Tiểu luận kỹ năng dạy học Động tác tay khi thuyết trình - Pdf 25

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN KĨ NĂNG
DẠY HỌC
ĐỀ TÀI
GVHD : PGS. TS. Trịnh Văn Biều
HVTH : Nguyễn Hồng Hà
Chuyên ngành : LL & PPDH môn Hóa học
Khóa : 23 (2012 – 2014)
Tp Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2013
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 : Kĩ năng giao tiếp phi ngôn từ
1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của phi ngôn từ 5
1.2. Đặc điểm của phi ngôn từ 6
1.3. Chức năng của phi ngôn từ 7
1.4. Sơ lược về kĩ năng giao tiếp phi ngôn từ trong thuyết trình
1.4.1. Giọng nói 8
1.4.2. Dáng điệu và cử chỉ 10
1.4.3. Trang phục 12
1.4.4. Nét mặt 12
1.4.5. Mắt 13
1.4.6. Tay 14
1.4.7. Động chạm 14
1.4.8. Di chuyển 15
1.4.9. Mùi 16
1.4.10. Khoảng cách 16
Chương 2 : Động tác tay khi thuyết trình

phong cách cá nhân của người thuyết trình ? Để trả lời câu hỏi này chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài
“Động tác tay trong thuyết trình” nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thuyết trình nói riêng và thuyết
phục, giao tiếp nói chung.
4
Chương 1
KĨ NĂNG GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ
1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của phi ngôn từ
Hữu thanh Vô thanh
Phi ngôn Giọng nói (chất giọng, âm Điệu bộ, dáng vẻ, trang
5
từ
lượng, độ cao…), tiếng
thở dài, kêu la
phục, nét mặt, ánh mắt, đi
lại, mùi…
Ngôn từ Từ nói Từ viết
Ngôn từ là nội dung bài thuyết trình được các diễn giả nói ra hoặc
viết ra. Phi ngôn từ là giọng nói (bao gồm các yếu tố như: ngữ điệu, chất
giọng, độ cao…) và hình ảnh (bao gồm những gì thính giả nhìn thấy: nét
mặt, dáng vẻ, trang phục, di chuyển…) khi ta thuyết trình.
Các nghiên cứu của các nhà xã hội học cho thấy, để thuyết trình
thành công ngoài yếu tố nội dung diễn giả cần quan tâm đến việc thuyết
phục người nghe bằng giọng nói, dáng điệu cử chỉ, trang phục, mắt quan
sát hội trường
Khi ta truyền tải một thông điệp thì hiệu quả của ngôn từ, giọng nói
và hình ảnh được thể hiện như sau: Tỉ lệ giữa ngôn từ và phi ngôn từ là 7/93
tức là sức ảnh hưởng của phi ngôn từ tới người nghe gấp 13,285 lần nội
dung.
Chắc hẳn là trước khi bước vào một cuộc họp hay hội thảo quan
trọng, ai cũng đều phải chuẩn bị bài thuyết trình rất kỹ lưỡng. Chúng ta

