BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ĐINH XUÂN THÔNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60 62 16
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN KHẮC THỜI
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
T¸c gi¶ luËn v¨n
Đinh Xuân Thông
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thời
giảng viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - người đã hướng dẫn, giúp đỡ rất
tận tình trong thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường
đã giảng dạy, đóng góp ý kiến, tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận
văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Kim Bảng, phòng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kim Bảng, Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND, cán bộ địa chính, các hộ gia đình thuộc
SDĐ : Sử dụng đất
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TDTT : Thể dục – Thể thao
TW : Trung ương
UBND : Uỷ ban nhân dân
VA : Giá trị gia tăng
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, trong sản xuất nông nghiệp,
ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, đất nông nghiệp là nguồn lực
quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn, có vị trí cố định trong không gian, không thể di
chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng
trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn, Đảng và Nhà đã có hàng
loạt chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề
lương thực của cả nước, điển hình là Luật đất đai năm 1993, Nghị định số 64/1993/CP
ngày 27/9/1993 của Chính phủ quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá
nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Với chính sách mới về
quyền sử dụng đất đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông
dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình - đó là động lực cho sự phát
triển vượt bậc của nền nông nghiệp sau giải phóng miền Nam. Sản xuất nông nghiệp từ tự
cung tự cấp sang đa dạng hàng hoá, hướng mạnh ra xuất khẩu. Một số hàng hoá nông
nghiệp đã vươn lên cạnh tranh mạnh và có vị thế trên thị trường thế giới, đem lại hiệu quả
kinh tế cho người nông dân như gạo, cà phê, hạt điều, cá, tôm.
Vai trò to lớn của việc giao chia ruộng đất cho hộ nông dân như đã nói trên là
không thể phủ nhận. Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, ngành
2
nên việc đầu tư
cho sản xuất bị hạn chế năng suất thấp, chí phí lao động cao vì vậy hiệu quả
không cao.
Năm 1999 Thường trực tỉnh ủy Hà Nam đã chỉ đạo làm điểm mô hình
chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp ở 3 xã thuộc 3 huyện trên địa bàn tỉnh.
Năm 2000 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Nam ban hành Chỉ thị số 15/TU ngày
04/5/2000 Về việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp nhằm khắc phục tình
trạng manh mún, phân tán ruộng đất; UBND tỉnh Hà Nam ban hành Kế hoạch
số 08/KH-UB ngày 10/5/2000 về tổ chức chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp
nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất. Sau hơn 1 năm
thực hiện việc dồn điền đổi thửa thì mỗi hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
tỉnh vẫn còn trung bình 3-4 thửa, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu
người thấp, trong khi số thửa ruộng vẫn còn nhiều như vậy nên dù ruộng đã
liền vùng, liền khoảnh nhưng số hộ có ruộng liền khoảnh rộng trên một mẫu
không nhiều. Sau khi có Chỉ thị số 15/TU ngày 04/5/2000 của Ban Thường vụ
tỉnh ủy về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh, trong
qúa trình dồn điền, đổi thửa cùng với việc mỗi hộ được dồn đổi theo quy định
thì các hộ đã chú ý đến việc tự dồn đổi cho nhau để những hộ mạnh dạn, có ý
chí, nghị lực, ham làm giàu đề nghị cấp có thẩm quyền cho phép chuyển đổi
sang làm mô hình kinh tế trang trại
Từ một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phân tán, thu nhập thấp, với
những giải pháp phù hợp, đến nay sản xuất trên địa bàn tỉnh dần hình thành
các vùng chuyên canh, thâm canh tập trung, số lượng, chất lượng sản phẩm
nông nghiệp từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa và xuất khẩu.
Năm 2010, giá trị thu nhập bình quân 1ha canh tác đạt gần 80 triệu đồng, đặc
biệt có mô hình đạt 100-120 triệu đồng/ha. Toàn tỉnh có trên 5.000 mô hình
trang trại, gia trại, trong đó có 250 trang trại đạt tiêu chí của Bộ Nông nghiệp
và PTNT và Tổng cục Thống kê. Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp
được đẩy mạnh, trong đó khâu làm đất đạt 90%, khâu vận chuyển đạt 90%.
nghiệp.
