TIỂU LUẬN kỹ NĂNG tư DUY KHOA học và LOGIC - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-----------oOo-----------

TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI :

KỸ NĂNG TƯ DUY KHOA HỌC VÀ LOGIC
(SCIENTIFIC AND LOGIC SKILLS)
GVHD: Nguyễn Vương Chí

Lê Huỳnh Hải
MSSV: 1510911
Số điện thoại : 01628296959
Email :

TP HCM, Tháng 11/2015
1


1-Tư duy khoa học

Tư duy khoa học là giai đoạn cao, trình độ cao của quá trình nhận thức, được
thực hiện thông qua một hệ thống các thao tác tư duy nhất định trong đầu óc của
các nhà khoa học (hoặc những người đang sử dụng các tri thức khoa học và vận
2


dụng đúng đắn những yêu cầu của tư duy khoa học) với sự giúp đỡ của một hệ
thống “công cụ" tư duy khoa học (như các ngôn ngữ và hình thức của tư duy
khoa học) nhằm "nhào nặn các tri thức tiền đề, xây dựng thành những tri thức
khoa học mới, dưới dạng những khái niệm, phán đoán, suy luận mới hoặc giả



Tư duy khoa học hiện đại
Như trên đã nói, một số ngành khoa học phi cổ điển đầu tiên đã ra đời từ cuối
thế kỷ XIX, song khoa học hiện đại chỉ thực sự ra đời khi xuất hiện cuộc cách
mạng vĩ đại trong khoa học tự nhiên đầu thế kỷ XX, mở đầu là thuyết lượng tử
của Plank (1900) đến thuyết tương đối của Anhxtanh (1879-1955) và đặc biệt là
cơ học lượng tử được xây dựng bởi Bohn, Heisenberg và nhiều người khác,
trong những năm 20. Các lý thuyết khoa học vĩ đại này đã làm thay đồi căn bản
lối suy nghĩ về tự nhiên, hình thành nên một phong cách tư duy khoa học mới,
khác hẳn phong cách tư duy khoa học cổ điển, và thường được gọi là phong
cách tư duy khoa học phi cổ điển. Phong cách này ngày càng được định hình rõ
nét và ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các ngành khoa học. Ngày nay, nó được
gọi là phong cách tư duy khoa học hiện đại.
Khái niệm phong cách tư duy khoa học được Pauli và Bohr đề xướng vào những
năm 50 khi họ gọi "phong cách của sự suy nghĩ vật lý... là những đặc điểm
tương đối ổn định của các lý thuyết vật lý quyết định hoặc ít ra là giới hạn những
dự báo khả dĩ về tương lai phát triển của vật lý học". Nếu xem xét những thay
đổi cơ bản nhất trong phong cách tư duy vật lý thì chắc là chúng trùng với những
thay đổi trong tư duy khoa học. Cho nên có thể coi định nghĩa nói trên là một
định nghĩa khái quát về phong cách tư duy khoa học nói chung.
Phong cách tư duy khoa học phi cổ điển hay phong cách tư duy khoa học hiện
đại không chỉ là sự phủ định đơn thuần phong cách tư duy khoa học cổ điển, mà
6


chủ yếu là sự vượt qua những hạn chế của nó bằng những con đường mới,
phương pháp mới về nguyên tắc, để tiếp cận những khách thể mới thuộc một
cấp bản chất sâu sắc hơn của hiện thực khách quan. Cho nên có thể nói "thực
chất của tư duy khoa học hiện đại là sự thống nhất của tư duy chính xác và tư

khoa học hiện đại và nói chung là toàn bộ tư duy khoa học hiện đại luôn luôn
được đổi mới, được bổ sung, chính xác hóa và đầy đủ thêm mãi.
7


