Hình ảnh và quyền đối với hình ảnh của cá nhân - Pdf 33

LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

A – Mở đầu
Giá trị nhân thân là những giá trị gắn liền với cá nhân mỗi con người,
chúng tồn tại không phụ thuộc vào mức độ và tính chất điều chỉnh của quy
phạm pháp luật. Trong những năm gẫn đây, dưới ảnh hưởng của rất nhiều
yếu tố khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc tế, … hệ thống
các quyền nhân thân trong pháp luật các nước ngày càng được mở rộng.
Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì các quyền nhân
thân bao gồm những quyền được quy định từ Điều 26 đến Điều 51. Qua đó,
đã điều chỉnh những người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân
hoặc tổ chức. Đặc biệt, những quyền thể hiện sự tự do cá nhân, bí mật riêng
tư của mỗi người luôn được mọi người quan tâm đến. Vậy đối với hình ảnh
của mỗi người thì sẽ có những quy định ra sao ? Bản thân cá nhân có quyền
gì đối với hình ảnh của mình ? Để trả lời cho những câu hỏi trên em đã lựa
chọn đề số 3 cho bài tập lớn của mình: “Hình ảnh và quyền đối với hình
ảnh của cá nhân”.

B – Nội dung
I – Hình ảnh
1. Khái niệm về hình ảnh
Trên thực tế hiện nay, khi tìm kiếm định nghĩa về hình ảnh, chúng ta có
thể dễ dàng nhận thấy rằng chưa có một định nghĩa nào thật sự ngắn gọn dễ
hiểu đối với khái niệm này. Việc hiểu “hình ảnh” là gì phụ thuộc chủ yếu
vào từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có một
cách thức định nghĩa riêng phù hợp với chuyên môn chính của ngành đó.
Theo từ điển Tiếng Việt, của ngôn ngữ học 2000, giải thích hình ảnh
“là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí tụ quang học (như máy
ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả

mẫu, thể hiện cá tính nghệ thuật và dấu ấn riêng.
2. Hình ảnh cá nhân
a) Khái niệm hình ảnh của cá nhân
Khái niệm “hình ảnh của cá nhân” bao gồm mọi hình thức tác phẩm
ghi lại hình dáng của con người cụ thể như chụp, ảnh vẽ, ảnh họa chép và
suy luận rộng ra có thể cả bức tượng của cá nhân đó nữa. Đúng về mặt
“quyền sở hữu trí tuệ” thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng đều là loại hình tác
2


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

phẩm, người sử dụng tác phẩm trước hết phải xin phép người chủ bản quyền
(chủ sở hữu quyền tác giả) và trả cho họ một khoản lợi ích vật chất, đồng
thời phải trả thù lao, nhuận bút cho người sáng tác (người chụp ảnh, sao
chép, họa hình…). Nhưng đứng về mặt “quyền nhân thân của con người” thì
ai muốn sử dụng hình ảnh của cá nhân đều phải được sự đồng ý của người
đó.
b) Những đặc điểm của hình ảnh cá nhân
Hình ảnh cá nhân không có sẵn khi con người được sinh ra, mà được
hình thành dần do ngoại hình, vóc dáng, cách ăn mặc … hay cách đối nhân,
xử thế và những hành vi khác của cá nhân đó đối với những người xung
quanh.
Hình ảnh cá nhân của một cá thể được mọi người tiếp nhận và tự hình
thành riêng trong tư duy mỗi người. Vậy nên, sẽ có thể tồn tại rất nhiều
những “hình ảnh cá nhân” khác nhau về cùng một con người.
Hình ảnh cá nhân có thể thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào chính
ngoại hình và tính cách của mỗi cá nhân cũng như quan điểm của những

