đánh giá hiệu quả của hình thức sản xuất lúa tái sinh ở huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình - Pdf 13

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có hơn 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp. Nông nghiệp là trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã
hội và giữ một vị trí hết sức quan trọng. Nó là “cứu cánh” cho nền kinh tế
trong nhiều đợt khủng hoảng trên toàn cầu. Đặc biệt trong sản xuất nông
nghiệp ngành sản xuất lương thực mà chủ yếu là sản xuất lúa chiếm vị trí
quan trọng, quyết định sự ấm no hay phồn vinh của nông thôn và của toàn bộ
nền kinh tế xã hội của quốc gia. Vậy nên, sản xuất lượng thực nói chung và
sản xuất lúa gạo nói riêng không những là một vấn đề thiết yếu mà còn là chỗ
dựa vững chắc để tạo đà phát triển cho các ngành sản xuất khác trong nền
kinh tế quốc dân. Nó còn là nguồn dự trữ để nhà nước thực hiện chính sách xã
hội. Từ trước đến nay, Đảng và Nhà Nước ta luôn xem đây là mục tiêu chiến
lược trong định hướng phát triển nền kinh tế.
Từ sau đổi mới đến nay, nước ta đã có nhiều thành tựu đáng kể trong
sản xuất lúa gạo. Sản xuất không những đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
mà còn để xuất khẩu ra các nước trên toàn thế giới. Ngày nay, Việt Nam là
một trong hai nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Lệ Thủy là huyện nằm phía Nam tỉnh Quảng Bình với trên 95% dân số
sống ở khu vực nông thôn. Nơi đây là vùng sản xuất chuyên canh lúa với
những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay của xã An Thủy, Phong Thủy, Liên
Thủy, Lộc Thủy Tổng diện tích gieo cấy hàng năm là trên 17000 ha, sản
xuất 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu, năng suất trung bình đạt 3 tạ/ sào/ vụ.
Những năm trở lại đây, trên địa bàn huyện đã xuất hiện một hình thức
sản xuất mới thay thế vụ Hè Thu trước đây. Nó được áp dụng trên những
vùng đất trũng, thường xuyên bị lụt và chuột phá hoại, đó là “ sản xuất lúa tái
sinh” hay địa phương còn gọi là “lúa Chét”. Lúa tái sinh được hiểu “là cây lúa
sau khi thu hoạch vụ Đông Xuân, người dân giữ gốc rạ lại chăm bón tiếp cho
sinh trưởng như lúa mới gieo trồng”. Hiện nay, nhiều xã đã áp dụng 100%
hình thức sản xuất này điển hình như An Thủy, Lộc Thủy, Phong Thủy Tuy
nhiên, một số xã vẫn tồn tại hai hình thức sản xuất lúa vụ Hè Thu và lúa tái

