đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Á đồng thời xem xét xã hội cổ đại phương Đông - Pdf 33

Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

A. MỞ ĐẦU
I, Lý do nghiên cứu
II, Lịch sử nghiên cứu vấn đề
B. NỘI DUNG
I. Những đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Á
1. Khái niệm về phương thức sản xuất châu Á
1.1. Phương thức sản xuất
1.2. Phương thức sản xuất Châu Á
2. Những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất châu Á
II. Xem xét xã hội cổ đại phương Đông có thuộc phạm trù phương
thức sản xuất Châu Á không? Tại sao?
1. Quan hệ giai cấp và hình thức bóc lột chủ yếu ở các nước
phương Đông cổ đại
1.1. Ai Cập cổ đại
1.2. Lưỡng Hà cổ đại
1.3. Ấn Độ cổ đại
1.3.1. Giai cấp nông dân
1.3.2. Giai cấp nô lệ
1.3.3.Giai cấp bóc lột
1.4. Trung Quốc cổ đại
1.4.1. Giai cấp nông dân
1.4.2. Giai cấp nô lệ
1.4.3. Giai cấp bóc lột
2. Mối quan hệ giữa phương thức sản xuất của phương Đông cổ
đại và phương thức sản xuất Chiếm hữu nô lệ
2.1. Phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ

1


sự đối kháng của các giai cấp và sự bóc lột người với người không được thể
hiện. Hình thái đặc biệt này mang lại nhiều mối bận tâm cho chính các nhà
sáng lập nên phương pháp lịch sử, và cho cả những người kế tục nhiệt tình.
Từ lâu vấn đề phương thức sản xuất châu Á đã trở thành đề tài nghiên
cứu và tranh luận của giới nghiên cứu Mác xít ở nhiều nước trên thế giới.
Nhằm mục đích làm sáng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê nin về sự phát triển của xã
hội, lý giải hàng loạt các vấn đề đang được đặt ra trong lịch sử nhân loại, đó
là con đường phát triển và xây dựng xã hội của các nước Á, Phi, Mỹ la tinh
đã và đang thoát ra khỏi ách thống trị của đế quốc chủ nghĩa, vấn đề phương
thức sản xuất châu Á ngày càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu
Mác xít ở nhiều nước, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước phát triển phi tư
bản và cả các nước tư bản chủ nghĩa.

3


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

Hàng loạt các cuộc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Liên
xô (1929 - 1921), (1964-1965), ở Pháp (1962-1963) và nhiều công trình
nghiên cứu khác của các học giả trên thế giới đã chứng minh điều đó.
Tuy nhiên, cho tới nay, các cuộc thảo luận về phương thức sản xuất
châu Á vẫn chưa kết thúc, các ý kiến về phương thức sản xuất châu Á vẫn
còn phân tán.
Nghiên cứu về phương thức sản châu Á, đó là nhiệm vụ đặt ra để nhận
thức lịch sử, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước còn
mang nhiều tàn dư của xã hội phương đông cổ đại. Để từ đó có được đánh
giá một cách khoa học và có thái độ, biện pháp xử lý đúng mức. Không
nhưng thế, nhiệm vụ đó còn góp phần làm phong phú học thuyết Mác –
Lênin về con đường phát triển xã hội từ vị trí một nước phương Đông của

Từ công trình “Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), Mác đã phát hiện ra
rằng “Sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau
của sở hữu”. Từ đây Mác đã tìm thấy 3 hình thức sở hữu đầu tiên :
+ Sở hữu bộ lạc.
+ Sở hữu công xã và sở hữu Nhà nước.
+ Sở hữu phong kiến (hay sở hữu đẳng cấp).
 Các hình thức sở hữu đó đều gắn liền với sự xuất hiện của nhà
nước.
Đến công trình về “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ (1853)”, Mác và
Enghen đã phát hiện ra những nét đặc thù của xã hội phương Đông là “Nhà
nước chuyên chế phương Đông – chuyên chế châu Á” và “chế độ công xã
nông thôn”.
5


