy luật phát triển của nhà trường phổ thông xã hội chủ
nghóa, vào hiện trạng nhà trường, hoàn cảnh chính trò kinh tế, xã hội
của đất nước, đòa phương.
Vậy các tác giả đều có sự thống nhất là :

Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
có liên quan mật thiết với nhau. Nếu không có tổ chức thì không biết
quản lý ai và ngược lại nếu không có quản lý thì tổ chức sẽ không tồn
tại và phát triển được.
Quản lý là hoạt động cần thiết trong mọi hoạt động của xã hội từ
thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp.
Quản lý bao gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho
những người khác thực hiện công việc nhằm đạt mục tiêu của tổ chức,
của nhóm đề ra.
Mục đích hay mục tiêu của hoạt động quản lý là do chủ thể quản
lý đề ra dựa vào mục đích hay mục tiêu chung của xã hội hay do sự
cam kết thoả thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Bên cạnh quản lý là lãnh đạo.Hai khái niệm này có gì giống và
khác nhau? Thực ra muốn lãnh đạo và quản lý người cán bộ phải nắm
được khách thể và tác động đến khách thể, chủ thể ra quyết đònh, điều
khiển khách thể trên cơ sở những đặc điểm, thuộc tính những quy luật
của khách thể nhằm thực hiện mục tiêu nhất đònh. Cán bộ lãnh đạo và
cán bộ quản lý đều phải tiến hành quá trình điều khiển.
Cán bộ lãnh đạo phải thực hiện một số chức năng quản lý và
ngược lại, cán bộ quản lý cũng phải thực hiện một số chức năng lãnh
đạo.
Tuy nhiên có một số khía cạnh cần phân biệt giữa lãnh đạo và

đường lối, nguyên lý chính sách chế độ, giáo dục…) con người(giáo
viên, cán bộ CNV và các hoạt động của họ …) quá trình giáo dục (diễn
ra trong không gian và thời gian) vật chất, tài chính (trường sở trang
thiết bò kỹ thuật phục vụ cho giáo dục, ngân sách, ngân quỹ…).
Chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý một cách có ý
thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra và chính các mục tiêu quản lý lại
tham gia vào sự quy đònh bản chất của quản lý giáo dục.
Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng
quản lý. Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những
năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 5 chức
năng cơ bản của quản lý là : kế hoạch hoá; tổ chức; kích thích ; kiểm
tra; điều phối (M.I Kondakov:Những cơ sở lý luận của KH QLGD-1982
- trg 146).
-Kế hoạch hoá: lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch.
-Tổ chức : tổ chức triển khai, tổ chức nhân sự, phân công trách
nhiệm.
-Kích thích: khuyến khích, tạo động cơ.
-Kiểm tra: kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích.

-Điều phối: phối hợp, điều chỉnh.
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá
trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp
quản lý và là cơ sở để phân công lao động quản lý.
Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có sự
tác động của người đến người, đó là sự tác động qua lại tạo thành một
loại quan hệ xã hội đặc biệt là quan hệ quản lý. Trong nhà trường xã
hội chủ nghóa quan hệ quản lý có những nét đặc trưng về mặt chính trò -
xã hội, biểu hiện bản chất ưu việt của chế độ quản lý trong xã hội chủ
nghóa : hợp tác tương trợ lẫn nhau giữa người quản lý và người được
quản lý là tính nồng hậu nhân đạo, dựa trên sự thống nhất về mục đích

