THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ TẠIKHU PHỐ 2, ĐƯỜNG KHA VẠN CÂN, PHƯỜNG LINH TRUNG, QUẬN THỦ ĐỨC,THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐAI HỌC KHXH&NV
BỘ MÔN: CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ TẠI
KHU PHỐ 2, ĐƯỜNG KHA VẠN CÂN, PHƯỜNG LINH TRUNG, QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GVHD: NGUYỄN THUỴ DIỄM HƯƠNG


PH ẦN I:

D ẪN NH ẬP

1. Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, đội ngũ giai cấp công nhân là lực
lượng chính tạo ra sản phẩm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn, Tổng biên tập tạp chí
Cộng sản : “Đội ngũ công nhân nước ta hiện nay có khoảng chín triệu người, chiếm 1/3 lực
lượng lao động toàn xã hội, hàng năm làm ra khối lượng sản phẩm chiêm hơn 1/2 tổng sản
phẩm quốc dân và đóng trên 60% ngân sách cả nước”.
Đội ngũ công nhân của ta ngày nay tập trung nhiều nơi đô thị. Thật vậy, quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự ra đời nhiều nhà máy, xí nghiệp đã thu hút hàng
ngàn người từ nông thôn ra thành phố để tìm kiếm việc làm, hình thành nên một lượng công
nhân đông đảo tại các thành phố lớn.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, trong những khu công nghiệp và khu chế xuất người ta
dễ dàng nhận ra một lực lượng lao động nông thôn rất lớn tuôn đến làm việc với mong muốn
cải thiện đời sống bản thân và gia đình ở quê nhà. Họ chịu thương, chịu khó, lao động vất vả,
ăn uống nhịn nhặt để dành dụm ki cóp từ đồng lương khiêm tốn. Trong cơn bão giá hiện nay

giúp cho cuộc sống của lao động nữ được cải thiện, được bình đẳng và hưởng các quyền lợi
công dân nhằm nâng cao khả năng đóng góp và vị thế xã hội của họ.
Bùi Thị Thanh Hà, “Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở
nước ta thời kỳ đổi mới”, NXB Khoa học xã hội, 2003. Cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu đội
ngũ giai cấp công nhân trong các doanh nghiệp liên doanh, mà cụ thể là ngành dệt may, giày
da thực phẩm trong thời kỳ đổi mới của nước ta. Cuốn sách tập trung nghiên cứu về các vấn
đề như cơ cấu công nhân, điều kiện làm việc, các mối quan hệ trong doanh nghiệp liên
doanh. Đồng thời, cũng có đề cập đến cơ hội thăng tiến nghề nghiệp đối với công nhân trong
doanh nghiệp liên doanh so với các doanh nghiệp khác.
Ngọc Nga, “ Cực lắm đời công nhân”, www.tuoitre.com. Bài viết đã cho chúng ta biết
nỗi cực nhọc của công nhân tại khu công nghiệp Mỹ Phước. Họ phải tăng ca rất nhiều, thậm
chí là làm thâu đêm, nhưng mức lương mà họ nhận được chỉ từ 1.200.000 đồng đến
1.600.000 đồng. Với mức lương đó, cuộc sống của công nhân hết sức chật vật trong điều kiện
giá cả ngày một tăng cao. Thêm vào đó, họ còn bị đối xử rất tệ, cụ thể phải làm việc dưới cơn
nắng.
Nguyễn Anh Tú, “Ăn ở, nghe xem đều thiếu thốn”, www.giaoduc.edu.vn, 10/01/2007.
Bài viết phản ánh cuộc sống của công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất: Tân Bình,
Tân Tạo…hết sức khó khăn và thiếu thốn. Họ phải sông trong những khu nhà trọ chật chội
và không đảm bảo vệ sinh. Ngoài ra, bài viết cũng đề cập tới vấn đề nhà ở do doanh nghiệp
xây dựng rất ít.
Mai Hạ, “Đời sống công nhân trước cơn bão giá”, www.quangngai.gov.vn. 21/3/2008.
Bài viết đã cho chúng ta biết cuộc sống vô cùng chật vật của công nhân tại các KCN Quảng
Phong, Tịnh Phong, KCN Phổ Phong tại tỉnh Quảng Ngãi trong “cơn bão” giá vừa qua. Thức
ăn của họ chẳng có gì khác ngoài mấy miếng đậu khuôn, cá kho mặn và rau muống xào…bởi


