Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau khi dồn điền đổi thửa huyện khoái châu, tỉnh hưng yên_luận văn thạc sĩ nông nghiệp - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

LÊ THỊ THÚY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆPHÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

LÊ THỊ THÚY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN KHẮC THỜI

HÀ NỘI, 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1. Mục đích
2.2. Yêu cầu
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 4
1.1.1. Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
1.1.2. Ý nghĩa của dồn điền đổi thửa
1.2 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam. .7
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1985
1.2.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1992
1.2.4. Giai đoạn từ Luật đất đai năm 1993 đến nay
1.3. Tổng quan về dồn điền đổi thửa 12
1.3.1. Vấn đề manh mún đất đai
iii
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.3.3. Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21
1.4.1. Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
1.4.2. Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
1.4.3. Nhóm các yếu tố tổ chức, kỹ thuật

3.2.2. Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn huyện Khoái Châu
3.3. Tình hình Dồn điền đổi thửa huyện Khoái Châu 43
3.3.1. Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
3.3.2. Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Khoái Châu
3.3.3. Kết quả thực hiện Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
3.4. Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa 3 xã nghiên cứu 50
3.5. Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến cơ cấu và hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp 53
3.5.1. Dồn điền đổi thửa tác động đến việc thay đổi của cơ cấu thu nhập
của hộ nông dân
3.5.2. Chuyển đổi ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi cơ
cấu sử dụng đất đai
3.5.3. Dồn điền đổi thửa đã làm tăng diện tích đất giao thông thuỷ lợi
3.5.4. Chuyển đổi ruộng đất tạo tạo tâm lý ổn định cho người nông dân
yên tâm đầu tư sản xuất
3.5.5. Chuyển đổi ruộng đất đã làm tăng diện tích đất nông nghiệp bình
quân trên khẩu
3.5.6. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên một héc ta đất sản xuất nông
nghiệp của 3 xã nghiên cứu trước và sau chuyển đổi ruộng đất
3.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
v
đến công tác quản lý về đất đai 63
Nguồn: Tác giả tổng hợp
3.7. Ý kiến người dân về chính sách dồn điền đổi thửa 64
3.8. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Khoái Châu 67
3.8.1. Những quan điểm chủ yếu
3.8.2. Những giải pháp trọng tâm
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

vii
viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Khoái Châu (%)
32
Biểu đồ 3.2. Cơ Cấu các loại đất năm 2012 huyện Khoái Châu
38

ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chú giải
DĐĐT Dồn điền đổi thửa
NN & PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
GCN Giấy chứng nhận
QSDĐ Quyền sử dụng đất
UBND Uỷ ban nhân dân
KHKT Khoa học kỹ thuật
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
CNXH Chủ nghĩa xã hội
WTO Tổ chức thương mại quốc tế
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GTSX Giá trị sản xuất
NTTS Nuôi trồng thủy sản
BVTV Bảo vệ thực vật
VAC Vườn - Ao - Chuồng
HTX Hợp tác xã
ĐVT Đơn vị tính
VNĐ Việt Nam đồng

trên là không thể phủ nhận. Song với bối cảnh hiện nay, đất nước đang
trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong môi trường
hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan
trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên
liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu. Nhưng trên
1
thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh thần của Nghị định 64/CP,
chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng xã hội, ruộng tốt cũng như ruộng
xấu, ruộng xa cũng như ruộng gần được chia đều tính trên nhân khẩu cho các gia
đình, dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán manh mún không đáp ứng được
nhu cầu phát triển của nền nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới.Sự manh mún
ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuất thấp, hạn chế khả
năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Ngoài ra,
tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong quản lý và sử
dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất.
Để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất như đã nói trên, thì việc
dồn đổi ruộng đất nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, liền khu, liền khoảnh là
việc làm hết sức cần thiết, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xây
dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào đồng ruộng, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, tạo điều kiện
cho các hộ nông dân yên tâm sử dụng và khai thác đất nông nghiệp lâu dài, có
hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về đất
đai.Từ đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ trương “ Dồn điền đổi thửa” để
việc sử dụng có hiệu quả hơn.
Với những lý do nêu trên, cùng sự đồng ý của khoa Tài Nguyên – Môi
Trường với sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Khắc Thời chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất sau khi đồn điền đổi thửa huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”.
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài


xuất nông nghiệp, cùng với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(QSDĐ) và các chính sách về nông nghiệp, nông thôn; người nông dân phấn
khởi thực sự đầu tư, khai thác sử dụng đất có hiệu quả, thúc đẩy nền sản xuất
nông, lâm nghiệp phát triển [3].
Trước thực trạng của việc giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài cũng như
những đòi hỏi, nhu cầu mới của cuộc sống kinh tế - xã hội, của việc sử dụng
đất vào mục đích sao cho có hiệu quả nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
tỉnh nói chung, cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Việc dồn
điền đổi thửa (DĐĐT) là một nhu cầu bức thiết nhằm các mục đích sau:
Thứ nhất, khắc phục những tồn tại và hạn chế của việc giao đất nông
nghiệp ổn định lâu dài theo đúng quy định của Luật đất đai năm 1993 và Nghị
định 64/NĐ-CP.
Thứ hai, lập quy hoạch sử dụng đất dành cho các nhu cầu nhất là nhu
cầu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch tạo tiền đề để đẩy mạnh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) nông nghiệp, nông thôn, từng bước
phân công lại lao động trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn chuyển dần
một bộ phận lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp (TTCN) và dịch vụ.
Thứ ba, từ việc dồn điền đổi thửa làm giảm chi phí sản xuất, tạo ra vùng
4
sản xuất tập trung, sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử
dụng đất. Song, trước tình hình mới, nhu cầu mới của sự nghiệp CNH - HĐH
của đất nước, vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp cũng bộc lộ những tồn tại,
những nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó là:
- Công tác quy hoạch lại đồng ruộng (giao thông, thuỷ lợi, cải tạo đất)
hạn chế, không thực hiện được toàn diện, triệt để. Người lao động ngại đầu tư
vào những mảnh ruộng nhỏ, xa, trên nhiều xứ đồng.
- Không khuyến khích người lao động đầu tư, thâm canh, chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến kỹ thuật chậm được áp dụng
vào đồng ruộng.

khác nhau, nên tốn rất nhiều công trong các khâu sản xuất:
- Quá trình DĐĐT tạo sự thay đổi lớn về số thửa và quy mô thửa của
mỗi hộ. Sự dồn đổi ruộng đất từ các ô thửa nhỏ thành những ô thửa lớn sẽ
thuận lợi hơn cho hộ trong khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch.
- Dồn đổi ruộng đất tạo điều kiện tăng đầu tư thâm canh, tăng năng suất
cây trồng và năng suất đất đai, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
bố trí cây trồng hợp lý và từng bước đưa cơ giới hoá vào sản xuất.
- Dồn đổi đất đai thành những thửa lớn sẽ làm giảm được công lao động
trong tất cả các khâu, tiết kiệm diện tích bờ thửa, thuận lợi trong việc tưới
tiêu, giúp chúng ta thiết kế lại hệ thống kênh mương, giao thông nội đồng
theo hướng kiên cố hoá. Về lâu dài việc dồn điền đổi thửa là tiền đề kích thích
quá trình tập trung ruộng đất nhằm tạo ra các tiểu trang trại, trang trại, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
- Ruộng đất có ô thửa lớn sẽ thuận tiện cho việc giải thửa và thể hiện
trên bản đồ địa chính làm cơ sở cho việc cấp chứng nhận QSDĐ lâu dài cho
hộ nông dân và việc theo dõi sau này.
- Từ việc dồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai thành những vùng cụ thể rõ
6
ràng, làm cho việc sử dụng quỹ đất công của địa phương hợp lý và hiệu quả
hơn, khắc phục được tình trạng quỹ đất công nằm xen kẽ, giải rác khắp nơi,
cản trở việc quản lý, sử dụng đất nông nghiệp [3].
1.2 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam
&'()*+,-)*+ 
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển kinh tế của Việt
Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai. Những mâu
thuẫn trong chính sách đất đai đã diễn ra trong suốt thời kỳ là thuộc địa của
thực dân Pháp; thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và các chính sách của Chính
phủ từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975.
Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: đất
sở hữu cộng đồng và đất tư hữu. Khu vực nông thôn được phân chia làm 2

kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế tập thể hoá trong nông nghiệp.
Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông
dân thiếu động lực làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất
thấp 2%. Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2 - 2,35 %/năm), đã
dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm
trong suốt thời kỳ sau chiến tranh. Điều đó đã dẫn đến một bộ phận lớn dân số
sống trong tình trạng đói nghèo [10].
Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp
bắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, hay còn gọi là
"Khoán 100". Dưới chính sách "Khoán 100", các HTX giao đất nông nghiệp
đến nhóm hộ nông dân và người lao động. Những người này có trách nhiệm
trong ba khâu của quá trình sản xuất. Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX,
cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất
ra và ngày công đóng góp trong quá trình sản xuất. Nhưng đất đai vẫn thuộc
sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX. Mặc dù còn đơn giản
8
nhưng Khoán 100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền
kinh tế thị trường. Sự ra đời của "Khoán 100" đã có những ảnh hưởng đáng kể
đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3 %/năm
trong suốt giai đoạn 1981 - 1985.
&'()*+0/)*++
Sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụ
thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn 1986 -
1988 chỉ là 2,2 %/năm. Đầu năm 1988, sản xuất lương thực không đáp ứng được
yêu cầu nên đã dẫn đến tình trạng thiếu ăn tại 21 tỉnh, thành ở Miền Bắc. Ở miền
Nam, một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là
mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai. Điều
này hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai.
Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp đã
được thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 28/03/1988 của