Nhắc lại và thay thế : chúng ta có thể dùng cử chỉ mà không cần sử
dụng lời nói nhưng người khác cũng có thể hiểu chúng ta muốn nói gì. Ví
dụ : dùng tay để tạo động tác lượn sóng nhằm chỉ những cơn sóng biển khi
đang nói về một vấn đề liên quan đến biển, sóng to thì động tác nhanh và
mạnh, sóng nhỏ thì tốc độ chậm.
7
Bổ trợ : cử chỉ và giọng điệu sẽ giúp tăng sức hấp dẫn của lời nói. Ví
dụ : khi nói đến một câu chuyện vui nào đó thì mắt của chúng ta cũng phải
cười, mở to và long lanh, khuôn mặt đầy niềm vui, miệng cười, giọng nói
đầy sinh khí,
Nhấn mạnh : Với những đoạn văn cần nhấn câu, dừng ý ta vung tay
dứt khoát.Tay chắc chắn giọng chắc chắn, tay lỏng lẻo giọng lỏng lẻo. Ví
dụ : Ta đang cần nói đến những thành quả đạt được của công ty, chúng ta
phải nói với giọng điệu thật tự hào, dùng tay đưa lên cao nhằm chỉ mức độ
thành công của công ty.
Điều tiết : là chức năng quan trọng của phi ngôn từ. Cả cơ thể ta là một
thể thống nhất, dáng chững trạc thì giọng nói cũng chững trạc, dáng lỏng
lẻo thì giọng cũng lỏng lẻo.Tay vung mạnh mẽ thì giọng nói cũng mạnh
mẽ và ngược lại.
Ví dụ : Bạn đứng với tư thế lưng khum, vai xuôi, đầu cúi xuống, mắt
nhìn xuống đất và nói “Tôi làm được”. Ghi nhận cảm xúc của mình lại.
Sau đó bạn đứng thẳng lưng, ngực hơi ưỡn về phía trước, chỉnh vai thẳng,
ngẩng đầu lên, mắt nhìn thẳng, hai tay đưa ra phía trước và nắm bàn tay
chặt thành nắm đấm rồi nói “Tôi làm được”. Tuy cùng một câu nói nhưng
chắc chắn bạn sẽ cảm thấy mình tự tin và quyết tâm hơn rất nhiều khi bạn
thực hiện câu nói ấy ở trường hợp hai.
Từ xưa tới nay ta cứ tưởng chỉ có đầu óc ảnh hưởng tới cơ thể. Thực tế,
cơ thể là một thể thống nhất, tay chân ta có linh hoạt, thoải mái thì đầu óc
mới minh mẫn nhiều ý đẹp lời hay. Khi đầu ta cảm thấy căng thẳng, cơ bắp
sẽ tự động cứng lại. Nếu ta biết cách thư giãn cơ bắp, điều hoà hơi thở, sự

nói câu dài và đủ bền để duy trì giọng nói suốt cả buooit huyết trình.
Chất lượng: Theo nguyên lý phát âm, luồng hơi từ trong phổi đi ra
chạm vào dây thanh quản phát ra các nguyên âm. Các nguyên âm này kết
hợp với các phụ âm do hình dạng của lưỡi, môi, răng tạo ra thành âm nói.
Âm này cộng hưởng trong khoang miệng rồi bắn ra ngoài. Như vậy, muốn
phát âm to, rõ ràng thì âm phải nổ trong khoang miệng, trong vòm cộng
minh. Cũng giống như khi chúng ta hét trong hang động, ta thấy tiếng
vọng âm, vang, rền. Muốn nói to, rõ, âm mạnh mẽ, tiếng phải được phát ra
từ giữa khoang miệng.
Tốc độ: Trong khi nói, tốc độ nói hoàn toàn phụ thuộc vào người nghe.
Với đối tượng cao tuổi cần nói chậm, nhẹ nhàng nhưng thuyết trình trước
hội trường toàn thanh niên cần hào hùng, hoành tráng mới thuyết phục. Vì
vậy khi thuyết trình phải luôn quan sát và đo được phản ứng của người
nghe với cách trình bày của ta để điều chỉnh cho phù hợp. Tóm lại, tốc độ
nói bị điều chỉnh bởi tâm của người nói hay chính là sự trao đổi chia
sẻ và biểu hiện, phản ứng của người nghe. Cũng như khi rót nước, với cái
cốc to ta rót khác, với cốc nhỏ ta rót khác. Quan trọng nhất của người
thuyết trình là phải phù hợp với nội dung, hoàn cảnh và đối tượng.
Điểm dừng: Văn nói khác văn viết, với văn viết, chúng ta có thể đọc
đoạn trên, đoạn dưới, xem dấu chấm câu để hiểu người viết định nói gì.
Nhưng với văn nói, cùng một câu nhưng cách nói khách nhau dẫn đến cách
hiểu khác nhau. Chẳng hạn, câu: “Ông già đi nhanh quá”, nếu ta có điểm
dừng “Ông già đi nhanh quá” thì có nghĩa là một người già đi nhanh
chóng. Còn nếu ta có điểm dừng “Ông già đi nhanh quá” với vẻ ngạc
nhiên có nghĩa là một ông già đi bộ nhanh hơn mức bình thường. Vẫn
điểm dừng đo nhưng kết hợp với sự xuống giọng luyến tiếc thì đó lại có
10
nghĩa là mộ ông gia chết rất đột ngột.
Điểm nhấn: Có hai loại nhấn mạnh. Loại thứ nhất là trường độ nghĩa là
kéo dài âm lượng ra. Loại thứ hai là cường độ nghĩa là tập trung năng