Bắc cho tới Nam bán cầu ở Châu Phi, Australia 35
0
Nam. Nhưng nó
vẫn được trồng nhiều nhất ở khu vực nhiệt đới.
Về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa, có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý
kiến cho rằng cây lúa được hình thành đầu tiên ở vùng Tây bắc Ấn Độ,
Myanma, Thái Lan, Việt Nam, Nam Trung Quốc, Lào. Ý kiến khác cho rằng,
cây lúa bắt nguồn gốc từ Ấn Độ Tuy nhiên, những vùng được cho là xuất xứ
nói trên đều có đặc điểm giống nhau về điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm
phù hợp với cây lúa. Nơi đây đã và đang tồn tại các loại hình lúa dại có ít
nhiều quan hệ với lúa trồng. Mặt khác, các tài liệu lịch sử, đời sống văn hóa,
xã hội, tập quán của vùng này gắn bó chặt chẽ từ lâu đời. Và nơi đây, lúa
gạo được coi là nguồn lương thực chính có liên quan đến đời sống của hàng
trăm triệu người.
Về nguồn gốc thực vật, cây lúa thuộc họ hòa thảo (gramineae), chi
Oryza.
Trong thực tế sản xuất hiện nay có thể chia lúa trồng thành 4 loại hình
với tiêu chẩn phân loại khác nhau: (1) Theo điều kiện sinh thái và vĩ độ địa lý
có lúa tiên và lúa cánh; (2) Theo mùa vụ gieo cấy trong năm và thời gian sinh
trưởng có lúa chiêm và lúa mùa; (3) Theo điều kiện tưới và gieo cấy có lúa
3
nước và lúa cạn; (4) Theo chất lượng và hình dạng hạt lúa có lúa tẻ và lúa
nếp, lúa hạt tròn và lúa hạt dài [1].
2.2.Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu Á.
Cây lúa là loại cây dễ trồng, cho năng suất cao. Thống kê của tổ chức lương
thực thế giới (FAO, 2008) cho thấy, có 114 nước trồng lúa, trong đó Châu Phi
có 41 nước, Châu Á có 30 nước, Bắc Trung Mỹ có 14 nước, Nam Mỹ có 13
nước và Châu Đại Dương có 5 nước. Có 18 nước có diện tích trồng lúa trên
trên 1.000.000 ha tập trung ở Châu Á, , 31 nước có diện tích trồng lúa trong

1995 149,49 3,66 547,20
2000 153,94 3,89 598,40
2005 152,90 4,12 629,30
2006 153,42 4,16 635,56
2007 153,02 4,21 639,24
( Nguồn: FAO 2008)
Tình hình nhìn chung năng suất các nước trong 8 năm (2000 – 2008)
cho thấy năng suất lúa cao tập trung ở các quốc gia á nhiệt độ ngày và đêm
cao hơn và trinh độ canh tác phát triển tốt hơn. Các nước nhiệt đới có năng
suất bình quân thấp do chế độ nhiệt và ẩm độ cao, sâu bệnh phát triển mạnh
và trình độ canh tác hạn chế (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
5
Tình hình nhìn chung của các nước có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế
giới năm 2008. Đứng đầu vẫn là 8 nước châu Á là Ấn Độ, Trung Quốc,
Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines. Tuy
nhiên năng suất chỉ có 2 nước có năng suất cao hơn 5 tấn/ha là Trung Quốc và
Việt Nam. Mặc dù năng suất lúa ở các nước Châu Á còn thấp nhưng do diện
tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là nguồn đóng góp rất quan trọng cho sản
lượng lúa trên thế giới (trên 90%). Như vậy, có thể nói Châu Á là vựa lúa
quan trọng nhất thế giới [3].
2.3.Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây lúa đã được trồng từ lâu đời, theo tài liệu khảo cổ học
thì nghề trồng lúa có từ 4000-3000 năm trước công nguyên. Đến nay, cây lúa
là cây trồng chính của ngành nông nghiệp Việt Nam. Cây lúa được trồng ở
trên khắp các tỉnh thành của đất nước ta.
Tính đến năm 1939, ở Việt Nam có 2.450.000 ha, sản xuất được
2.407.000 tấn thóc, năng suất cả hai miền xấp xỉ 13 tạ/ha. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, lúa sản xuất ở miền Bắc chủ yếu để tiêu thụ nội địa, ở miền nam
có xuất khẩu ra các nước khác nhưng số lượng không đáng kể ( bình quân từ
năm 1944 – 1960 khoảng 200 tấn).