tiền lương quá thấp nên họ chẳng có tiền mà chăm lo cho sức khoẻ. Tìm cách cải thiện cuộc
sống vật chất của công nhân đang là một vấn đề đáng quam tâm tại tỉnh.
Dũng Hiếu, “Bức xúc đời sống công nhân”, Thời báo kinh tế Việt Nam. 25/10/2007.
Bài viết đã phản ánh điều kiện làm việc, điều kiện sống của công nhân tại các khu công

trình độ văn hoá

-

tình trạng hôn nhân

-

thời gian sống tại thành phố Hồ chí Minh

-

thu nhập bình quân mỗi tháng?

3.2.2. Đời sống vật chất của nữ công nhân nhập cư, trọ tại khu phố 2, Đường Kha Vạn
Cân, Phường Linh Trung, quận Thủ Đức như thế nào, theo các mặt sau
-

đặc điểm khu nhà trọ (diện tích phòng trọ, điều kiện vệ sinh, an ninh)

-

chế độ dinh dưỡng (tại cơ quan, tại phòng trọ)

-

chi tiêu hàng tháng (ăn uống, mua sắm…)

-


Để thu thập thông tin, chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu một số nữ công nhân đang
trọ tại khu phố 2, đường Kha Vạn Cân, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh. Thêm vào đó, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát tham gia thụ động để phản
ánh trung thực thực trạng đời sống của khách thể nghiên cứu. Phương pháp phân tích tư liệu
sẵn có cũng được vận dụng để củng cố kết quả của việc nghiên cứu
Phương pháp xử lý thông tin
Phương pháp xử lý thông tin của đề tài chủ yếu là phương pháp định tính thông qua
việc phân tích những tư liệu sẵn có và nội dung phỏng vấn sâu.


PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I. MỘT VÀI NÉT ĐẶC ĐIỂM CỦA NỮ CÔNG NHÂN TẠI KHU PHỐ 6,
ĐƯỜNG KHA VẠN CÂN
Khách thể nghiên cứu của đề tài là nữ công nhân trọ tại khu phố 2, đường Kha Vạn
Cân, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh với độ tuổi được các định
từ 14 tuổi đến 33 tuổi, hiện đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Mẫu điều
tra của đề tài bao gồm 9 đơn vị mẫu với các đặc điểm sau:
Về độ tuổi, tuổi lớn nhất làm 33 tuổi và tuổi nhỏ nhất là 14 tuổi. Con số cụ thể được
trình bày cụ thể trong bảng sau.
Bảng : Tuổi của nữ công nhân trọ tại đường Kha Vạn Cân.
Tuổi

Số lượng nữ công Tỷ lệ phần

14 tuổi
19 tuổi
21 tuổi
23 tuổi
25 tuổi
28 tuổi

cuộc sống.
Về tình trạng hôn nhân, chỉ có hai chị đã lập gia đình và đã có con (22.2%), các chị
còn lại chưa lập gia đình chiếm 77.7% trong số nữ công nhân nghiên cứu.
Về nguyên nhân các chị vào thành phổ Hồ Chí Minh để kiếm việc làm của các nữ
công nhân chủ yếu là do gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn, nghèo nên muốn vào thành phố
kiếm việc làm vừa để tự nuôi bản thân, vừa phụ giúp gia đình. Nguyên nhân này chiếm