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

Tiếp đến, trong thư gửi cho Enghen, tháng 6-1853, Mác khẳng định :
“Nhà vua là kẻ sở hữu duy nhất tất cả mọi đất đai trong quốc gia”, và “Tình
hình không có chế độ tư hữu về ruộng đất. Đó là chiếc chìa khoá thực sự
ngay cả cho thiên giới phương Đông”1. Quan điểm trên của Mác tiếp tục
được ông nhắc đến ở các công trình sau đó như trong tác phẩm : Những kết
quả tương lai của sự thống trị của Anh ở Ấn Độ (7-1853); Những hình thức
có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa (viết từ tháng 3-1857 – tháng 3 - 1858)…
Trong tác phẩm “Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa
(xuất bản 1976)”, Mác có viết : “Lịch sử châu Á – đó là một thể thống nhất
không phân biệt giữa thành thị và nông thôn”.
Như vậy, đến công trình “Những hình thức có trước sản xuất tư bản
chủ nghĩa” (viết từ tháng 3-1857 – tháng 3 – 1858), tư tưởng của Mác đã
chín muồi cho sự ra đời của khái niệm phương thức sản xuất châu Á.

hàng đầu như : Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Lương Bích, Lê Kim Ngân,
Trần Quốc Vượng, Văn Tạo, Phan Huy Lê…Có người thì cho rằng xã hội cổ
đại Việt Nam đã tiến thẳng từ cộng sản Nguyên thủy sang chế độ phong
kiến, không qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Cũng có một số người thì cho rằng
xã hội cổ đại Việt Nam là xã hội chiếm hữu nô lệ…Vào những năm 1959 –
1960, nhiều cuộc hội thảo khoa học được mở ra và gây nhiều tranh cãi sôi
nổi, trực tiếp đề cập đến vấn đề phương thức sản xuất châu Á, về công xã
nông thôn, đặc biệt từ năm 1968 trở đi, vấn đề này được đề cập rộng rãi và
có hệ thống.
Bên cạnh những hoạt động nghiên cứu ở trong nước, thì ở nước ngoài
như : ở Pháp tác giả Lê Thành Khôi cũng tham gia nghiên cứu với tác phẩm
“Góp phần nghiên cứu phương thức sản xuất châu Á : Nước Việt Nam cổ
đại”….
Trong giới nghiên cứu bấy giờ, một trong những người đầu tiên bàn
về vấn đề này là Nguyễn Hồng Phong. Dưới góc độ dân tộc học, Nguyễn
Hồng Phong đã viết tác phẩm “xã thôn Việt Nam” (1959). Qua tác phẩm Xã
thôn Việt Nam, ta thấy từ năm 1959 đặc điểm của xã hội phương Đông cổ
7


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

đại nói chung, của Việt Nam nói riêng, được nhìn nhận dưới ánh sáng của lý
thuyết phương thức sản xuất châu Á và nêu lên được những vấn đề cơ bản
mang tính chất khởi đầu cho việc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á
ở Việt Nam.
Nguyễn Lương Bích đã có tác phẩm “phương thức sản xuất châu Á là
gì?” đăng liên tiếp trong 2 số Nghiên cứu lịch sử vào năm 1963. Trong tác
phẩm này, tác giả đã giành nhiều cho việc giới thiệu, thuyết minh về phương
thức sản xuất châu Á. Nguyễn Lương Bích cho rằng phương thức sản xuất

Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

B. NỘI DUNG
I. Những đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Á
1. Khái niệm về phương thức sản xuất châu Á
Để tìm hiểu phương thức sản xuất châu Á là gì, chúng ta phải làm rõ
khái niệm phương thức sản xuất là gì.
1.1. Phương thức sản xuất: là một khái niệm trong học thuyết duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Marx. Nó có nghĩa nôm na là “cách thức của sản
xuất”. Theo Marx, nó là tổ hợp hữu cơ cụ thể của:


Lực lượng sản xuất: bao gồm lực lượng lao động, công cụ và thiết

bị lao động, nhà xưởng, công nghệ, nguyên vật liệu và đất đai được sử dụng.


Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sở hữu, các quan hệ kiểm

soát và phân chia các tài sản đã được sản xuất trong xã hội, thông thường
được đưa ra trong các hình thức của luật, lệ và các quan hệ giữa các giai cấp
xã hội.
1.2. Phương thức sản xuất Châu Á
Phương thức sản xuất châu Á là một khái niệm khoa học do Mác đề ra
lần đầu tiên vào năm 1859 để biểu thị một số đặc thù của xã hội phương
Đông cổ xưa. Mác đưa ra trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế
chính trị” xuất bản năm 1859, trong đó Mác chủ yếu bàn về những nguyên
lý của phép biện chứng duy vật và áp dụng nguyên lý đó vào trong nghiên
cứu lịch sử. Trong công trình này có một mệnh đề Mác phát biểu rằng: “ Về
đại thể, có thể coi phương thức sản xuất châu Á cùng với cổ đại, phong kiến

hội ngoài năm hình thái kinh tế đã được xác định rõ là: cộng sản nguyên
thủy, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa không?.
+ Những đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á là gì?.
+ Phương thức sản xuất châu Á đã đóng vai trò như thế nào trong sự
phát triển của lịch sử xã hội phương Đông?.

11


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

Trong quá trình tranh luận tại hội thảo Lêningrat, người ta phải quyết
định là phải chấm dứt cuộc thảo luận vì để nó tiếp tục diễn ra thì nó sẽ làm
ảnh hưởng thậm chí làm rối loạn tình hình chính trị ở Liên Xô. Từ đó hình
thành lên hai nhóm ý kiến khác nhau:
+ Nhóm 1 cho rằng : phương thức sản xuất châu Á là những nét đặc
thù của hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ hay phong kiến phương
Đông.
+ Nhóm 2 cho rằng : phương thức sản xuất châu Á là một hình thái
kinh tế xã hội phân hóa giai cấp và nhà nước sơ kỳ ở phương Đông, không
thuộc phạm trù chế độ chiếm hữu nô lệ hay phong kiến.
Như vậy, sau cuộc tranh luận lần thứ nhất trên thế giới, cả phương
Đông và phương Tây điều diễn ra cuộc tranh luận gây gắt về phương thức
sản xuất châu Á, cuộc tranh luận đó của giới sử học Mác xít và tiến bộ trên
thế giới đến nay vẫn chưa ngã ngũ.
2. Những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất châu Á
Mác và Ăngghen đã nghiên cứu lịch sử phương Đông thời kỳ tiền
thực dân và đã phát hiện nhiều đặc điểm quan trọng của xã hội phương
Đông. Từ việc phát hiện ra một số đặc điểm của phương thức sản xuất châu
Á, Mác tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm rõ, trong quá trình nghiên cứu đó

đặc thù của công xã châu Á trong phương thức sản xuất châu Á như sau :
+ Trong phương thức sản xuất châu Á, sản xuất hàng hóa chậm phát
triển .
+ Trong phương thức sản xuất châu Á, tô và thuế kết hợp làm một.
+ Với phương thức sản xuất châu Á, nhân tố về sức mạnh của hiệp tác
giản đơn của những người lao động dưới sự chỉ huy của nhà nước chuyên
chế phương Đông đã tạo nên những công trình xa hoa hay có ích.
+ Tính độc chuyên của phường hội và sự hình thành các đẳng cấp xã
hội cũng được Mác – Ăngghen coi như coi nhẹ một trong những nét đặc thù
của phương thức sản xuất châu Á.
13


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

+ Sự duy trì các tôn giáo cổ đại, sự thần thánh hó thiên nhiên, củng
được coi như một đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á về mặt văn
hóa xã hội.
+ Tính trì trệ và tồn tại dai dẳng của phương thức sản xuất châu Á
trong các xã hội phương Đông.
Đó là những nét đặc thù của phương thức sản xuất châu Á mà Mác đã
phát hiện ra. Như vậy là nội hàm của phương thức sản xuất châu Á đã được
phát triển với những nét riêng biệt của nó.
Ăngghen tuy đồng ý với Mác về nội dung của phương thức sản xuất
châu Á, nhưng không sử dụng khái niệm này. Trong tác phẩm chống
Đuyrinh, Ăngghen đã phát triển tư tưởng phương thức sản xuất châu Á của
Mác, nhấn mạnh đến tính chất bình quân công xã, bình đẳng giữa các thành
viên công xã, các công xã nguyên thủy – cơ sở của Nhà nước thô sơ nhất –
Nhà nước chuyên chế phương Đông, chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất,
chế độ nô lệ gia đình…nhằm làm rõ thêm những nét đặc thù của phương