Thứ hai, ngày nay người ta thường nói về phong cách tư duy xác suất, một
phong cách tư duy không chỉ thịnh hành trong vật lý học mà còn thịnh hành trong
hầu hết các khoa học, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội - nhân văn...
Bởi vì, khoa học ngày nay đã tiến sâu vào một thế giới mới. Đó là thế giới vi mô
và siêu vi mô của các hạt cơ bản, thế giới vĩ mô của vũ trụ bao la với vô vàn
những trạng thái kỳ lạ của các sao, các thiên hà, siêu thiên hà, hoặc các đối
tượng tiền thiên hà, thế giới của các cấu trúc siêu tế bào hoặc các quần tụ sinh
vật, thế giới của các biến có tinh tế đầy biến động trong nền kinh tế thị trường
hiện đại... Trong thế giới đầy biến động của các biến cố này, chỉ có các quan hệ
xác suất của các biến cố là được xác định (đó là các quy luật thống kê), chứ
không phải các biến cố được xác định. Như vậy, tư duy khoa học ngày nay đã
tiến vào một tầng sửa mới của bản chất sụ vật, ở đó ngự trị các quy luật thống
kê - xác suất, biểu hiện bản chất "phi tuyến” của toàn bộ thế giới, từ đó đã "hình
thành một hệ thống mới các quan niệm khoa họe được diễn đạt nhờ những khái
niệm như tính phi tuyến, tính tự tổ chức, tính phức tạp, tính không đều, tính tự
phát, tính đa cấp độ tính hướng đích, tính toàn cầu…”
Phong cách tư duy xác suất còn thể hiện trong các xu hướng phát triển không
đơn trị, cũng như trong tính bất định của hiệu quả các nghiên cứu khoa học, nhất
là khoa học cơ bản. Tuy nhiên, tính bất định không có nghĩa là tính kém chính
xác của tư duy, trái lại, nó làm cho tư duy khoa học hiện đại nhận thức sự vật
chính xác hơn, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn rất nhiều. Ví dụ, "từ lý luận mờ” (Fuzzy
logic) con người đã sáng chế ra “hệ thống mờ” (Fuzzy system) để đạt được mức
chính xác theo ý muốn trong các kỹ thuật mới”.
Thứ ba, phong cách tư duy khoa học phi cổ điển còn thể hiện trong tính khác
thường, tính "nghịch lý" của cách suy nghĩ mới, quan niệm mới. "Sự phát triển

giúp tư duy khoa học tìm ra những ý niệm và luận đề khoa học mới.
Ngày nay, chính quá trình đi sâu hơn vào những mức độ cấu trúc ngày càng tinh
vi, phức tạp hơn của thế giới vật chất, mà toán học hoá đã trở thành một yêu cầu
tất yếu và trực tiếp đối với mọi ngành khoa học và ngày càng được tăng cường
từ hai phía: do những đòi hỏi của chính các quá trình nghiên cứu và do có được
những phương tiện tính toán và đo đạc mới, đặc biệt là các máy tính điện tử
những thế hệ mới. Ngày nay, mối liên hệ biện chứng giữa các phương pháp định
tính và định lượng trong nhận thức khoa học được thề hiện ngày càng chặt chẽ
do sự hiểu biết sâu sắc hơn những đặc điểm định tính của các quá trình đòi hỏi
phải thu hút những phương pháp phân tích định lượng, toán học tinh vi hơn, sâu
sắc hơn.
Thứ sáu, một khía cạnh khác cũng rất đặc trưng của tư duy khoa học hiện đại là
tính dự báo khoa học. Chính tính chưa đóng kín, tính khác thường, tính không
đơn trị, tốc độ đồi mới nhanh chóng và tiềm lực khổng lồ của tư duy khoa học
hiện đại đã đòi hỏi phản tư khoa học phải được nâng lên một trình độ mới, trong
đó "dự báo khoa học là thành phần "đang thể hiện" này của khoa học so với các
kiến thức khẳng định và thành phần "đang đáp ứng" cũng quan trọng không
kém". Sự phát triển của dự báo khoa học ngày càng trở thành một đặc trưng tất
yếu, một thành phần hữu cơ của tư duy khoa học hiện đại. Trong thời đại của
chúng ta, dự báo khoa học đóng vai trò giống như tiếp tuyến của đường cong tại
mỗi điểm, xác định hướng của đường cong tại điểm đó. Nó không có tham vọng
đóng vai trò như những lời tiên tri, tại thời điểm sau, đường cong sẽ thay đổi đổi
hướng và hướng này sẽ không trùng với tiếp tuyến nào trong số những tiếp
tuyến mà chúng ta vừa dựng trong thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, thiếu những dự
báo sẽ không thể phán quyết các khuynh hướng hiện đại của khoa học, cũng
giống như không thể thảo luận hướng của đường cong nếu không dựng các tiếp
10