66.6% trong tổng số các nguyên nhân. Ngoài ra, có 2 chị trả lời nguyên nhân vào thành phố
kiếm việc làm vì thấy bạn bè đi làm có tiền nên đi theo chiếm 22.2% trong tổng số các
nguyên nhân. Và có 1 chị trả lời nguyên nhân vào đây kiếm việc làm chỉ vì muốn sống tại
thành phố chiếm 11.1% trong tổng số các nguyên nhân.
Về thu nhập bình quân mỗi tháng, các chị thu nhập khoảng trên 1.000.000
đôngg/tháng. Cụ thể, có 4 chị thu nhập khoảng 1.200.000 đồng / tháng (44.4%); 2 chị thu
nhập trong khoảng 1.300.000 đồng tháng (22.2%); có 2 chị thu nhập trong khoảng 1.000.000
đồng/tháng (22.2%) và có 1 chị thu nhập trong khoảng 1.100.000 đồng tháng (11.1%). Với
mức thu nhập thấp, lại chi phí cho nhiều khoản nên đời sống của người công nhân hết sức
khó khăn và chất vật.
II. ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NỮ CÔNG NHÂN
Một thực trạng bất cập đang tồn tại khá phổ biến ở các thành phố lớn. Đó là đới sống
vật chất của người công nhân hết sức khó khăn và thiếu thốn. Điều kiện sinh hoạt, ăn ở của
họ rất khó khăn và tam bợ. Họ phần lớn phải sinh sống, ăn ở trong những căn phòng chật
hẹp, không đảm bảo vệ sinh.
1. Đặc điểm khu nhà trọ
Vấn đề nhà ở là vấn đề bức xúc hàng đầu của công nhân lao động nước ta trong các
khu lao động, các khu chế xuất ở các tỉnh thành phố công nghiệp tập trung. Phần lớn công
nhân phải tự đi thuê nhà di nguời dân địa phương xây dựng, rất chật hẹp, không đảm bảo an
toàn vệ sinh, phải chịu nhiều ô nhiễm, nhà vệ sinh, nhà tắm phải dung chung.
Đi một vòng quanh các dãy nhà trọ tại khu vực nghiên cứu, tôi thấy nhà trọ ở đây đã
được xây dựng từ rất lâu, diện tích phòng trọ rất nhỏ, hệ thống phòng vệ sinh không được

Hệ thống nhà vệ sinh tại dãy trọ này đã rất cũ, vả lại dùng chung nên thấy rất bất tiện
và mất vệ sinh. Cả dãy phòng trọ chỉ có sáu phòng tắm và ba phòng toalet . Chúng ta chỉ cần
làm một phép tính đơn giản cũng đủ để thấy nó bất tiện đến thế nào rồi. Cụ thể, cứ hai mươi
người ở dãy trọ này phải dùng chung một cái nhà tắm và bốn mươi lăm người sử dung một
cái toalet. Chúng ta hãy hình dung, vấn đề sẽ phức tạp đến cỡ nào nếu khi mọi người đi vệ
sinh đụng phải nhau.
Vào các ngày chủ nhật, ngày nghỉ, lúc mọi người đều đi làm về thì số lượng người lúc
này rất đông và việc sử dụng được phòng vệ sinh là rất khó, đế dùng được nó nhiều lúc phải
đợi đến khuya, phải rất vất vả mới đến lượt mình sử dụng.
Chị G là việc tại công ty Sung Hyun VN cho biết: “Tôi đi làm từ sáng đến tối,
khoảng tám chín giờ tôi mới về đến nhà, muốn tắm rửa sạch sẽ, rồi ăn cơm, tranh thủ đi ngủ
sớm mai còn đi làm tiếp.Nhưng khi nào tôi cũng phải đợi đến mười giờ mới tắm được, giặt
giũ, ăn cơm xong đến mười một giờ hơn mới đi ngủ đựợc”.
Còn đối với chị P nhiều lúc gặp phải hoàn cảnh rất khổ: “Bữa nào tăng ca về đến nhà
là tám giờ rưỡi, đợi mọi người tắm xong, đến lượt mình nhiều lúc bị cúp nước thì phải khuya
mới tắm được, có bữa đợi mãi không có, đành đi ngủ, sáng phải dạy sớm để tắm, rồi còn đi
làm”
Việc sử dụng phòng vệ sinh, họ cũng phải tranh thủ thời gian để được sử dụng nó:
“Nếu bữa nào ở nhà, phải tắm sớm, rồi mới đi làm việc khác, nếu có việc thì phải chấp nhận
tắm muộn. Nhưng ai cũng tranh thủ như mình nên nhiều lúc cũng phải đợi, nhưng nó vẫn
sớm hơn vào những ngày đi làm”.Ngoài ra, nhiều lúc họ cũng gặp phải hoàn cảnh trớ trêu