Giai cấp đông đảo và giữ vai trò quan trọng nhất trong đời sống kinh
tế là giai cấp nông dân. Do có quan hệ với ruộng đất khác nhau, giai cấp này
chia thành nhiều loại: nông dân công xã, nông dân nông trang, nông dân tự
canh. Cùng với sự phát triển của lịch sử, tỷ lệ giữa ba loại đó có thay đổi,
nhưng nói chung, nông dân công xã là thành phần đông đảo nhất. Họ cày
cấy phần đất của công xã chia cho nhưng họ là dân tự do và được gọi là
“thần dân của vua”.
Nông dân tự canh là nông dân có một ít ruộng đất riêng, loại này đã
xuất hiện từ thời cổ vương quốc. Tuy loại nông dân này đã tồn tại trong lịch
sử Ai Cập cổ đại , nhưng về số lượng thì họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Nông dân nông trang là những người không có ruộng đất và các tư
liệu sản xuất khác, họ phải canh tác ruộng đất trong các nông trang của vua,
quan và đền miếu bằng công cụ và súc vật của nông trang. Đến thời Tân
vương quốc và Trung vương quốc, công xã nông thôn dần dần tan rã, nhiều
15


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

nông dân công xã đã biến thành nông dân nông trang. Đồng thời, đến thời kỳ
này, phương thức sử dụng lao động của nông dân nông trang cũng thay đổi:
hình thức quản lý ngày công và trả công bằng hiện vật được thay bằng hình
thức phát canh thu tô.
Trừ loại nông dân nông trang vừa trình bày, nông dân tự do bao gồm
nông dân công xã và nông dân tự do đều phụ thuộc vào nhà nước, do vậy, họ
có nghĩa vụ phải nộp thuế, họ bị đánh đập thậm tệ, có khi còn bị trói lại và
xách ngược ném xuống giếng. Thời cổ vương quốc còn để lại bức tranh
người nông dân bị lôi đi nộp thuế.
Ngoài việc nộp thuế, nông dân còn phải đi lao dịch để xây dựng các
công trình kiến trúc lớn cho nhà nước.Thời cổ vương quốc, nhân lực chủ yếu

lại, các vua Ai Cập còn ban cấp nhiều ruộng đất cho các đền miếu.
Để quản lý và canh tác ruộng đất của mình, các quan lại và những
người trông coi đền miếu tổ chức thành lập những nông trang. Nông trang là
những đơn vị tự túc, tự cấp, trong đó có đủ các ngành sản xuất: nông nghiệp,
thủ công nghiệp, chăn nuôi, săn bắn, đánh cá… Vì vậy, chủ nông trang được
cung cấp đầy đủ mọi nhu cầu.
Lực lượng lao động nông nghiệp chủ yếu trong các nông trang đó là
nông dân nông trang. Họ, hoặc là canh tác ruộng đất của chủ bằng công cụ
và súc vật của chủ và được trả một số thù lao bằng hiện vật, hoặc được giao
một mảnh đất và phải nộp địa tô. Vào những dịp mùa màng bận rộn, chủ
nông trang còn thuê nông dân công xã đến làm việc.
Ngoài ruộng đất, chủ nông trang còn có rất nhiều nô lệ. Số nô lệ chủ
yếu là những người bị bắt trong các cuộc chiến tranh xâm lược và được nhà
vua ban tặng.
Ngoài các giai cấp nói trên, ở Ai Cập cổ đại còn có tầng lớp thợ thủ
công và đến thời Tân vương quốc có them những người buôn bán.
Tóm lại, ở Ai Cập cổ đại, giai cấp đông đảo và giữ vai trò quan trọng
nhất trong nền kinh tế chính là giai cấp nông dân chứ không phải là giai cấp
17


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

nô lệ. Hình thức bóc lột chủ yếu đối với đại đa số nông dân là thuế và đối
với một bộ phận nông dân khác là sức lao động trực tiếp hoặc địa tô.
1.2. Lưỡng Hà cổ đại
Tình hình kinh tế, xã hội của Lưỡng Hà cổ đại cũng giống như ở Ai
Cập cổ đại, song nhờ có nhiều tư liệu, nhất là các bộ luật còn để lại đến ngày
nay mà chúng ta biết được tương đối cụ thể hơn về tình hình các giai cấp và
các hình thức bóc lột lúc bấy giờ.