10
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Thông qua việc nghiên cứu và thực tiễn, xây dựng cơ sở lý luận
và hoàn thiện quy trình dồn điền đổi thửa phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp góp phần tích cực cho việc thực hiện xây dựng nông thôn mới.
- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua việc nghiên cứu đề tài và thực tiễn đề xuất các giải
pháp giúp hộ nông dân có hướng đầu tư thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo
hướng hàng hóa, cải tiến kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp, từng bước hình thành các mô hình sản xuất hàng hóa trên cơ sở tích tụ ruộng đất
nông nghiệp.
11
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam
1.1.1. Chính sách đất nông nghiệp trước thời kỳ đổi mới.
Quan hệ ruộng đất trước khi thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước:
Dưới chế độ phong kiến, ở Việt Nam, quan hệ sở hữu ruộng đất tồn tại dưới ba
hình thức: sở hữu nhà nước; sở hữu làng, xã; sở hữu tư nhân. Sở hữu dưới dạng đất công
của nhà nước quy định đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà vua, hoa lợi do đất đai này
mang lại chủ yếu dùng vào việc công như ban thưởng, lễ hội, công trình xây dựng, an ninh,
quốc phòng đất công của làng, xã gọi là sở hữu cộng đồng xuất hiện rất sớm ở Việt
Nam. Hình thức sở hữu này gắn liền với văn hóa làng, xã của Việt Nam, nhất là ở Đồng
bằng sông Hồng. Về mặt hình thức thì đất công của làng, xã vẫn thuộc quyền sở hữu của
Nhà nước nhưng quyền sử dụng hoàn toàn do làng, xã quy định. Việc sử dụng đất công của
làng, xã được thực hiện theo 2 cách: cho nông dân cấy rẽ hoặc sử dụng lao dịch của nông
dân thu hoa lợi trang trải cho việc công của làng, xã. Ruộng đất tư: Trong lịch sử nước ta
có hai thời kỳ ruộng đất tư khá phát triển là trước thế kỷ 14 và trong thế kỷ 17. Sở dĩ hai
thời kỳ này đất tư phát triển là do trước thế kỷ 14 tầng lớp quý tộc phong kiến đang hình
thành, còn trong thế kỷ 17, chiến tranh liên tiếp xẩy ra giữa các phe phái làm cho nhà nước
suy yếu đến mức không thể kiểm soát được phát triển của sở hữu tư nhân về ruộng đất.
1975 trong cả nước. Đến năm 1960, miền Bắc đã căn bản hoàn thành HTXNN bậc thấp, thu
hút 2,4 triệu hộ nông dân (85,8%), 76% diện tích đất nông nghiệp. Đến năm 1965 về cơ bản
miền Bắc đã đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể với 90,3% số hộ nông dân là xã viên
HTXNN. Do nóng vội nên mô hình HTXNN sử dụng đất kém hiệu quả, làm hao hụt hàng vạn
héc ta ruộng đất, năng suất lúa giảm, thu nhập của xã viên càng giảm thấp. Từ đó đòi hỏi Đảng
và Nhà nước ta phải cải cách các HTXNN, mà trước hết là chính sách ruộng đất trong các
HTXNN.
1.1.2. Chính sách đất nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới từ năm 1981 đến nay
- Chính sách khoán sản phẩm tới các hộ nông dân trong các HTXNN
Ngày 13 tháng 1 năm 1981 Đảng ra Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương về cải tiến
công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp.
Chủ trương đổi mới bắt đầu bằng việc trao quyền quản lý và sử dụng đất nông nghiệp cho các
hộ xã viên HTXNN. Khoán 100 đã tạo động lực khuyến khích lợi ích vật chất đối với người
nhận khoán, nông dân phấn khởi, đầu tư thêm công sức, tiền vốn, vật tư, áp dụng tiến bộ kỹ
thuật, tận dụng đất đai để phát triển sản xuất. Sau hơn 4 năm thi hành Chỉ thị 100, sản xuất
nông nghiệp đã có bước phát triển đáng kể. Trong 5 năm 1981-1985, sản lượng quy thóc tăng
27%, năng suất lúa tăng 23,8%, diện tích trồng cây công nghiệp hàng năm tăng 62,1%, tổng
sản phẩm nông nghiệp tăng 6%, thu nhập quốc dân trong nông nghiệp tăng 5,6% (Trần Thị
Minh Châu năm 2005).