Thông thường khi thuyết trình ta thường hay mất bình tĩnh, mà như ta
đã biết, khi căng thẳng là các cơ bắp đều cứng lại, ta đứng “như trời
trồng”, đứng như chôn chân một chỗ. Tại sao như vậy? Vì ta đứng trụ trên
cả hai chân. Đứng trụ hai chân thì dễ mỏi và khó di chuyển được. Bí quyết
của dáng điệu uyển chuyển, năng động là đứng trụ trên chân trước và dồn
80% trọng lượng cơ thể được dồn vào chân trụ, và phải đổi chân liên tục.
Dáng có uyển chuyển là do hông và chân ta linh hoạt. Nguyên tắc cơ bản
nhất của thuyết trình là: nếu ta không quan tâm tới thính giả, họ sẽ không
quan tâm tới ta. Nếu đứng yên một chỗ, ta không thể quan sát bao quát hội
trường được.
1.4.3. Trang phục
Khi ta đứng xa thính giả thì cái đầu tiên họ thấy là dáng đứng. Khi lại
gần thính giả sẽ thấy trang phục ta mặc. “Gần nể bụng nể dạ, lạ nể áo nể
quần”, thính giả sẽ có ngay ấn tượng ban đầu về ta thông qua dáng đứng và
trang phục. Thông qua trang phục chúng ta biết được địa vị xã hội, khả
12
năng kinh tế, và chuẩn mực đạo đức cũng như thẩm mĩ cá nhân của từng
người. Nếu trang phục không phù hợp thì sẽ tạo sự khó chịu và mất tự tin
cho chính người nói.
Tốt nhất khi thuyết trình ta nên chọn trang phục lịch sự và phải phù
hợp với đối tượng tham gia buổi thuyết trình. Nếu mặc trang phục quá
sang trọng so với đối tượng tham gia sẽ tạo không khí rất nặng nề và
khoảng cách đối với người nghe. Nếu trang phục ta chọn quá bình thường
so với người nghe thì dẫn tới khán giả sẽ nghĩ ta không tôn trọng khán giả.
Tùy vào nội dung bài thuyết trình, đối tượng, không khí buổi thuyết trình
mà chúng ta chọn trang phục cho phù hợp, sao cho vừa lịch sự vừa thân
thiện. Hãy chuẩn bị để ta ra mắt thính giả với một ấn tượng tốt nhất.
1.4.4. Nét mặt
Người thuyết trình cũng như người diễn viên đều là người xuất hiện
trước công chúng. Tất nhiên trong thuyết trình không yêu cầu ta phải xinh

quan sát thấy thính giả không chú tâm, mắt nhìn đi chỗ khác hoặc bắt đầu
nói chuyện riêng thì nếu cần ta điều chỉnh ngay nội dung bài nói vì có thể
vấn đề ta đang đề cập hội trường không hứng thú hoặc đã biết. Bài thuyết
trình thành công khi đảm bảo nguyên tắc “Nói cái khán giả cần chứ
không phải nói cái mình có”.
1.4.6. Tay
Phần này được trình bày ở chương 2
14
1.4.7. Động chạm
Động chạm trong thuyết trình, giao tiếp trực tiếp giữa người nói và
người nghe chủ yếu thông qua cái bắt tay. Bắt tay bày tỏ sự thân thiện,
nồng nhiệt, qua đó mối quan hệ giữa hai người sẽ gần gũi hơn. Thông
thường khi bắt tay, hai lòng bàn tay nên áp vào nhau, hai ngón cái đan
chéo, bóp vừa đủ mạnh và có thể lắc nhẹ. Bắt tay là phép lịch sự tối thiểu,
nhưng trên thực tế người thuyết trình đôi khi vì quá chú ý tới chuẩn bị nội
dung nói mà quên mất bước cơ bản này. Có ba thời điểm phải bắt tay làm
quen với thính giả:
- Trước khi thuyết trình: Chào, đón tiếp thính giả, làm quen, tranh thủ
sự ủng hộ từ họ - đặc biệt với trường hợp ta thuyết trình với các đối tượng
lần đầu gặp.
- Trong khi thuyết trình: Tiếp tục giao tiếp, giao lưu thắt chặt mối quan
hệ, hỏi cảm nhận của thính giả để có điều chỉnh thích hợp cho bài nói.
- Sau khi thuyết trình: Cảm ơn thính giả đã lắng nghe, tạo ấn tượng tốt
cho họ trước khi ra về.
1.4.8. Di chuyển
Trong khi nghe thuyết trình, tại sao nghe nhiều khi không chú ý thậm
chí còn cảm giác buồn ngủ? Có phải do ta mệt mỏi vì nghe quá nhiều kiến
thức không? Xin thưa rằng không phải. Đa số trường hợp mệt mỏi là do
mắt mỏi chứ không phải do cái đầu làm việc quá nhiều. Hãy thử tập trung
nhìn vào một điểm trong vòng 5 phút, ta sẽ thấy mỏi mắt. Nhiều khi thính