Giáo dục có đặc trưng là tổ chức đònh hướng theo những mục đích
và chuẩn mực nhất đònh, được lựa chọn nội dung, phương pháp hình
thức tổ chức và diễn ra mang dấu ấn của từng thời kỳ lòch sử nhất đònh
trong quá trình phát triển của từng xã hội nhất đònh.
Vậy giáo dục là hoạt động có mục đích được tổ chức có kế hoạch,
được chọn lựa về nội dung, phương pháp thực hiện có hệ thống nhằm
tác động đến đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được
những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.
1.1. Các chức năng giáo dục trong xã hội hiện nay:
Giáo dục là một bộ phận của xã hội, luôn vận động và phát triển
trong mối quan hệ biện chứng với các lónh vực khác, góp phần thúc đẩy
sự phát triển nhiều mặt của xã hội. Điều này thể hiện qua các chức
năng xã hội của giáo dục.
1.1.1.Chức năng văn hoá xã hội:
Giáo dục là yếu tố trực tiếp quan trọng nhất quyết đònh sự phát
triển của cá nhân và xã hội vì:
Cá nhân mỗi người từ bé đến trưởng thành là quá trình phát triển
cả về cơ thể (mặt sinh học, tự nhiên) lẫn nhận thức (mặt xã hội). Quá
trình này chòu tác động của nhiều yếu tố trong đó giáo dục là yếu tố
làm cho quá trình phát triển diễn ra có hệ thống, nhanh chóng và hiệu
quả.
Sự phát triển về văn hoá, văn minh của loài người luôn gắn liền
với vai trò của giáo dục. Giáo dục là phương thức cơ bản để bảo tồn và
phát triển văn hoá nhân loại, tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hoá
giữa các thế hệ và giữa các nước…
Vậy giáo dục làm phát triển con người trong sự phát triển của xã
hội và phát triển con người để phát triển xã hội.
1.1.2.Chức năng kinh tế – sản xuất:
Giáo dục đào tạo giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ cho nền kinh tế – sản xuất.Giáo dục đào tạo chuẩn bò

mặt trận văn hoá xã hội”.
Ở nước ta, giáo dục phục vụ cho lợi ích của mọi tầng lớp nhân
dân trong đó có giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Tất cả các
đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước đều hướng tới
mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”. Nền giáo dục nước ta được tiến hành dưới sự lãnh đạo của

Đảng Cộng Sản Việt Nam, thực hiện một nền giáo dục thống nhất bình
đẳng tạo cơ hội và điều kiện cho tất cả mọi người đều được đi học, đều
được phát triển toàn diện về nhân cách của mình.
1.2. Con đường giáo dục :
Giáo dục được thực hiện chủ yếu qua hai con đường: hoạt động
dạy học trên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp. hai hoạt động này
có mối quan hệ biện chứng với nhau.
1.2.1. Giáo dục thực hiện qua các giờ dạy chính khoá trên lớp:
Nội dung các môn học văn hoá (tự nhiên và xã hội) giúp học sinh
phát triển cả về đức, trí, thể, mỹ, đặc biệt môn Văn, Sử, Giáo Dục
Công Dân có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học
sinh, giúp học sinh hiểu biết về pháp luật, hình thành ý thức cộng đồng.
Mặt khác qua nhân cách của thầy cô, (kiến thức chuyên môn, năng lực
sư phạm, tác phong lên lớp )sẽ để lại trong lòng học sinh những hình
ảnh đẹp của người thầy, và điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn trong việc
hình thành những tình cảm đạo đức cho học sinh.
1.2.2. Giáo dục qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Giáo dục qua lao động: Có hai hình thức lao động là lao động tự
phục vụ và lao động công ích. Qua lao động học sinh có điều kiện vận
dụng những điều đã học trên lớp (học đi đôi với hành) phát huy tinh
thần làm chủ tập thể,tính tự quản,giáo dục học sinh ý thức tổ chức kỷ
luật…
Giáo dục qua các hoạt động ngoại khoá : Như tham quan, du

nổ dân số, phòng chống AIDS, ma tuý, tội phạm,khủng bố. Gíao dục
đào tạo giữ vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức và tinh thần
trách nhiệm của các thế hệ hiện nay và mai sau trong việc cùng nhau
giải quyết những vấn đề chung đó.
Nghò quyết TW II khoá VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
nêu: “Giáo dục đào tạo nước ta còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy
mô, cơ cấu và nhất là về chất lượng hiệu quả”. Theo báo cáo chính trò
tại đại hội Đảng toàn quốc lần VIII và chiến lược phát triển kinh tế xã
hội 2001-2010 đã chỉ rõ quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục đào tạo
nước ta là : “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Xây dựng nền
giáo dục có tính nhân văn, dân tộc, khoa học, hiện đại, theo đònh hướng
XHCN, lấy CN Mác- Lênin và tư tưởng Hố Chí Minh làm nền tảng.
Giáo dục người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức sức
khoẻ và thẩm mỹ, phát triển được năng lực cá nhân, đào tạo những
người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghóa xã hội, có ý chí lập
thân lập nghiệp, có ý thức công dân góp phần làm cho dân giàu nước