đối với hình ảnh. Vậy quyền đối với hình ảnh của cá nhân là gì?
II – Quyền đối với hình ảnh của cá nhân
1. Quyền đối với hình ảnh của cá nhân là một quyền nhân thân liên
quan đến cá biệt hóa cá nhân
Quyền nhân thân là một khái niệm pháp lý điều chỉnh quyền năng dân sự
của cá nhân được pháp luật ghi nhận. Quyền nhân thân gắn liền với những
giá trị tinh thân của con người về nguyên tắc không thể chuyển giao cho
người khác.
Một xã hội tiến bộ, phát triển bao nhiêu thì quyền nhân thân của cá nhân
càng được pháp luật tôn trọng và mở rộng bấy nhiêu. Cùng với sự phát triển
của đất nước, quyền nhân thân của cá nhân cũng ngày càng được công nhận
và bảo vệ cao hơn trong pháp luật Việt Nam. Căn cứ vào nội dung các quyền
nhân thân, quyền nhân thân của cá nhân có thể phân loại thành ba nhóm sau
đây:
• Quyền nhân thân cá biệt hóa cá nhân như quyền của cá nhân đối với
họ tên, hình ảnh, dân tộc;
• Quyền nhân thân được ghi nhận và bảo đảm thực hiện phụ thuộc vào
chế độ chính trị - xã hội như quyền được bảo đảm an toàn về tính

4


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

mạng, sức khỏe; quyền của cá nhân đối với danh dự, nhân phẩm, uy
tín; quyền của cá nhân đối với bi mật đời tư, …
• Quyền nhân thân thể hiện sự tự do của cá nhân như quyền hiến bộ
phận cơ thể, quyền hiến xác, bộ phận trên cơ thể sau khi chết, quyền

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Điều 31 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “Quyền của cá nhân đối với hình
ảnh:
1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
3. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong
trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ
mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên
hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích
của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.
4. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm
danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.
Qua Điều 31 BLDS nhận thấy rằng khung pháp lý chưa đưa ra khái
niệm quyền đối với hình ảnh của cá nhân. Đây được xem là một trong những
khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết các tranh chấp có liên quan tới hình ảnh của cá nhân. Quyền đối với
hình ảnh có thể là quyền của cá nhân đối với diện mạo bên ngoài của mình
như hình dáng khuôn mặt, cử chỉ điệu bộ. Ngay cả hình ảnh chụp một người
từ phía sau vẫn có thể vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh nếu qua
hình ảnh đó có thể nhận ra người này nhờ vào hình thể, tư thế và kiểu tóc
của người đó. Hoặc quyền đối với hình ảnh của cá nhân có thể hiểu là hình
ảnh được tạo nên bởi sự công nhân của công chúng và gắn liền với hình ảnh
của cá nhân; như hình ảnh người đàn bà đẹp gắn liền với nữ diễn viên Julia
Robert. BLDS chỉ đưa ra một khía cạnh của quyền đối với hình ảnh, quy
định mọi cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình mà không quy định rõ
quyền đối với hình ảnh là như thế nào. Nhưng có thể thấy theo bản chất
pháp lý thì cách hiểu thứ nhất về quyền đối với hình ảnh hợp lý với khái
niệm quyền nhân thân của cá nhân. Vì quyền nhân thân của cá nhân là quyền
mà mọi cá nhân đều có quyền hưởng. Còn cách hiểu quyền đối với hình ảnh
được công chúng công nhận thì chỉ giới hạn trong một bộ phận cá nhân

pháp tự bảo vệ là biện pháp thể hiện tính định đoạt cao nhất của chủ thể. Vì
biện pháp này tôn trọng quyền định đoạt của chủ thể và trong chừng mực
nhất định, biện pháp này cũng nhanh chóng ngăn chặn, chấm dứt hành vi
xâm phạm. Biện pháp tự bảo vệ cho phép chủ thể bị xâm phạm quyền đối
với hình ảnh được áp dụng những biện pháp nhất định để bảo vệ quyền của
mình. Các biện pháp cụ thể mà chủ thể bị xâm phạm quyền đối với hình ảnh
có thể lựa chọn áp dụng là: yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm
phải công nhận quyền của cá nhân bị xâm phạm; buộc người có hành vi xâm
7