người bị bắt nợ và chủ yếu là do mua về.Lưỡng Hà không phải là một quốc
gia, mà ở đó tồn tại nhiều quốc gia hung mạnh lừng lẫy một thời. Gắn liền
với những quốc gia hưng vong đó thường là những cuộc chinh phục. Do đó,
lượng tù binh và dân thường bị bắt không phải là ít.
Nguồn thứ hai là nô lệ vì nợ. Điều 117 của luật Hamurabi viết:”Nếu
dân tự do vì mắc nợ phải bán vợ, con hoặc bị gán làm nô lệ vì nợ thì họ phải
phục dịch ở nhà người mua hoặc nhà chủ nợ 3 năm, đến năm thứ tư, họ được
trả lại tự do”.Thực chất, họ giống như người đi mướn để trả nợ, số lượng nô
lệ vì nợ vì thế không nhiều.
Công việc chủ yếu của nô lệ vẫn là hầu hạ trong cung đình, đền miếu,
tư gia, một bộ phận bị huy động đi xây dựng các công trình kiến trúc, thủy
lợi; một bộ phận làm việc trong các vườn quả, mục trường, đánh cá; một số
làm trong các xưởng thủ công…số lượng nô lệ làm việc trên đồng ruộng
tương đối ít. Có tài liệu cho biết, trong một số nông trang của nhà vua rộng
200ha mà chỉ có 24 nô lệ làm việc.
- Giai cấp bóc lột: Ở Lưỡng Hà cổ đại, thuộc về giai cấp này gồm có
vua, quan, tăng lữ, những người có nhiều ruộng đất, Tamca (thương nhân
kiêm chủ ruộng). Tài sản chính của họ là ruộng đất, nhưng phương thức bóc
lột của họ không giống nhau.
Ruộng đất của vua là đền miếu…được tổ chức thành những nông
trang. Lực lượng lao động chủ yếu trong các nông trang ấy là nông dân,

19


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

nhưng phương thức bóc lột ở các quốc gia và các thời kỳ không hoàn toàn
giống nhau.
Ở Xume, vào thế kỷ XXII-XXVI TCN, người lao động trong các

động làm thuê, nhưng đó là quan hệ làm thuê dưới chế độ chuyên chế.
Giai cấp nô lệ tồn tạo phổ biến, nhưng trong việc sản xuất ở các
vương trang, đền miếu họ chỉ đóng vai trò thứ yếu. Còn trong cả nước, thì
vai trò kinh tế của họ lại càng không quan trọng.
1.3. Ấn Độ cổ đại
So với các nước phương Đông cổ đại, xã hội Ấn Độ cổ đại có nhiều
nét rieng biệt.Đó là sự tồn tai vững chắc của tổ chức công xã nông thôn và
chế độ đẳng cấp.Những tổ chức đó đã có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu giai cấp
của xã hội Ấn Độ cổ đại, làm cho xã hội Ấn Độ cổ đại phát triển chậm chạp
và ít thay đổi không chỉ trong thời cổ đại mà ngay cả trong thời trung đại.
Mặc dầu có nhiều đặc điểm riêng, nhưng cơ cấu giai cấp chủ yếu trong xã
hội vẫn là nông dân, nô lệ, và giai cấp bóc lột.
1.3.1. Giai cấp nông dân
Do sự tồn tạ vững chắc và phổ biến của tổ chức công xã nông thôn
nên giai cấp nông dân Ấn Độ tương đối thuần nhất. Họ hầu hết là nông dân
công xã.Quyền sỡ hữu tối cao về ruông đất thuộc về chính phủ trung ương,
nhưng ở các làng, quyền sở hữu thuộc về công xã nông thôn. Theo định kỳ,
các hộ nông dân được công xã chia cho một phần ruộng đất để canh tác.
Việc tưới nước ruộng đất của nông dân do công xã phụ trách, hoa màu của
nông dân được công xã cử người bảo vệ. Bên cạnh những quyền lợi đó,
nông dân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho nhà nước. Ngoài thuế ruộng thu
bằng ngũ cốc, nông dân còn phải nộp các khoản thuế phụ đánh vào cây hoa
màu, sản phẩm chăn nuôi….
Ở từng làng, người trực tiếp thu các khoản thuế của nông dân công xã
là trưởng thôn (lý trưởng). Giữa làng và trung ương còn có 4 cấp hành chính