tuyến mà mỗi tiếp tuyến ấy đều không có xu hướng nhận một đặc tính đơn trị".



Thời kỳ thứ hai, bắt đầu từ những năm 50, tức là bắt đầu cuộc cách mạng khoa
học - kỹ thuật. Trong thời kỳ này phong cách phi cổ điển được tăng cường đậm
nét các ngành khoa học đã kể trên và lan mạnh sang hầu hết các ngành khoa
học còn lại như: thiên văn học, vũ trụ học, sinh học, các khoa học kinh tế, khoa
học xã hội và nhân văn. Trong thời kỳ này phong cách phi cổ điển dần được gọi
là phong cách tư duy hiện đại.
Thời kỳ thứ ba, mà ngày nay ta thường gọi là thời kỳ cách mạng khoa học - công
nghệ, bắt đầu từ đầu từ những năm 70 ở các nước công nghiệp phát triển rồi lan
mạnh sang các nước đang phát triển ở thập kỷ 80 và cuối cùng gần như bao
trùm toàn bộ hành tinh chúng ta trong thập kỷ 90 này. Chính trong thời kỳ này,
những nét đặc trưng của phong cách tư duy khoa học hiện đại đạt đến trình độ
cao làm cơ sở cho sự chuyển biến của tư duy khoa học hiện đại trở thành tư duy
khoa học của nền văn minh mới, cao hơn trong thế kỷ XXI.
Nguồn
/>%E1%BB%8Dc

2-Tư duy logic
Logic hay luận lý học, từ tiếng Hy Lạp cổ điển λόγος (logos), nghĩa nguyên thủy
là từ ngữ, hoặc điều đã được nói, (nhưng trong nhiều ngôn ngữ châu Âu đã trở
thành có ý nghĩa là suy nghĩ hoặc lập luận hay lý trí). Logic thường được nhắc
đến như là một ngành nghiên cứu về tiêu chí đánh giá các luận cứ, mặc dù định
nghĩa chính xác của logic vẫn là vấn đề còn đang được bàn cãi giữa các triết
gia. Tuy nhiên khi môn học được xác định, nhiệm vụ của nhà logic học vẫn như
cũ: làm đẩy mạnh tiến bộ của việc phân tích cácsuy luận có hiệu lực và suy luận
ngụy biện để người ta có thể phân biệt được luận cứ nào là hợp lý và luận cứ
nào có chỗ không hợp lý.
Theo truyền thống, logic được nghiên cứu như là một nhánh của triết học. Kể từ
giữa thế kỉ 19 logic đã thường được nghiên cứu trong toán học và luật. Gần đây

Logic trong triết học Hồi giáo, đặc biệt là logic của Avicennia, chịu ảnh hưởng lớn
từ logic của Aristotle.
Tại Ấn Độ, những đổi mới trong trường phái triết học, gọi là Nyaya, tiếp diễn từ
thời cổ đại đến đầu thế kỷ 18 với trường phái Navya-Nyaya. Đến trước thế kỷ
16, nó đã phát triển những lý thuyết giống với logic hiện đại.

Tư duy logic là gì?