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

phạm phải xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người có hành vi xâm phạm
phải bồi thường thiệt hại; yêu cầu chủ thể có hành vi xâm phạm phải thực
hiện các nghĩa vụ dân sự khác. Cá nhân bị xâm phạm có quyền với hình ảnh
của mình có thể sử dụng các biện pháp này bằng cách trực tiếp gặp chủ thể
có hành vi xâm phạm hoặc sử dụng các phương thức khác như: gọi điện
thoại, gửi thư qua bưu điện, fax, …; Hoặc tiến hành những hành vi cụ thể để
bảo vệ quyền của mình. Người bị xâm phạm quyền nhân thân đối với hình
ảnh có thể lựa chọn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khác để tự bảo vệ
mình. Theo quy định tại Điều 25 BLDS 2005 thì “khi quyền nhân thân của
cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:
1. Tự mình cải chính
2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm; xin lỗi, cải chính công
khai;
3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt
hành vi xâm phạm.
• Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại về vật chất
và tinh thần cùng các chi phí như: Chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục
thiệt hại; thu thập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; tiền bồi thường bù đắp
tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm.
4. Chế tài đối với người xâm phạm quyền đối với hình ảnh của cá
nhân
Hiện nay, pháp luật dân sự quy định các biện pháp bảo vệ và khôi phục
các quyền nhân thân của công dân. Theo đó, người xâm phạm quyền nhân
thân của người khác thì dù cố ý hay vô ý thì đều có nghĩa vụ phải chấm dứt
hành vi xâm phạm; xin lỗi, cải chính công khai; nếu xâm phạm danh dự,
nhân phẩm, uy tín thì phải bồi thường bằng một khoản tiền bù đắp tổn thất
về tinh thần cho người bị xâm phạm.
Nếu chỉ xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì bồi thường thiệt hại
tinh thần tối đa bằng 10 tháng lương tối thiểu (do Chính Phủ quy định trong
từng thời kỳ). Nếu việc xâm phạm gây ảnh hưởng đến sức khỏe, thiệt hại
tính mạng, người bị xúc phạm lo lắng, buồn phiền sinh ra bệnh tật, tử tự, …

9


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

thì riêng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần có thể đến tối đa 60 tháng
lương tối thiểu.
Theo luật, không nhất thiết phải gây ra thiệt hại mới bị coi là vi phạm

(TP.HCM) buộc Biti’s phải xin lỗi công khai gia đình bé Khôi, chấm dứt vô

10


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

điều kiện việc sử dụng trái phép hình ảnh của bé và bồi thường gần ba triệu
đồng.
-

Tháng 4/2006, luật sư Phạm Thành Long khiếu nại sân bay Tây

Sơn Nhất dùng bức ảnh “Áo dài” của ông là pano ở đường vào sân bay. Bức
ảnh này được ông chụp nhân ngày khai giảng tại cổng trường Trần Phú (Hà
Nội), sau đó được công bố lần đầu vào ngày 6/9/2004 trên mạng. Ông đã
đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với bức ảnh tại Cục Bản quyền (Bộ văn
hóa – thông tin). Trước đó, bức ảnh từng bị … “xài chùa” 14 lần khiến ông
phải khiểu nại nhiều tờ báo và doanh nghiệp. Kết quả, một doanh nghiệp của
Nhậ đã phải bồi thường …
2. Những vụ việc vi phạm hình ảnh cá nhân với mục đích xâm phạm
danh dự, uy tín và nhân phẩm của cá nhân
- Vụ phát tán clip sex của diễn viên Hoàng Thùy Linh:
Ngày 15/5/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa ra xét xử sơ
thẩm vụ án phát tán clip sex của diễn viên Hoàng Thùy Linh. Trong vụ án
này, Hoàng Thùy Linh được Tòa triệu tập với tư cách là nhân chứng – tức là
người “biết” về vụ việc. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh cá nhân, trong vụ án
này, diễn viên Hoàng Thùy Linh chính là nạn nhân, là người bị hại. Cô đã bị