khi đi vệ sinh: “Có khi mình muốn đi vệ sinh, đụng phải có người nên phải chạy sang dãy trọ
đứa bạn đi nhờ”.
Có thể nói rằng, cuộc sống của người công nhân gặp khó khăn đủ thứ, ngay cả một
hoạt động rất thiết yếu đối với con người mà họ cũng phải tranh thủ thời gian, phải rất vất vả
mới sử dụng được chúng.
Nhà trọ là nơi để họ về nhà nghỉ ngơi sau một ngày làm việc cật lực trên xí nghiệp, lấy
lại sức lao động để ngày mai đi làm tiếp. Nhưng với điều kiện khó khăn, vất vả như thế thì họ


Ngoài ra, có xí nghiệp thức ăn cho công nhân không có đảm bảo, không có chất
lượng chút nào.
“ Có nhiều bữa ăn trứng mà đâu có nghe mùi trứng đâu. Hình như người ta bỏ thêm
bột vào quậy thì phải” (trích phỏng vấn sâu với chị M làm việc tại công ty Collan). Hay:
“Thức ăn công ty chán lắm, chỉ có vài cọng rau và một lát thịt mỏng dính, canh thì chẳng có
mùi vị gì” (trích phỏng vấn sâu chị L làm việc tại công ty Duy Hưng).
Thức ăn thì ít, lại chẳng có gì để ăn thêm. Bởi người công nhân không được phép đưa
thức ăn, nước uống vào công ty nên nhiều lúc người công nhân phải chịu đói để làm việc.
Đó quả thật là một nghịch lý.
Bên cạnh đó, thì thời gian nghỉ ngơi của công nhân cũng rất ít, chẳng đử để cho họ
kịp ngã lưng một chút. Thời gian nghỉ ngơi của họ chỉ là tranh thủ thời gian lúc ăn cơm.
“ Khoảng 11h30 đến 12h thiếu 15 ng đi ăn, đi lên đi xuống lầu rồi ăn cơm nữa, thời
gian nghỉ làm gì có bao nhiêu, v đặt lưng xuống thì đã nghe kẻng đi làm ca chiều”( trich
phỏng vấn sâu với chị L làm việc tại công ty Duy Hưng).
“Làm gì có thời gian nghỉ ngơi chứ, em chỉ tranh thủ thời gian ăn cơm để nghỉ mộtchút
cho đỡ mệt thôi”( trích phỏng vấn sâu với chị P làm việc tại công ty Liên Hiệp).
Cường độ làm việc lớn, thời gian lại nhiều với chế độ ăn uống, chế độ nghỉ ngơi như
vậy, người công nhân phải làm việc trong trạng thái uể oải, mệt mỏi và không hề thoải mái
chút nào.
Tại công ty thì vậy, còn về nhà chế độ ăn uống, nghỉ ngơi của công nhân cũng không
được đảm bảo chút nào. Cả ngày làm việc trên công ty đến tối mịt mới về nên người công
nhân cũng không có thời gian nhiều để nghỉ ngơi, bồi bổ sức khoẻ.
Thu nhập thấp lại phải chi phí cho nhiều khoản nên nhiều lúc thức ăn của người công
nhân hết sức đạm bạc. Được chứng kiến một bữa ăn ăn của công nhân đã làm tôi không khỏi
suy nghĩ. Một bữa ăn chỉ có một dĩa rau muống luộc và vài lát đậu phụ sốt cà chua cho bốn
người đang trong độ tuổi ăn nhiều. Nhìn bữa ăn mà không ai khỏi chạnh lòng.
Có bữa tăng ca đi làm về muộn, họ ăn uống hết sức qua loa.
“Bữa nào tăng ca, vừa mệt, vừa khuya. Tôi thường ăn gói mì tôm cho xong chuyện”
(trích phỏng vấn sâu với chị H làm việc tại công ty Thuỷ sản Hải Minh)