Tuy nhiên sau một thời gian phát huy tác dụng là động lực thúc đẩy sản xuất, cơ
chế khoán theo Chỉ thị 100 đã bộc lộ những hạn chế. Cơ chế khoán 100 về cơ bản vẫn dựa
trên sở hữu tập thể, quản lý tập trung vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, xã viên chưa thực sự làm
chủ trong quá trình sản xuất vì tư liệu sản xuất, đặc biệt là đất đai vẫn do hợp tác xã quản
lý tập trung, thu nhập của nông dân từ kinh tế tập thể còn thấp, mức khoán không ổn
định
Nhằm khắc phục nhược điểm của khoán 100, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10-
NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp. Theo cơ chế khoán
10, ruộng đất được giao ổn định đến hộ xã viên trong khoảng 15 năm, sản lượng khoán ổn
định trong 5 năm, các hộ xã viên nhận khoán được hưởng khoảng 40% sản lượng khoán.
Tiếp theo đó Hội nghị TW 6 (khóa VI) đã ra Nghị quyết khẳng định hộ gia đình xã viên là
bản cho việc xây dựng chính sách đất nông nghiệp thích hợp với đường lối phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN trên các điểm sau: thừa nhận quyền tự do kinh doanh
trên đất của nông dân; quyền sử dụng đất có đủ điều kiện pháp lý trở thành hàng hóa; thiết
lập thể chế pháp lý cần thiết để đất nông nghiệp tham gia thị trường bất động sản; bảo hộ
thích đáng lợi ích của người sử dụng đất.
- Chính sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 và Luật Đất đai năm 2003
đều quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp được giao cho
các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức
kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có
quyền sử dụng đất đều được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Việc giao đất, cấp GCNQSDĐ
nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư
thâm canh trên diện tích đã được giao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để người sử dụng đất
thực hiện các quyền của họ mà pháp luật đã quy định.
- Chính sách tích tụ và tập trung ruộng đất nông nghiệp
Luật Đất đai năm 1993 cũng như các luật sửa đổi sau này mới chú trọng đến vấn
đề giao đất và tạo cơ sở pháp lý cho nông dân sử dụng đất để kinh doanh nông nghiệp mà
chưa chú trọng đúng mức đến việc tích tụ, tập trung đất cho sản xuất nông nghiệp theo quy
mô hiệu quả. Do diện tích đất nông nghiệp nước ta nhỏ, cách giao đất lại theo kiểu bình
quân, có tốt, có xấu, có gần, có xa dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp được phân chia rất
manh mún. Tình trạng các hộ chỉ có 0,2 - 0,3 ha đất canh tác nằm rải rác trên nhiều xứ
đồng vẫn rất phổ biến, nhất là ở Miền Bắc. Các quy định của Luật Đất đai về chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, đấu thầu đất là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện từng
bước cho tích tụ ruộng đất, nhưng chưa đủ để khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ. Do
đó “dồn điền đổi thửa” được coi là một trong những việc cần thiết của chính sách đất nông
nghiệp của Nhà nước ta trong một số năm gần đây.
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần
đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn.
Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn 1994-1999 và khoảng
4,6% trong giai đoạn 2000-2003. An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm
các đặc điểm sau:
- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng 0,25
ha/hộ).
- Số lượng các hộ có diện tích từ 1ha trở lên không đáng kể (chưa đầy 15%) đa số
có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha.
- Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm do mất đất nông
nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn.