một công ty thử nghiệm vào những giờ nhất định cho nhân viên của họ
ngửi những mùi nhất định, kết quả cho thấy hiệu quả công việc đã tăng
đáng kể. Mùi hương yêu thích có thể làm cho não chúng ta hưng phấn, làm
việc tốt hơn. Ngược lại, một mùi khó chịu nếu toả ra từ một người sẽ khiến
những những đối tượng giao tiếp đánh giá không tốt, thậm chí là xa lánh
ta. Mùi khó chịu trong hội trường có thể gây mất tập trung, tạo nên tâm lý
không thoải mái cho thính giả và gây sự mất tự tin cho chính diễn giả khi
xuất hiện trước công chúng.
1.4.10. Khoảng cách
Trong giao tiếp nói chung và trong thuyết trình nói riêng, khoảng cách
giữa ta và thính giả thể hiện mối quan tâm, quan hệ. Với mỗi mối quan hệ
khác nhau, người ta có xu hướng chọn khoảng cách khác nhau. Trên lý
thuyết, khoảng cách được quy định như sau:
- Thân thiện < 1m
- Riêng tư < 1.5m
- Xã giao < 4m
- Công cộng > 4m
Nhưng trên thực tế, khoảng cách được định lượng chủ yếu dựa trên cái
bắt tay. Trong quan hệ xã giao, hai người đứng cách xa nhau vừa đủ một
tầm tay bắt. Khoảng cách đó mang lại một không gian vừa đủ cho mỗi
người đứng thoải mái, khi vung tay không chạm phải nhau, và một người
17
thứ ba có thể đi qua giữa hai người. Còn khi ta đứng nói ở nơi công cộng,
tuỳ thuộc vào đám đông mà ta chọn cho mình khoảng cách phù hợp. Đám
đông càng lớn, ta càng phải đứng cách xa để có thể bao quát hết cả hội
trường. Một nguyên tắc chung nhất là ta phải đứng ở trung tâm của hội
trường, nơi mà tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy bạn, đồng thời là nơi
gần gũi nhất với thính giả mà ta có thể. Hãy luôn cố gắng rút ngắn khoảng
cách giữa ta và thính giả. Trong những trường hợp với những hội trường
rất dài, nếu có thể, trong quá trình thuyết trình nên di chuyển sâu vào trong

được sự chú ý của thính giả, chuyển động cơ thể của ta phải càng linh hoạt,
năng động. Mà trên cơ thể người, đôi tay là nơi linh hoạt nhất. Hai dân tộc
khác biệt ngôn ngữ, những người khiếm thính, không nói được vẫn có thể
trao đổi thông tin bằng cử động tay. Thế mới biết bàn tay có thể diễn đạt
nhiều động tác đến thế nào.
Tục ngữ xưa có câu: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”. Bàn tay quan
trọng là thế nhưng khi thuyết trình, ta thường hay thấy “tay chân thừa
thãi”, nhiều người không biết giấu tay vào đâu . Đó là do ta chưa biết cách
vung tay thế nào cho hợp lý. Thực tế nếu ta biết cách vung tay, bàn tay sẽ
là “vũ khí” lợi hại trong thuyết trình vì nó giúp bổ trợ lời nói. Hơn nữa khi
bàn tay vung, trọng tâm cơ thể sẽ hướng về phía trước, dáng của ta sẽ có
xu thế hướng về phía thính giả bày tỏ sự thân thiện.
2.1. Nguyên tắc
Nguyên tắc trong cả khi thuyết trình và giao tiếp là phải luôn để tay trong
khoảng từ trên thắt lưng tới dưới cằm. Nếu ta vung tay cao quá, tay sẽ
che mất mặt, làm cho âm ta phát ra không rõ. Nếu tay vung thấp quá,
những người ngồi xa sẽ không nhìn thấy tay ta. Để tay trong khoảng từ thắt
lưng tới dưới cằm ta sẽ vung thoải mái nhất, thuận lợi nhất trong giao tiếp
20
và trông cũng tự nhiên nhất. Khi tay vung, luôn nhớ rằng vung “trong ra,
dưới lên” - có nghĩa là đưa tay hướng từ trong ra ngoài, và hướng từ dưới
lên. Tưởng tượng giống hệt như ta đang tặng quà cho một người mà chúng
ta yêu quí. Ta cũng nên chú ý luôn ngửa lòng bàn tay, và các ngón tay
khép lại. Lòng bàn tay ngửa bày tỏ sự mong đợi, thu thập ý kiến, ngược lại
thì hàm ý đè nén, dồn ép thính giả. Các ngón tay khép bày tỏ sự nghiêm
túc, ngón tay mở mang lại cảm giác thiếu sinh lực, thiếu nhiệt tình, cảm
giác ta đang vơ vét, cào cấu cái gì đó từ bên ngoài vào. Trong quá trình
thuyết trình, ta cũng nên chú ý liên tục đổi tay tạo sự khác biệt. Vung tay
thì tốt, nhưng vung mãi một tay thì chẳng khác nào chèo thuyền một mái.
Nói hai ý là phải vung hai tay khác nhau để người nghe dù không chú ý