phòng chống tội phạm cho biết sẽ kiểm tra nguồn gốc và nội dung video clip
trên.
Công an thị xã Cẩm Phả đã xác minh vụ việc, qua đó cho thấy vào ngày
29/6/2010 tại nhà nghỉ Quang Dũng thuộc phường Cẩm Thủy thị xã Cẩm
Phả, đội công an thị xã bất ngờ khám xét phòng trong nhà nghỉ này và phát
hiện hai đôi nam nữ đang có quan hệ tình dục. Công an bắt giữ hai cô gái và
trong quá trình lấy lời khai đã có những hành vi nhục mạ và không cho hai
cô gái mặc quần áo để quay phim họ. Trong video clip phát tán trên mạng
sau đó cho thấy tiếng của công an chửi bởi, hạ nhục hai cô gái này và bắt họ
đứng trong tư thế được xem là vô đạo đức. Hai cô gái đã thừa nhận mình là
gái mại dâm trú tại khu Tân Lập 4 phường Cẩm Thủy, thị xã Cẩm Phả, tỉnh
Quảng Ninh. Đối tượng môi giới trong vụ này đã bị bắt và truy tố về tội môi
giới. Sau vụ việc này, 7 công an tỉnh Quảng Ninh đã bị đình chỉ công tác vì
can tội phát tán một video clip lên mạng quay lại cảnh hành hung, ngược đãi
hai thiếu nữ bị cáo buộc là gái mại dâm.
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng cho biết sẽ cùng cơ quan chức năng
làm rõ vụ việc và sẽ chính thức lên tiếng để bảo vệ nhân phẩm của phụ nữ.
Như vậy, việc quay phim, chụp hình trong trường hợp bắt quả tang để
làm bằng chứng là không sai. Nhưng nếu những hành vi ấy gây xúc phạm
12


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của con người, đồng thời lại bị phát
tán tràn lan trên mạng thì có là phạm luật hay không ? Và pháp luật sẽ xử lý
việc này như thế nào ?
3. Quyền hạn khi tác nghiệp của nhà báo liên quan đến việc đăng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Vấn đề đặt ra ở đây là quyền hạn khi tác nghiệp của nhà báo liên quan
đến việc đăng ảnh bị can khi bị bắt và chụp ảnh bị cáo tại phiên tòa được
quy định như thế nào ?
Điều 15 Luật Báo chí quy định nhà báo có quyền và nghĩa vụ thông tin
trung thực, phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, góp phần thực hiện
quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Hay
như theo khoản 3 Điều 8 Nghị định số 51 ngày 26/4/2002 của Chính Phủ,
nhà báo được hoạt động hoạt động nghiệp vụ lấy tin, chụp ảnh, quay phim,
ghi âm tại các phiên xét xử công khai, được dành chỗ ngồi riêng, được liên
lạc trực tiếp với các thẩm phán, luật sư để lấy tin, phỏng vấn theo quy định
của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 28, 36, 37, 38 và 39 Bộ luật
hình sự chỉ hạn chế hoặc tước bỏ một số quyền dân sự của bị can, bị cáo
như: cấm đảm nhiệm chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định,
cấm đi khỏi nơi cư trú … Không có quy định nào tước bỏ quyền đối với
hình ảnh của một người, dù đó là kẻ phạm tội.
Ở nước ta hiện nay, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là
quyền hiến định, được quy định trong văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất
là Hiến pháp. Theo Hiến pháp năm 1992, quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín là một trong những quyền cơ bản của công dân. Quyền này
được quy định rõ nhất tại Điều 71 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung) như
sau: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật
bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu
không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của
Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam
giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục
hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Cùng với Điều 71, quy
định tại Điều 72 và Điều 73 Hiến pháp 1992 cũng nhằm bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Cụ thể, theo Điều 72: “không ai bị coi là có

không có quy định hay hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện việc
tự mình cải chính. Hơn nữa, xét về mặt tâm lý thì không ai tin vào việc cải
chính của người có quyền đối với hình ảnh bị xâm phạm.
Tại khoản 2, khoản 3 Điều 25 BLDS quy định: “khi quyền nhân thân
của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền yêu cầu người vi phạm
hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt
hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người vi phạm hoặc
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại”.
15


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Theo quy định này, người có quyền nhân thân bị xâm phạm được yêu cầu cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ. Nhưng tại quy định từ Điều 25 đến
Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 cũng chưa quy định cụ thể thẩm quyền
của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến quyền
nhân thân như yêu cầu bảo vệ họ tên, hình ảnh; yêu cầu bảo vệ bí mật đời tư;
yêu cầu bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Do pháp luật lại không quy định
rõ cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền vì vậy trên thực tế không ít trường
hợp đương sự không xác định được cơ quan, tổ chức nào về việc bảo vệ
quyền nhân thân của họ khi bị xâm phạm.
Điều 31 BLDS 2005 chỉ quy định khi hình ảnh của cá nhân đã chết,
cá nhân mất năng lực hành vi dân sự hoặc chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha,
me, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý.
Tức là khi tổ chức, cá nhân khác sử dụng hình ảnh của cá nhân đã chết hoặc
mất năng lực hành vi dân sự, hoặc chưa đủ 15 tuổi thì cần phải có sự đồng ý
của người thân của cá nhân đó. Nhưng luật không dự liệu trường hợp cá