đó vẫn chưa cải thiện được đời sống của người công nhân là bao nhiêu. Trong khi đó, họ
phải chi tiêu nhiều khoản khác nhau. Với khoản thu nhập ít ỏi đó, họ chỉ đủ chi tiêu cho cuộc
sống, không còn tiền gữi về cho gia đình và để tích luỹ cho tương lai.
Công việc không ổn định làm cho thu nhập của công nhân thất thường, không đều đặn.
Đặc biệt vào những lúc thất nghiệp, không xin được việc làm khác thì họ chẳng có khoản thu
nhập nào nữa, buộc họ phải đi vay mượn bạn bè để chi tiêu cho cuộc sống hằng ngày. Nói
chung, dù có việc làm hay thất nghiệp thì cuộc sống của người công nhân vẫn còn bấp bênh
bởi tiền lương thấp trong khi đó họ phải chi tiêu cho nhiều khoản và giá cả ng ày c àng t ă
ng, kh ô ng h ề gi ảm đi ch út n ào.
Chị L làm việc tại công ty may Duy Hưng nói:“Trước đây, tôi làm ở công ty Hải Minh,
công việc thì thất thường lắm, có ngày thì làm từ sáng đến tối, có ngày lên đến công ty rồi
quay về, cả tháng làm chẳng được bao nhiêu ngày. Cuối tháng nhận lương chẳng được bao
nhiêu cả, khoảng tám trăm đến chín trăm, không nhớ rõ”
Có thể nói, nếu thất nghiệp thì đó cả là một vấn đề lớn đối với công nhân bởi tiền chi
tiêu các khoản của họ chỉ dựa vào đồng lương. Đi làm vất vả, thu nhập thấp, nhưng họ vẫn
chấp nhận bởi dù sao thì vẫn có tiền tốt hơn nhiều lần nếu không có đồng tiền nào cả.


“Cả tháng nay, tôi phải cố gắng làm tăng ca và vào ngày chủ nhật vì đứa em đã thất
nghiệp gần một tháng rồi. Nhưng vẫn không đủ chi tiêu, hai chị em phải ăn uống tiết kiệm.
Tuần vừa rồi, có tiệc cưới, tôi cũng phải ở nhà, tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó”. Chị
G làm việc tại công ty Sung Hyun buồn bã nói.
Thu nhập thấp, chi phí sinh hoạt cao, lại còn nhiều khoản phải chi tiêu. Buộc họ phải
chi tiêu tiết kiệm đến mức thấp nhất và phải làm ngày, làm đêm, chấp nhận tăng ca và nhận
hàng về nhà làm đêm.
Thực tế, với khoản thu nhập ít ỏi hàng tháng, người công nhân chỉ đủ ăn và để dành
chút ít mua sắm quần áo và tiêu vặt, nếu có tiết kiệm thì cũng chỉ tháng trên dưới 100.000
đồng.
Qua trao đổi với công nhân, tôi thấy bài toán mà người công nhân đã giải từ nguồn thu
nhập rất khiêm tốn của họ là: Lấy thu nhập bình quân hàng tháng là 1.200.000 đồng, trừ tiền

nguyên nhân duy nhất là sợ tốn tiền.
Chị P làm việc tại công ty Liên Hiệp cho biết: “Chỉ khi nào công ty tổ chức ca nhạc
thì mới đi, không thì thôi, đi tốn tiền quá”.
Thu nhập thấp, trong khi đó, thời gian lao động, cường độ lao động quá lớn, tăng ca
liên tục trong các nhà máy, xí nghiệp đã ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ của người công
nhân. làm họ phải tiêu tốn một khoản tiền không nhỏ để khám và chữa bệnh.
Là lực lượng có vao trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nhưng nhìn vào mức thu nhập, cách chi tiêu của họ. Rõ rằng là họ đang chịu nhiều thiệt thòi
lớn. Nhà nước ta chưa thật sự quan tâm đến họ, chưa tạo mọi điều kiện để họ phát huy hết vai
trò và vị trí của giai cấp mình trong giai đoạn đổi mới hiện nay.
4.