góp vốn đầu tư kinh doanh bằng quyền sử dụng đất [1].
Năm 2004, những sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1993
cho phép người sử dụng được tặng đất đai cho họ hàng, bạn bè của họ và được
đền bù nếu bị thu hồi. Sự bổ sung này cũng đưa ra một số các thay đổi liên
quan đến đất đai và thay đổi trong thủ tục đăng ký đất đai. Luật Đất đai mới ra
đời thay thế cho Luật Đất đai năm 1993 và các sửa đổi bổ, sung của Luật đất
đai được ban hành vào tháng 12 năm 2003 và có hiệu lực từ tháng 07 năm
2004. Đối với đất nông nghiệp không có sự thay đổi về thời hạn sử dụng và
diện tích hạn điền so với Luật Đất đai năm 1993. Tuy nhiên, lần đầu tiên đất
đai được chính thức xem như là “hàng hoá đặc biệt’ có giá trị và chính vì thế có
thể chuyển nhượng (thương mại). Luật Đất đai năm 2003, vẫn khẳng định “đất
đai là tài sản của Nhà nước” và cũng cho rằng cần có sự khuyến khích đối với
thị trường bất động sản bao gồm thị trường các quyền sử dụng đất đối với khu
10
vực thành thị. Cá nhân (người nông dân) và các tổ chức kinh tế được quyền
tham gia vào thị trường này. Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt
Nam từ năm 1993 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản
lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn. Tổng sản lượng nông
nghiệp tăng 6,7 %/năm trong suốt giai đoạn 1994 - 1999 và khoảng 4,6% trong
giai đoạn 2004- 2003. An ninh lương thực quốc gia không còn là vấn đề
nghiêm trọng nữa và đói nghèo đang từng bước được đẩy lùi [6].
Các chính sách đất đai liên quan đến việc giao đất và các quyền của
người sử dụng đất cho phép sự phát triển của thị trường đất đai. Điều đó đã
mang lại hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực trong điều kiện hiện nay.
Theo Luật pháp của nước ta thì: Đất đai là tài sản của toàn dân, Nhà nước
thống nhất quản lý với tư cách người đại diện. Luật Đất đai năm 2003 thừa
nhận rằng Chính phủ là “đại diện cho sở hữu toàn dân”. Chính vì đất đai
thuộc sở hữu toàn dân nên không thể chuyển quyền sở hữu cho từng cá nhân
(hay tổ chức) mặc dù cá nhân hay tổ chức đó (có thể là người nước ngoài -
Việt Kiều) có thể sở hữu hoặc chuyển nhượng tài sản trên đất, như nhà cửa

ở Việt Nam, cũng đang thực hiện chính sách này trong những năm gần
đây, dưới quan điểm kinh tế, nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các
nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất
đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành nghề
khác có hiệu quả hơn. Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích
khi ta giảm mức độ manh mún đất đai.
12
1.3.1.2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất
Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún
ruộng đất là sự phức tạp của địa hình đất đai ở mỗi địa phương, hầu như trong
mỗi xã đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp [2].
Nguyên nhân thứ hai, của tình trạng này là do cách tư duy lệch lạc về
“công bằng xã hội”, mà thực chất là do ảnh hưởng của tư tưởng tiểu nông “bình
quân chủ nghĩa”, do đó ruộng đất được xé nhỏ và phân đều cho các hộ [2].
Nguyên nhân thứ ba, là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con
cái. Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các
con sau khi ra ở riêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ
phát triển của nông hộ [2].
Nguyên nhân thứ tư, là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ. Do quy
mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên
quan đến ruộng đất [2].
Nguyên nhân thứ năm, là quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng giữa các
hộ dân được chia ruộng và các lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia
nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
- Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần - ruộng xa, ruộng tốt - ruộng xấu,
ruộng cao - ruộng thấp, thuận lợi - khó khăn, có như vậy mới thể hiện tính
công bằng xã hội.
- Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ.
- Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia
đều đất cho các hộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status