14


Chìa khóa để tối ưu hóa khả năng phát triển cá nhân và khả năng hoạch định tổ
chức công việc một cách hiệu quả, đó chính là "Tư duy có logic".
Logic hay luận lý học, từ tiếng Hy Lạp cổ điển λόγος (logos), nghĩa nguyên thủy
là từ ngữ, hoặc điều đã được nói, (nhưng trong nhiều ngôn ngữ châu Âu đã trở
thành có ý nghĩa là suy nghĩ hoặc lập luận hay lý trí).
Trong cuộc sống hằng ngày, mọi hoạt động của con người đều thông qua tư duy
của họ. Khác với hành động của con vật mang tính bản năng, hành động của
con người luôn mang tính tự giác. Con người, trước khi bắt tay vào hoạt động
thực tiễn cải tạo thế giới, đều đã có sẵn dự án trong đầu. Sự khác biệt ấy là vì
con người có tư duy và biết vận dụng sức mạnh của tư duy vào việc thực hiện
các mục đích của mình. Trong quá trình hoạt động đó, con người dần dần phát
hiện
ra
các
thao
tác
của

duy.

những công cụ để xây dựng các bộ điều khiển, từ đó xây dựng nên các công
nghệ tự động hoá. Nó cũng cung cấp các phương tiện logic cho việc chế tạo
máy tính điện tử. Gần đây nhất logic được áp dụng vào khoa học máy tính và trí
16


tuệ nhân tạo.
Chính vì vậy, có thể nói rằng, không có logic học hiện đại thì khó có khoa học
hiện đại phát triển như ngày nay. Hơn thế nữa, các hệ thống logic phi cổ điển
(tình thái, đa trị, xác suất, v.v.) cũng trang bị cho nhân loại những phương tiện
logic để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn “cái biện chứng” khách
quan bằng các công cụ chính xác.
Các phương pháp rèn luyện kỹ năng tư duy logic
- Đọc sách: Đọc sách chính là cách để rèn luyện kĩ năng nhận thức và tăng
cường vốn từ vựng của bạn. Chọn sách văn học, khoa học hay những quyển
sách nâng cao tính chuyên môn nghề nghiệp để đọc, sẽ giúp bộ não của bạn
hoạt động tích cực hơn.
- Tham gia một khoá học: Hãy học một điều gì đó mới mẻ, chẳng hạn như đăng
kí tham gia lớp nấu ăn, cắm hoa hay hội hoạ, v.v…Bản thân bạn sẽ gặp những
thách thức vì phải hấp thụ những khái niệm, những thông tin và ý tưởng mới, và
giữ lại những kĩ năng cần thiết suốt quá trình ghi nhớ của bộ não.
- Học ngoại ngữ: Bạn nên biết rằng học ngoại ngữ chính là cách để bộ óc của
bạn linh hoạt, suy nghĩ được nhạy bén, giúp rút ngắn tính chậm chạp của quá
trình suy nghĩ lão hoá theo tuổi tác. Mặt khác, còn giúp bạn giao tiếp với người
nước ngoài dễ dàng hơn.
- Chơi game: Rủ bạn bè tham gia một trò chơi, chẳng hạn như chơi cờ… Bên
cạnh đó, các hoạt động xã hội cũng giúp trí óc bạn linh hoạt hơn. Vì khi đó, bạn
sẽ phải vận dụng trí nhớ và các kĩ năng tư duy logic của mình.
- Chơi ô chữ: sẽ giúp bạn trau dồi những kinh nghiệm, hiểu biết và củng cố
lượng từ vựng của bạn.

bề ngoài bóng loáng có ẩn chứa những điều xấu xa gì không. Đừng chỉ quan
tâm đến giá trị bề mặt mà còn cần điều tra nguồn gốc để tìm giá trị tiềm ẩn. Nếu
muốn biết làm thế nào để phát triển tư duy logic, bạn hãy thử áp dụng điều
này xem.
Không để tình cảm xen vào:
Làm thế nào để phát triển tư duy logic? Đó là cần tránh đưa ra quyết định dựa
trên cảm xúc. Cần tránh đưa ra quyết định khi bạn đang tức giận hay đang vui
18


vẻ, vì khi đó bạn ở trạng thái không khách quan. Cũng tránh ra quyết định những
lúc bạn bị người khác thao túng về tình cảm, chẳng hạn như xu nịnh hay dọa
nạt. Giữ được cái đầu lạnh trong mọi tình huống sẽ giúp bạn có cái nhìn khách
quan hơn.