Sức khoẻ

Cường độ làm việc lớn, thời gian lao động thì nhiều đã ảnh hưởng rất nhiều đến sức
khoẻ của công nhân, đặc biệt công nhân nữ. Trong và sau làm việc, họ đã mắc một số bệnh
nghề nghiệp như đau đầu, đau lưng, đau bao tử.
Đúng như vậy, qua hỏi ý kiến một số công nhân nữ tro tại địa bà nghiên cứu thi nhận
định trên là đúng.
Chị M làm việc tại công ty Collan cho biết: “Đi làm đau lưng lắm, mệt mỏi lắm.
Ngồi cả ngày tứ sáng đến tối nhiều lúc nó cứng lưng luôn ấy”.
Còn chị H làm việc tại công ty Thuỷ sản Hải Minh thì lại mắc bệnh khác “Làm việc
tại công ty thi đứng cả ngày, mỏi chân lắm, muốn nghĩ cũng không được vì quản đốc sẽ nói
và không kịp hàng”.
Ngoài ra, đau đầu là bệnh mà phần lớn công nhân mắc phải vì phải đi làm cả ngày lại
tăng ca nữa nên thấy căng thẳng rất nhiều.
Thêm vào đó, họ còn bị giảm cân khi một thời gian đi làm công nhân. Vì điều kiện
ăn uống thiếu thốn, không đầy đủ chất dinh dưỡng, lại đi làm nhiều.
“Trước đây, tôi 48 ký nhưng bây giờ chỉ còn 44 ký”. Chị P làm việc tại xí nghiệp
Phương Nam cho biết.

4. Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau đây:
a) Đang hưởng lương hưu;
b) Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng;
c) Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;
5. Uỷ quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội;
6. Yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin quy định tại điểm h khoản 1
Điều 18; yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin quy định tại khoản 11 Điều 20
của Luật này;
7. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;
8. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Đ iề u 16. Trách nhiệm của người lao động


1. Người lao động có các trách nhiệm sau đây:
a) Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này;
b) Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội;
c) Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định;
d) Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
2. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động tham gia
bảo hiểm thất nghiệp còn có các trách nhiệm sau đây:
a) Đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;
b) Thông báo hằng tháng với tổ chức bảo hiểm xã hội về việc tìm kiếm việc làm trong
thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp;
c) Nhận việc làm hoặc tham gia khoá học nghề phù hợp khi tổ chức bảo hiểm xã hội
giới thiệu.
Chế độ hưởng ốm đau của người lao động được quy định trong chương III, mục I:
Chế độ ốm đau. Bao gồm điều 23, điều 24, điều 25 và điều 26.
Đ iề u 23. Thời gian hưởng chế độ ốm đau
1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy
định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật này tính theo ngày làm việc không kể

c) Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước
khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm.
3. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật
này thì mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước
khi nghỉ việc.
4. Mức hưởng chế độ ốm đau tính theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu thấp hơn
mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung.
Đ iề u 26. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau
1. Người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 23 của
Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến
mười ngày trong một năm.
2. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức,
phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức,
phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.
Ngoài ra, chế độ thai sản đối với công nhân cũng được quy định rõ ràng trong chương
III, mục II: Chế độ thai sản. Bao gồm từ điều 28 đến điều 27.
Về chế độ tiền lương của người lao động được Đảng và Nhà nước quy định rõ ở
Thông tư số 08/2006/TT-BLĐTBXH ngày 27 tháng 7 năm 2006 như sau:
Về chế độ tiền lương và phụ cấp lương:
a) Lương tối thiểu:


- Thời gian trước ngày 01 tháng 10 năm 2005, áp dụng mức lương tối thiểu chung 290.000
đồng/tháng quy định tại Nghị định số 203/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004.
- Từ ngày 01/10/2005 trở về sau, áp dụng mức lương tối thiểu 350.000 đồng/tháng quy định
tại Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005.
b) Lương cấp bậc công việc:
- Cấp bậc công việc: xác định theo từng công việc cụ thể theo định mức dự toán xây dựng cơ
bản của Bộ Xây dựng ban hành;
- Lương cấp bậc công việc: được tính theo hệ số lương tương ứng cấp bậc công việc của từng