nay Việt Nam xuất khẩu hàng năm đạt trên 3 triệu tấn và vươn lên đứng thứ
nhì thế giới. Đó là một thành tích đáng kinh ngạc của ngành sản xuất lương
thực nước ta [2].
Theo thống kế của FAO năm 2008, Việt Nam có diện tích lúa khoảng
7,4 triệu ha đứng thứ 7 sau các nước có diện tích lúa trồng nhiều ở Châu Á
theo thứ tự Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Myanmar.
Việt Nam có năng suất 5,2 tấn/ha đứng thứ 24 trên thế giới. Có mức tăng
năng suất trong 8 năm qua là 0,98 tấn/ha đứng thứ 12 trên thế giới và đứng
đầu của 8 nước có diện tích lúa nhiều ở Châu Á về khả năng cải thiện năng
suất lúa trên thế giới
Theo thống kế của FAO năm 2008, Việt Nam có tổng sản lượng lúa
hàng năm đứng thứ 5 trên thế giới, nhưng lại là nước xuất khẩu gạo đứng thứ
2 (5,2 triệu tấn) sau Thái Lan (9,0 triệu tấn), chiếm 18% sản lượng xuất khẩu
gạo thế giới, 22,4% sản lượng xuất khẩu gạo của châu Á, mang lại lợi nhuận
1275,9 tỷ USD năm 2006. Ở Việt Nam lúa gạo là sản phẩm cần được ưu tiên
hàng đầu vì diện tích nhiều nhất cả nước hơn bắp và sắn, sản lượng đứng đầu
hơn khoai lang và cây sắn. Đáng chú ý là năng suất lúa được cải thiện đáng
kể.
7
Bảng 3: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa nước ta
2008 2009 2010
Diện tích thu
hoạch (nghìn ha)
Số liệu

Số liệu
mới
Số liệu

Số liệu

tỉnh đã nổi tiếng với các hợp tác xã sản xuất giỏi, đạt năng suất lúa cao như
Đại Phong. Từ đó đến nay, Quảng bình luôn luôn quan tâm phát triển sản xuất
8
lúa, diện tích và năng suất lúa qua các năm có sự cải thiện đáng kể. Tuy
nhiên, tỉnh thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai như lũ lụt, rét đậm, rét
hại, hạn hán, vì vậy có một số năm năng suất lúa thấp.
Bảng 4: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa Quảng Bình (2000 -2008)
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
2000 46.276 41,28 191.040
2001 47.747 40,17 191.792
2002 47.852 43,07 206.090
2003 47.346 43,80 207.352
2004 48.255 46,68 225.249
2005 48.189 45,97 221.543
2006 49.188 47,14 231.827
2007 49.995 43,15 215.750
2008 50.257 46,32 226.586
(Nguồn: Cục thống kê Quảng Bình 2011, niên giám thống kê 2009 )
Qua bảng 4 trên ta thấy diện tích, năng suất và sản lượng lúa trong toàn
tỉnh khá ổn định và có tăng lên từ năm 2000 – 2008. Đạt được những kết quả
đó là do người dân đã áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất thâm canh
lúa và sử dụng các giống lúa cho năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả chốn
chịu như giống: HT1, IR 53, P6, P290, CH207, VN20, X21, X23,
2.4.2. Tình hình sản xuất lúa huyện Lệ Thủy
Lệ Thủy là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Quảng Bình, có tổng
diện tích tự nhiên là 16.833,35 ha, trong đó đất trồng lúa là 9.982,73 ha. Lệ
Thủy là một vùng chuyên canh lúa, là vựa lúa của cả tỉnh. Cây lúa là cây
trồng chủ đạo của huyện, người dân sống chủ yếu dựa và cây lúa. Huyện có
28 xã và thị trấn, trong đó 16 xã vùng đồng bằng là nơi tập trung sản xuất lúa
của cả huyện.