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Để phát triển giáo dục đào tạo, cần đổi mới toàn diện về việc xác
đònh mục đích mục tiêu ở từng cấp học, bậc học, ngành học đến việc
đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, phương tiện và kiểm tra
đánh giá.
Ở bậc THPT không chỉ tập trung chuẩn bò cho học sinh về kiến
thức xã hội hiện đại mà cần phải quan tâm nhiều hơn đến việc rèn
luyện kỹ năng kỹ xảo cần thiết để học sinh có thể học lên, học suốt đời
và bước vào cuộc sống xã hội một cách tích cực, chú ý thực hiện có
hiệu quả việc giáo dục đạo đức, để hình thành nhân cách toàn diện
chuẩn bò cho xã hội người công dân tốt phù hợp với xu thế phát triển

cảm, niềm tin đạo đức, hành vi đạo đức, vận động trong mối quan hệ
biện chứng.
-Ý thức đạo đức: là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, lương
tâm trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh
giá,ù điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân
với cá nhân trong xã hội (9 trg triết học Mác-Lênin NXB CTQG).
- Ý thức đạo đức phản ảnh khả năng tự chủ của con người là sức
mạnh đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản quy đònh gương mặt đạo đức
của con người,cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con người. Với ý
nghóa đó, sự phát triển ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ xã
hội.
-Ý thức đạo đức bao gồm hệ thống tri thức về giá trò và đònh
hướng giá trò đạo đức, tình cảm và niềm tin đạo đức. Trong đó tình
cảm đạo đức là yếu tố quan trọng nhất là động lực thúc đẩy cá nhân,
thể hiện những ý thức đạo đức qua hành vi của mình.
-Sự biểu hiện của ý thức đạo đức bằng những hành động cụ thể
gọi là hành vi đạo đức. Hành vi đạo đức được thực hiện thường xuyên
trong cuộc sống hàng ngày sẽ trở thành những thói quen đạo đức.
- Tuy nhiên khi xem xét đạo đức không nên căn cứ vào kết quả
của hành vi mà phải lưu ý đến sự hiểu biết về những chuẩn mực đạo
đức và những động cơ cá nhân thể hiện qua hành vi đó.
- Các giá trò đạo đức trong xã hội chúng ta hiện nay là thể hiện sự
kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế
tiến bộ của thời đại, của nhân loại, đó là:
- Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trò là một nguyên tắc
đạo đức có ý nghóa chỉ đạo trong sự giáo dục và tự giáo dục của con
người hiện nay.
- Yêu nước, thống nhất với yêu quê hương và yêu chủ nghóa xã
hội, thực hiện nghóa vụ công dân, sống và làm việc theo hiến pháp


mỹ,thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp, giúp học sinh hình
thành và phát triển nhân cách toàn diện.
Quá trình giáo dục đạo đức giống như các quá trình giáo dục khác
là có sự tham gia của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục.

Chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh là :
Thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, và những lực lượng giáo dục trong xã
hội.
Học sinh là đối tượng của quá trình giáo dục, chòu tác động của
giáo viên và các lực lượng giáo dục khác. Học sinh còn là chủ thể tích
cực, tự giác tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và tham gia các hoạt động
giao lưu để thể hiện các giá trò đạo đức.
Mục đích của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là hình thành
những phẩm chất tốt đẹp trong nhân cách của học sinh.
Nội dung cơ bản của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT hiện
nay cũng chính là những phẩm chất đạo đức quan trọng của thế hệ trẻ
Việt Nam cần phải có : đó là lao động sáng tạo, yêu nước và yêu chủ
nghóa xã hội, yêu hoà bình, có tinh thần cộng đồng và quốc tế, có lòng
nhân ái xã hội chủ nghóa tinh thần đoàn kết, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau
có thái độ xây dựng và bảo vệ môi trường, có thái độ đúng đắn với tự
nhiên và bản thân.
Phương pháp giáo dục đào tạo cho học sinh gồm:
-Phương pháp tác động vào nhận thức tình cảm : đàm thoại, tranh
luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn.
-Phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn : giao việc, rèn luyện,
tập thói quen…
-Phương pháp kích thích tình cảm và hành vi: thi đua, nêu gương,
khen thưởng, trách phạt…
-Khi sử dụng các phương pháp trên nhà giáo dục cần lưu ý :
• Bảo đảm tính nguyên tắc quá trình giáo dục.