không thể vung linh hoạt tự nhiên được. Hơn nữa, cầm đồ vật trên tay ta
cũng sẽ rất dễ vung nó theo đà tay vung.
2.3. Các động tác tay cơ bản khi thuyết trình
STT Động tác Ý nghĩa
1 Giơ ngón tay lên Chỉ số đếm, một thứ tự trình bày nào
đó, gây sự chú ý
2 Vung tay từ vùng trên thắt
lưng ra ngoài
Mời lịch sự, định hướng
3 Xoay tay Đoàn kết, kết hợp, trao đổi
22
4 Vươn tay Phát triển
5 Tay chém không khí từng
đoạn theo chiều ngang
Chỉ các giai đoạn
6 Tay chém không khí từng
đoạn theo chiều dọc
Mức độ hoặc chất lượng cao, trung,
thấp
7 Tay đưa về bên trái, phải Bên này, bên kia
Qúa khứ, tương lai
8 Đếm ngón tay Liệt kê
9 Nắm chặt hai bàn tay,
động tác dứt khoát
Quyết tâm, nhấn mạnh
10 Đưa bàn tay lên, lòng bàn
tay hướng về phía khán
giả
Chào hỏi
11 2 bàn tay úp, đưa từ trên

thành công. Tuy nhiên không phải vận dụng tay lúc nào cũng đem lại hiệu quả, không được lạm dụng mà
phải sử dụng đúng mực. Không nên sử dụng quá nhiều động tác tay dẫn đến huơ tay, vung tay, biên độ
của hai tay cũng không được quá lớn. Động tác tay cũng tạo ấn tượng như ánh mắt, nếu lặp đi lặp lại
nhiều lần thì sẽ trở nên đơn điệu và mất đi sức mạnh tình cảm của nó . Nói chung, động tác tay tự nhiên
23
và ổn định có thể giúp cho người nói thuyết minh vấn đề một cách bình tĩnh; động tác tay nhanh và mạnh
có thể giúp cho tình cảm diễn giả thăng hoa.
Trên đây là cách sử dụng đôi tay trong thuyết trình sao cho hiệu quả. Ngoài ra không thể xem
nhẹ vai trò của từ ngữ và các yếu tố khác của phi ngôn từ trong khi thuyết trình. Chúng cùng nhau tạo
nên một bài thuyết trình có sức hút tuyệt vời.
TÓM TẮT
Nguyên tắc sử dụng đôi tay khi thuyết trình
 Từ cằm đến thắt lưng
 Trong ra, dưới lên
 Ngửa lòng bàn tay, ngón tay khép tự nhiên
Lưu ý quan trọng
 Không khoanh tay
 Không cho tay vào túi quần
 Không chống hông
 Không cầm bút hay que chỉ
 Tránh đơn điệu
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Allan và Barbara Pease (2007), Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (Lê Huy
Lâm dịch), NXB tổng hợp TP HCM.
2. James Borg (2008), Ngôn ngữ cơ thể - 7 bài học đơn giản để làm chủ ngôn ngữ không lời
(Lê Huy Lâm dịch), NXB tổng hợp TP HCM.
3. Tâm Việt Group, Kĩ năng thuyết trình hiệu quả
4. Internet
http://www.youtube.com/watch?v=OUVGAKgwVuE


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status