Bảng 1.1 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%)
Loại quy mô hộ 2005 1994
So sánh
2005/1994
1. Hộ không sử dụng đất 4,16 1,15 3,01
2. Hộ có dưới 0,2 ha 25,15 26,59 - 1,44
3. Hộ có từ 0,2 ha đến dưới 0,5 ha 39,19 43,96 - 4,77
4. Hộ có từ 0,5 ha đến dưới 1 ha 16,42 16,23 0,19
5. Hộ có từ 1 ha đến dưới 3 ha 13,06 10,52 2,54
6. Hộ có từ 3 ha đến dưới 5 ha 1,57 0,98 0,59
7. Hộ có từ 5 ha đến dưới 10 ha 0,40 0,19 0,21
8. Hộ có từ 10 ha trở lên 0,05 0,02 0,03
15
(Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2006)
* Tình trạng manh mún về số ô thửa
Như đã nêu ở phần đặt vấn đề, tại thời điểm chia ruộng năm 1993 để đảm bảo công
bằng, các hộ nông dân được chia ruộng cao-thấp, xa-gần, tốt-xấu khiến ruộng đất bị phân
chia thành rất nhiều thửa loại, hạng đất khác nhau và manh mún rất cao. Tình trạng mang
mún ở ĐBSH cũng như các vùng kinh tế khác trong cả nước tập trung chủ yếu trên các loại
đất trồng cây hàng năm và mức độ manh mún thể hiện ở 2 mặt:
Diện tích/thửa: Với cây lúa, diện tích/thửa có thể diễn biến từ 200 đến 400 m
2
, với
Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân/thửa (m
2
)
Ít nhất
Nhiều
nhất
Trung
bình
Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình
1 Hải Phòng 5,0 18 6 - 8 20 - -
2 Hải Dương 9,0 17 11,0 10 - -
3 Vĩnh Phúc 7,1 47 9,0 10 5968 228
4 Nam Định 3,1 19 5,7 10 1000 288
5 Ninh Bình 3,3 24 8,0 5 3224 -
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2003)
Kết quả ở bảng 1.3 cho thấy mức độ manh mún ruộng đất thuộc một số tỉnh đồng
bằng sông Hồng rất khác nhau; ở các tỉnh đông dân, diện tích đất nông nghiệp ít thì mức
16
độ manh mún càng cao và đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng các loại
cây trồng.
17
b. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún
Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất là
sự phức tạp của địa hình đất đai ở mỗi địa phương trong ĐBSH; hầu như trong mỗi làng,
xã đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp. Đây chính là hệ quả của việc xây dựng đê
điều từ rất sớm trong đồng bằng.
Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con cái. Ở Việt
Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con sau khi ra ở riêng, vì thế
tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ.
Nguyên nhân thứ 3 là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ. Do quy mô sản
- Nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn, tính
trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4% - 4% đất canh tác dùng để đắp bờ vùng, bờ thửa.
- Khó khăn trong quản lý đất và không phù hợp với sản xuất hàng hoá
1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở nước ngoài
a. Ruộng đất ở một số nước châu Âu, châu Mỹ
Ở các nước Âu, Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ đô thị hóa
nhanh, nhu cầu lao động cho công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khích việc đẩy nhanh
tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chính sách và biện pháp cụ
thể nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trại lớn. Tuy nhiên, để tránh tích
tụ ruộng đất vượt hạn mức trong từng địa phương, một số nước như Anh, Pháp có biện
pháp quản lý thông qua Hội đồng quy hoạch đất đai của từng tỉnh, huyện, với Hội đồng
quản trị gồm những đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy
viên của Chính phủ (thuộc Bộ Nông nghiệp và Bộ Tài chính). Hội đồng này mua đất trên
thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân theo giá thị
trường.
Ở Pháp, tuy không đề ra các hạn mức cụ thể, nhưng để đề phòng tích tụ ruộng đất
quá mức, Nhà nước đã có biện pháp can thiệp vào thị trường ruộng đất, thông qua Hội
đồng quy hoạch ruộng đất địa phương để mua bán đất của nông dân, lập quỹ đất dự trữ,
điều tiết thị trường bất động sản.