của người đó.
Ngoài ra, đối với trường hợp người có hình ảnh đã chết thì việc sử dụng
hình ảnh đó phải được sự đồng ý của bố, mẹ, vợ, chồng, con của người đó.
Trên thực tế, do chỉ bó hẹp thân nhân là như trên nên yêu cầu xin phép sẽ
chấm dứt khi những người này qua đời. Quy định này dẫn đến hai tình
huống cực đoan là hoặc phải xin phép trong thời gian rất dài hoặc được tự do
sử dụng hình ảnh sau khi người có hình ảnh chết trong trường hợp nhân thân
của họ còn sống nhưng lại không thuộc diện cha, mẹ, vợ, chồng, con. Theo
quy định trên thì việc phát tán, công khai hình ảnh thì phải cần sự đồng ý
của người có hình ảnh. Trong nhiều trường hợp đương sự khó biết được hình
ảnh của mình có bị phát tán hay không, đặc niệt đối với những trường hợp
phát tán trong phạm vi hẹp hoặc sau một thời gia dài mới phát tán. Trong
điều kiện các trang thiết bị ghi hình ngày càng phổ biến thì việc pháp luật
không có quy định đối với việc quay phim, chụp hình trong không gian riêng
tư của cá nhân trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong xã hội. Vì nếu không
chứng minh người chụp trộm, quay trộm đã phát tán các hình ảnh này thì
không thể quy trách nhiệm dân sự theo Điều 31 BLDS 2005 hay trách nhiệm
hình sự theo Điều 121 (Tội làm nhục người khác). Một vướng mắc nữa
trong Điều 31 BLDS 2005 còn quy định nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh
của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó. Dù
pháp luật bảo vệ hình ảnh của cá nhân được thể hiện dưới bất kỳ hình thức
nào, kể cả tranh vẽ, ảnh chụp, quay phim, nhưng pháp luật chỉ bảo vệ hình
17


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ảnh cá nhân với điều kiện cá nhân có thể nhận dạng, người xem hình có thể

nhân không cần sự chấp thuận của họ nếu đáp ứng các điều kiện
sau:

18


LUẬT DÂN SỰ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

+ Không ảnh hưởng tới quan hệ của những người có mặt trong ảnh trong
xã hội;
+ Không cản trở việc phát triển nhân cách của người đó;
+ Không sử dụng cho mục đích thương mại.
Thứ ba, Cần sửa đổi, bổ sung đoạn đầu Điều 25 BLDS theo hướng quy
định không chỉ người có quyền nhân thân bị xâm phạm có quyền yêu cầu
bảo vệ mà cả người đại diện hợp pháp của họ cũng có quyền yêu cầu bảo vệ.
Yêu cầu bảo vệ được đặt ra trong cả trường hợp người có quyền nhân thân bị
xâm phạm đã chết. Tại khoản 2 Điều 25 BLDS sửa đổi, bổ sung theo hướng
quy định rõ ràng cơ quan, tổ chức thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền nhân
thân của cá nhân để tạo thuận lợi cho cá nhân có quyền nhân thân bị xâm
phạm kịp thời thực hiện được việc bảo vệ quyền nhân thân của mình.
Thứ tư, về vấn đề bồi thường thiệt hại, cần quy định một mức phạt hợp
lý để nhằm ngăn chặn, răn đe không tái phạm hành vi xâm phạm của những
người có dụng ý xấu. Vì hiện nay quy định mức bồi thường thiệt hại không
quá mười tháng lương tối thiểu (mức lương tối thiểu chung hiện nay là
730.000 đồng/tháng) còn khá khiêm tốn so với một hành vi xâm phạm
quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Vì vậy mà hiện tượng tái phạm hành vi
xâm phạm vẫn tiếp tục diễn ra. Cần phải quy định một mức bồi thường cao
hơn, vì nếu mức bồi thường thiệt hại thấp hơn lợi nhuận của các cơ quan báo

đáng cho những vấn đề còn đang nhiều bức xúc hiện nay của xã hội.

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status