trình mà Bộ giáo dục đã quy đònh.
Phát triển tập thể sư phạm đủ và đồng bộ, nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, tư tưởng chính trò và phẩm chất đạo đức nghề
nghiệp.
Xây dựng sử dụng bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà
trường phát huy hiệu quả dạy và học và các hoạt động giáo dục khác.
Xây dựng và hoàn thiện tổ chức chính quyền và phối hợp giữa các
đoàn thể quần chúng trong trường.
Phát triển và hoàn thiện các mối quan hệ giữa giáo dục của gia
đình và xã hội để làm tốt công tác giáo dục trẻ.
Tổ chức thực hiện tốt công tác văn thư, tư liệu, kế toán, tài chính,
chấp hành nghiêm chỉnh các quy đònh của nhà nước-pháp luật và giáo
dục, thường xuyên cải tiến tổ chức trường học nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục và công tác khác,đảm bảo các nguyên tắc quản lý trường học.
Đảm bảo sự lãnh đạo chặt chẽ của các Cấp Uỷ Đảng và chính
quyền đòa phương của cấùp trên đối với hoạt động của nhà trường, giữ

mối quan hệ mật thiết với các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội ở đòa
phương và lôi cuốn các tổ chức đó tham gia vào sự nghiệp giáo dục học
sinh. Xây dựng hội cha mẹ học sinh, tạo mối quan hệ mật thiết với cha
mẹ học sinh nhằm góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh trong đó
có giáo dục đạo đức.
Các phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm,
thầy quản sinh, các tổ chức trong trường như Công đoàn, Đoàn thanh
niên cùng tham gia phối hợp và giúp Hiệu trưởng quản lý giáo dục đạo
đức cho học sinh.
Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trước hết thể hiện ơ ûcác
chức năng quản lý giáo dục : Kế hoạch hoá, tổ chức,chỉ đạo, kiểm tra
đánh giá.
3.1. Xây dựng kế hoạch :

hiện nay và xu thế giá trò đạo đức trên thế giới để xây dựng nội dung
giáo dục đạo đức cho học sinh.
Xác đònh điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời
gian,sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường.
Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức :
Kế hoạch phải thể hiện được tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ
thể và trọng tâm trong từng thời kỳ.
Kế hoạch phải phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt
yếu kém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng phát triển trong
việc hình thành đạo đức ở học sinh.
Kế hoạch phản ảnh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu,
nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian,hình thức tổ chức, biện
pháp, kiểm tra, đánh giá.
Kế hoạch thể hiện được sự phân cấp quản lý của Hiệu trưởng,
bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể.
Do đó việc xây dựng kế hoạch giáo dục nói chung và đặc biệt là
kế hoạch giáo dục đạo đức thì Hiệu trưởng cần quan tâm nhiều đến
hiệu quả xã hội và động lực mục tiêu của nhà trường, đưa ra tầm nhìn
mới và tuyên truyền để làm biến đổi nhận thức và hành động của các
thành viên trong nhà trường.
Bản kế hoạch được xây dựng xong vào tháng 7, tháng 8. Sau đó
pho åùbiến thảo luận đóng góp trong lãnh đạo, Chi bộ, Công đoàn, Đoàn
thanh niên, các tổ trưởng và sau đó phổ biến cho toàn thể cán bộ, giáo
viên, công nhân viên vào tháng 9 thông qua hội nghò Công nhân viên
chức.
Việc thành lập kế hoạch không đơn thuần là quá trình lý thuyết
(nằm trên bàn giấy )mà phải thực hiện. Do đó phải có yếu tố con người
tham gia vào.Vì vậy xây dựng kế hoạch không những được coi là quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status