Bảng 1.4. Tích tụ ruộng đất ở một số nước Âu, Mỹ
Tên nước
Quy mô trang trại (ha)
Năm 1950 Năm 1970 Năm 1990
Mỹ 86,00 151,00 185,00
Anh 36,00 55,00 75,00
Pháp 14,00 23,00 29,00
(Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam,1998)
Ở châu Âu và châu Mỹ, kể từ ngày sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại
thải, thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, năng suất lao động cao. Ví dụ ở Pháp năm
Quy mô trang trại (ha)
Năm 1950 Năm 1970 Năm 1990
Nhật Bản 0,80 1,10 1,40
Đài Loan 1,12 0,83 1,21
Hàn Quốc 0,86 0,94 1,20
Thái Lan 3,50 3,56 4,52
(Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam,1998)
Qua bảng 1.5 cho thấy: Các nước thuộc Châu Á bình quân ruộng đất thấp, quy mô
trang trại nhỏ nên việc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như các nước Âu, Mỹ. Ngay ở Nhật
Bản là một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tình
trạng như vậy.
20
Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, chủ trương hạn chế việc bán ruộng
đất đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất. Về sau đã thay đổi chủ trương này nhưng
việc tích tụ ruộng đất cũng chậm chạp. Tuy nhiên, họ có kinh nghiệm đáng quan tâm là hạn
chế việc chia nhỏ quy mô ruộng đất của các hộ nông dân. Một hộ có nhiều con, theo tập
quán chỉ có người con trai trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng và
chăm sóc cha mẹ, còn các con khác phải đi làm nghề khác, không chia ruộng cho tất cả các
con.
Ở Đài Loan, sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra. Lúc đầu
chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối
đồng đều ruộng đất cho nông dân. Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các
địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình
quy mô nhỏ. Năm 1953, ở Đài Loan đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là
1,29 ha/trang trại; đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ
còn 1,08 ha/trang trại. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau
này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài Loan
coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường nhưng
ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm
Chính sách tập trung hoá ruộng đất sản xuất phù hợp với phát triển nông nghiệp trong
thời kỳ chiến tranh.
Chính sách giao ruộng đất cho nông dân phù hợp với sản xuất nông nghiệp trong thời
kỳ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường.
Thực hiện Luật đất đai, hiện cả nước đang có tới 70 triệu thửa ruộng manh mún,
bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 0,7 ha đất canh tác, có tới 7-8 thửa, có hộ lên tới 48 – 50
thửa. Ruộng đất manh mún đã hạn chế việc áp dụng cơ giới hoá và ứng dụng khoa học kỹ
thuật mới vào sản xuất.
Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương lớn là thực hiện
đồn điển đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn” với mục đích là cho xuất
hiện những vùng chuyên canh lớn. Với Nghị quyết 6 của Bộ Chính trị (năm 1998), Nghị
quyết 03 của Chính phủ (năm 2000) kinh tế trang trại chính thức được công nhận như một
loại hình sản xuất của thời kỳ kinh tế thị trường. Kinh tế trang trại đã tập trung và tích tụ
ruộng đất với nhiều hình thức khác nhau để tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô
lớn. Đây là mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả trong cơ chế thị trường.
Nhờ có chính sách về đất đai, và các chính sách khác của nhà nước, nông nghiệp
đã có sự phát triển vượt bậc, không chỉ tăng so với các thời kỳ trước, mà quan trọng là
nhiều loại đã đủ dùng trong nước và xuất khẩu với khối lượng lớn (năm 2005 xuất khẩu
thuỷ sản đạt 2,73 tỷ USD, trên 5,25 triệu tấn gạo, 54,5 nghìn tấn lạc nhân, 892,4 nghìn tấn
cà phê nhân, 587,1 nghìn tấn cao su, 108,8 nghìn tấn hạt điều nhân, 235,5 triệu USD hàng
rau quả, 109 nghìn tấn hạt tiêu, 87,9 nghìn tấn chè ) và đứng thứ hạng cao trên thế giới
như gạo, cà phê, hạt tiêu, điều.
Xu hướng tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại ngày càng được mở rộng
với nhiều hình thức như: nhận chuyển nhượng đất, thuê đất, mượn đất, dồn đổi, tập trung
ruộng đất.