21


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

Như vậy, hiện tượng phát canh còn rất hạn hữu và người lĩnh canh chỉ
là một số ít trong đẳng cấp Suđra mà thôi. Họ chưa được coi là một tầng lớp
nông dân bên cạnh nông dân công xã.
1.3.2. Giai cấp nô lệ
So với Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc cổ đại, Ấn Độ cổ đại là nơi
quan hệ nô lệ kém phát triển nhất.
Trong tác phẩm Inđika đã ghi lại rằng, cư dân trong xã hội Ấn Độ cổ
đại thời đó bao gồm 7 tầng lớp:
- Hiền triết: tầng lớp này ít nhất nhưng có địa vị cao nhất, họ không
phải phục dịch, không phải nộp thuế.
- Nông dân: tầng lớp này đông đảo nhất, họ không phải đi lính, chỉ
cày ruộng và nộp thuế.
- Những người chăn nuôi và săn bắn: họ phải nộp thuế bằng súc vật.
- Dân buôn, thợ thủ công và thủy thủ: họ phải nộp thuế bằng sản
phẩm, riêng loại thợ làm vũ khí và đóng thuyền thì được vua trợ cấp tiền.
- Binh lính: số người của tầng lớp này chỉ thua nông dân. Họ hỉ làm
một nhiệm vụ là chiến đấu chứ ngoài ra không làm bất cứ một việc gì khác.
Họ được cung cấp ngựa voi do người khác nuôi, tời bình, họ cũng vẫn được
hưởng lương.
- Mật thám của chính phủ: nhiệm vụ của họ là báo cáo tình hình dân
gian với nhà vua hoặc các quan đứng đầu địa phương.
- Cố vấn của vua (hoặc công chức ở địa phương): tầng lớp này không
đông lắm nhưng họ là lực lượng quan lại chủ yêu ở địa phương.
Trên thực tế, Ấn Độ có một tầng lớp người gọi là đaxa, đó là những
người nô lệ và những người có thân phận tôi tớ nói chung.
Theo sách “bàn về chính trị”, Ấn Độ cổ đại có 15 loại đaxa:
- Do bố mẹ là đaxa đẻ ra
23

phản ánh của các tư liệu lịch sử, có thể khẳng định hơn bất cứ nước phương
24


Học viên : Nguyễn Thị Lan Phương - Cao học Lịch sử Việt Nam - K20

Đng cổ đại nào khác, thì số lượng nô lệ của Ấn Độ là ít nhất. Công việc lao
động sản xuất trong nông nghiệp đã có nông dân công xã, trong thủ công
nghiệp đã có Suđra đảm nhiệm, nên vai trò của nô lệ trong đời sống kinh tế
cũng rất mờ nhạt.
1.3.3.Giai cấp bóc lột
Giai cấp bóc lột chủ yếu ở Ấn Độ cổ đại bao gồm các vương công
quan lại các cấp và các đạo sĩ.
Thời cổ đại, Ấn Độ chưa bao giờ được thống nhất hoàn toàn mà
thường bị chia cắt thành nhiều tiểu quốc. Trong từng quốc gia nhỏ đó, ruộng
đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua. Vua đem ruộng đất phong cho
các quan lại, đền hùa, đạo sĩ. Đơn vị ruộng đất dùng để phong cấp phần lớn
là làng mà ở đó đang tồn tại tổ chức công xã nông thôn.
Hình thức bóc lột trên ruộng đất của nhà nước cũng như trên ruộng
đất đã ban cấp cho quan lại, đền chùa, đạo sĩ, đều là thuế.
Tóm lại, cơ cấu giai cấp và hình thức bóc lột ở Ấn Độ cổ đại tương
đối đơn giản: Giai cấp lao động sản xuất chủ yếu, đồng thời cũng là đối
tượng bị bóc lột chủ yếu là nông dân công xa, và hình thức bóc lột chủ yếu
là thuế ruộng đất. Tầng lớp nô lệ, tương đối ít về số lượng, chỉ làm côn việc
hầu hạ mà thôi.
1.4. Trung Quốc cổ đại
Từ ngàn xưa, Trung Quốc đã là một nước nông nghiệp, nghề nông
được coi là một nghề gốc nên cơ cấu giai cấp và phương thức bóc lột ở đây
về đại thể cũng tương tự như các nước phương Đông cổ đại khác.
1.4.1. Giai cấp nông dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status