Trong thời gian làm đề tài nghiên cứu, nhờ được sự hướng dẫn tận tình của Cô Diễm
Hương đã giúp tôi sớm hoàn thành đề tài này.
Vì đây là đề tài đã được tôi mong muốn làm từ lâu nên tạo cho tôi có một động lực để
thực hiện nó.
Vì địa bàn nghiên cứu gần với chỗ trọ nên mất ít thời gian để đi thu thập thông tin.
Vấn đề người công nhân mà đặc biệt là về đới sống vật chất của họ đã được nhiều công
trình nghiên cứu và phương tiện thông tin đại chung nói đến nên đã tạo thuận lợi cho tôi khi
nghiên cứu.
KHÓ KHĂN.
Vì là năm nhất, chưa được học về làm đề tài nghiên cứu nên tôi gặp rất nhiều khó
khăn trong việc thực hiện đề tài.
Chưa có kinh nghiệm đi phỏng vấn đối với khách thể nghiên cứu, nhiều lúc có bối
rối, lo sợ khi đứng trước người ta.
Cũng vì chưa có kinh nghiệm khi tiếp cận với người ta nên việc thu thập thông tin
phải mất nhiều thời gian.


PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ NHỮNG SUY NGHĨ MANG
TÍNH ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN.
Công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước phụ thuộc rất lớn vào sự lớn mạnh của của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân có
thật sự phát triển mạnh, có đầy đủ tính chất thì mới đáp ứng được nhu cấu phát triển của quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nền kinh tế mới phát triển bền vững.
Giai cấp công nhân nước ta bên cạnh những ưu thế như cần cù, chăm chỉ, chịu khó thì
còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế: trình độ học vấn chưa cao, trình độ chuyên môn nghề
nghiệp thấp; thiếu tác phong công nghiệp; chưa được đào tạo một cách có hệ thống và cơ
bản…
Trong công cuộc đổi mới kinh tế, giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử to
lớn, là lực lượng tiên phong, đi đầu . Để giai cấp công nhân phát huy được vai trò, vị trí và sứ

Nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa đến việc thực hiện các chính sách xã hội đối với
người lao động như: tiền lương, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…. Nhà nước cần đáp
ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu và điều kiện thiết yếu cho người công nhân, lao động.
Sớm hoàn thiện chính sách nhà ở và chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nhà ở
cho công nhân nhằm giúp họ ổn định về chỗ ở, yên tâm làm việc. Kêu gọi các doanh nghiệp
xây dựng nhà ở cho công nhân, quan tâm đến đời sống cho công nhân, tạo mọi điều kiện để
công nhân phát huy mọi tiềm năng của mình.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các xi nghiệp, có biện pháp chế tài đối
với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào vi phạm luật lao động thì phải xử lý nghiêm, khen
thưởng đối với các doanh nghiệp thực hiện theo quy định. Đồng thời tạo mọi điều kiện để
cho các doanh nghiệp phát triển.
Về phía doanh nghiệp
Cần phải thực hiện đúng theo các quy định của Luật lao động.
Cần quâm tâm đến đới sống vật chất cũng như tinh thần cho người công nhân. Như chú
trọng kế hoạch xây dựng nhà ở cho công nhân; thường xuyên cải thiện chế độ ăn uống cho
công nhân; hỗ trợ đối với công nhân gặp phải hoàn cảnh khó khăn đột xuất; thăm hỏi sức
khoẻ công nhân vào những dịp lễ, khi ốm đau; tổ chức kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho công
nhân, ít nhất 2 lần/ năm; tỗ chức các buổi ca nhạc miẽn phí cho công nhân; quan tâm và giúp
đỡ đến các công nhân có đời sống khó khăn đặc biệt.
Xí nghiệp cần phải tạo mọi điều kiện cho hoạt động Công đoàn tại xí nghiệp phát triển.
Tạo điều kiện cho các cán bộ công đoàn tập huấn về kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao trình độ.
Cần phải đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất làm cho hoạt động đoàn được phát triển mạnh.
Thông qua Công đoàn, chúng ta có thể tổ chức các hoạt động chăm lo đến đời sống công
nhân, tổ chức tuyên truyền các hoạt động giáo dục.
Quam tâm và đẩy mạnh các hoạt động giáo dục như về pháp luật lao động, kiến thức
cho công nhân. Thông qua các hình thức như biên soạn các tài liệu tuyên truyền phổ biến( tờ
rơi, tờ gấp..)
Xí nghiệp tạo mọi điều kiện cho công nhân học hỏi, nâng cao tay nghề, trình độ học
vấn … Tạo một môi trường làm việc thông thoáng cho công nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status