Tuy đạt được những thành tựu về tích tụ ruộng đất như trên, nhưng quá trình tích tụ
ruộng đất đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần được tháo gỡ về cơ chế chính sách như:
Chưa có quy hoạch về phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, theo hướng hiện
đại bền vững;
Mức hạn điền thấp, thời hạn sử dụng đất ngắn đã không khuyến khích nông dân
thửa hiện nay đã làm cho nhiều hộ nông dân mất đất, trắng tay. Vì vậy, một chính sách cần
thiết lúc này là làm sao để nông dân cho thuê đất chứ không bán đất. Doanh nghiệp đầu tư
xây dựng kênh mương, cây giống và tổ chức sản xuất, nông dân được thuê làm việc trên
chính thửa ruộng của mình. Vậy nông dân vẫn còn sổ đỏ, có thu nhập, có công việc; doanh
nghiệp có diện tích lớn sẽ sản xuất kinh doanh hiệu quả”. Và dù bán, hay thuê thì nguyên
Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn cũng cho rằng: “Việc tích tụ ruộng đất như thế nào là vấn
đề khó. Vì theo đặc điểm của người nông dân phương đông, ruộng đất đeo đuổi với họ như
hình với bóng”.
Nhìn vào khả năng thực hiện chủ trương tích tụ đất đai, TS. Đặng Kim Sơn đã phải
sử dụng rất nhiều chữ “nếu”: “Ở miền Nam, nếu thị trường phát triển tốt, luật pháp cho
phép nông dân tích tụ ruộng đất, giao quyền sử dụng đất lâu dài hơn hiện nay, thì khả năng
tích tụ là có. ở miền Bắc tình hình khó hơn khi lao động nông nghiệp rời khỏi nông thôn,
không bước được vào thị trường lao động chính thức. Họ làm nghề chạy xe ôm, cửu vạn,
giúp việc, thợ xây ở thành phố, tất cả những nghề đó không có hợp đồng, không có bảo
hiểm, bất kỳ lúc nào cũng có thể bị đuổi việc. Vì thế họ sống chết giữ mảnh đất đó để đề
phòng cơ nhỡ. Như thế, mảnh đất đó vừa không sinh lợi, lại không được tích tụ lại vào tay
người thật sự sản xuất. Chính vì thế, đối với miền Bắc, muốn xử lý thị trường đất đai thì
phải xử lý được thị trường lao động. Chừng nào, người nông dân đi được vào thị trường
lao động chính thức, thì chừng đó đất đai ở nông thôn mới tích tụ được, và việc dồn điền
đổi thửa mới thành công”. Trong quá trình sửa Luật Đất đai tới đây, nhiều người kỳ vọng
những vướng mắc về sử dụng đất sẽ được giải quyết về căn bản, giúp cho quá trình tích tụ
ruộng đất được thuận lợi.
- Tình hình thực hiện dồn đổi ruộng đất ở một số tỉnh trong nước.
Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình vào năm 1986. Mục tiêu của
chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá, tập
trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực nông
nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản. Nội dung chính
của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị
trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất
đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân. Chính sách mới này đã dẫn đến
hiện dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm. Trên thực tế ở những vùng
này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng. Ví dụ: Ở
tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 –
2001). Trung bình số thửa ruộng của một hộ đã giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa.
Trong các báo cáo gửi Chính phủ và UBND tỉnh, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền,
đổi thửa, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở
những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai.
Điều đó có nghĩa dồn điền, đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan
đến đất đai. Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự
nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn. Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá
trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình
này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất.
Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có
quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hoá sử dụng đất.
1.3. Hiệu quả sử dụng đất
Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm
mang lại.
Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được
biểu thị bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài
24
nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng cao của con người mà ta phải xem xét kết quả được
tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu
ích không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh
giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản
phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá
hiệu quả.
Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận điểm triết
học của Mác và những luận điểm lý thuyết hệ thống sau đây:
- Thứ nhất: Bản chất của hiệu quả là sự thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian, biểu hiện
trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội. Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy
- Một là: Mọi hoạt động sản xuất của con người đều tuân theo quy luật "tiết kiệm thời
gian".
- Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết hệ thống.
- Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và
lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu
được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối
25