Rèn luyện cách tư duy thường xuyên
Học tư duy là cách luyện tập trí não tốt, giúp bạn có bộ não khỏe khoắn,
minh mẫn để sống, làm việc và học tập hiệu quả hơn.
Edward de Bono cho rằng tư duy là kỹ năng cơ bản và thiết yếu của con người.
Nếu không có khả năng tư duy tốt thì bạn khó có thể có những thành công vượt
trội vì kỹ năng này không phải tự nhiên có mà cần phải được đào tạo bài bản
ngay từ khi còn bé. Tư duy là một kỹ năng mà mỗi người có thể học tập và rèn
luyện được.
Ví như bạn muốn chơi một môn thể thao hoặc một nhạc cụ, bạn khó có thể tự
học hoặc tự tập mà không có huấn luyện viên hoặc giáo viên hướng dẫn. Vì
thế, khi bạn chơi đá bóng, chơi tennis... hoặc những môn tương tự như vậy, nếu
bạn được dìu dắt bởi huấn luyện viên thì khả năng chạy sẽ tốt hơn. Ai cũng biết
cách suy nghĩ. Nếu nói một người không biết suy nghĩ là điều không đúng. Tuy
nhiên, nếu được huấn luyện cách suy nghĩ, tư duy có hệ thống thì khả năng suy
nghĩ của bạn sẽ tốt hơn.

PDP-Thinking School tin rằng không có một công thức kỳ diệu nào để làm cho
trẻ em hoặc ngay cả người lớn nhanh chóng thông minh hơn. Tư duy và sáng
tạo là những kỹ năng không thể đào tạo hoặc hấp thụ chỉ trong vòng vài giờ
đồng hồ. Những bài học hàng tuần là cơ hội cho các em học sinh khám phá và
tìm hiểu sự cần thiết của việc học cách tư duy có hệ thống. Quan trọng nhất là
các em được định hướng để nhận biết đâu là những ý tưởng sáng tạo mới lạ,
khả thi và không được tự do đưa ra những sáng kiến, ý tưởng kỳ quặc, điên rồ
và vô bổ.
Các bản quyền quốc tế đào tạo kỹ năng tư duy cho trẻ tập trung vào ba lĩnh vực
chính: tư duy logic, tư duy sáng tạo và siêu nhận thức hay còn gọi là tư duy về
tư duy (metacognitive thinking). Tư duy logic giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của các

20


bài học, tư duy về tư duy giúp trẻ suy ngẫm về những điều vừa mới học, qua đó
hình thành thói quen chủ động tìm tòi, khám phá, suy nghĩ trong học tập.
Cụ thể, khi đọc một bài tập đọc, bằng cách đặt và trả lời câu hỏi, trẻ hiểu được
nhiệm vụ của mình là phải hiểu chủ đề và nội dung. Trong quá trình đọc, các em
có thể không trả lời hết các câu hỏi hoặc không hiểu hết nội dung. Với kỹ năng
tư duy tốt, các em sẽ xác định được phải làm gì để đạt được mục tiêu hiểu nội
dung bài đọc. Có thể, các em quyết định đọc lại cả bài hoặc những đoạn chưa
hiểu rõ để trả lời câu hỏi. Đây chính là kỹ thuật "tư duy về tư duy", giúp trẻ suy
ngẫm bài học để hiểu sâu và hiểu rõ hơn.
Ở lớp học tư duy, trẻ sẽ nhận thức được học tập là kết quả khả năng tư duy có
phương pháp; tư duy có phương pháp là một kỹ năng cần được rèn luyện thành
thói quen; học là phải suy nghĩ, hiểu sâu về những điều đã học. Với chương
trình đào tạo tư duy chuyên sâu kéo dài từ 3 đến 5 năm, trẻ có thói quen dành
thời gian để suy nghĩ; biết đưa ra nhiều lựa chọn khi ra quyết định, nhìn xa trông
rộng hơn ý tưởng của bài học; tìm kiếm thêm thông tin bằng cách đặt câu hỏi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status