làm lúa ba vụ vì rủi ro cao, đặc biệt là những vùng hay bị lũ lụt có thể áp dụng
kỹ thuật này.
10
Phương pháp cơ bản của kỹ thuật làm lúa tái sinh (ở một số nơi gọi là
lúa Chét) là ngay sau khi gặt vụ lúa chính, ta để lại phần gốc rạ thích hợp (tùy
từng giống khác nhau, có thể để gốc rạ 10-25cm), sau đó bón phân kịp thời và
tưới nước, nếu có điều kiện làm cỏ sục bùn thì các chồi trên thân rạ có thể
phát triển, đẻ ra nhánh tái sinh. Nếu nhiệt độ và điều kiện ngoại cảnh thích
hợp, sau 20-30 ngày, nhánh tái sinh này sẽ trổ bông và sau đó một tháng sẽ
chín. Thời kỳ sinh trưởng phát triển của lúa tái sinh rất ngắn (45-55 ngày).
Làm lúa tái sinh có thể cho năng suất đạt từ 120 - 150kg / sào (500m
2
). Tuy
nhiên, muốn phát huy hết khả năng cho năng suất của lúa tái sinh thì phải có
kế hoạch trước từ vụ lúa chính và thực hiện đúng kỹ thuật chăm sóc chúng thì
năng suất có thể đạt 1,5 – 2 tạ/sào [4].
Ở nước ta, hình thức sản xuất lúa tái sinh còn khá mới, có rất ít địa
phương áp dụng hình thức này vào sản xuất. Một số địa phương có sản xuất
lúa tái sinh là: tỉnh Ninh Bình, Bình Định, Quảng Bình. Trong đó, một số địa
phưng chỉ để lúa tái sinh ở vụ 3, sau khi đã thu hoạch vụ hè thu. Năm 2009,
tỉnh Ninh Bình sản xuất gần 1.900 ha lúa tái sinh, năng suất bình quân đạt gần
15 tạ/ ha, Toàn tỉnh đã có hơn 20 HTX vùng trũng như Thượng Hoà, Sơn
Thành ( Nho Quan), Gia Trung, Gia Tiến, Gia Minh ( Gia Viễn), Yên Thắng,
Yên Đồng (Yên Mô), Lai Thành, Tân Thành, Kim Tân ( Kim Sơn), Yên Bình,
Tân Bình ( thị xã Tam Điệp) tham gia mô hình sản xuất lúa tái sinh. Tỉnh
Bình Định cũng đã xây dựng thí điểm mô hình để lúa tái sinh ở huyện Tây
Sơn, vụ này để tận dụng thời gian nghỉ ngơi chờ vụ gieo sạ tiếp theo giữa 2 vụ
lúa; năng suất vụ lúa này cũng đạt từ 1,5 – 2 tạ/ha.
Quảng Bình là tỉnh phát triển mạnh hình thức sản xuất lúa tái sinh, khác
với các địa phương khác là tỉnh đã mạnh dạn sản xuất vụ này ở vụ 2, không

Hiệu quả kinh tế biểu hiện tính hữu hiệu về kinh tế của việc sử dụng
các loại vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất kinh doanh, nó chỉ ra mối
quan hệ giữa các lợi ích kinh tế mang lại với chi phí bằng tiền trong mỗi kỳ
kinh doanh. Lợi ích kinh tế càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Hiệu quả kinh tế là mối quan hệ tổng hòa giữa hai yếu tố hiện vật và giá
trị trong việc sử dụng các nguồn lực vào sản xuất. Nói cách khác, hiệu quả
kinh tế là hiệu quả đạt được trong việc sử dụng hai yếu tố cơ bản trong sản
xuất kinh doanh. Hai yếu tố đó là:
- Yếu tố đầu vào: Chi phí trung gian, lao động sống, khấu hao tài sản, thuế
12
- Yếu tố đầu ra: Sản lượng và giá trị sản phẩm, giá trị sản xuất, thu nhập, giá
trị gia tăng, lợi nhuận
Hiệu quả là đại lượng vật chất được tạo ra có mục đích của con người.
Có rất nhiều các chỉ tiêu, các nội dung để đánh giá kết quả. Điều quan trọng là
khi đánh giá kết quả ta cần xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào và mất
chi phí bao nhiêu.
Trên bình diện xã hội, các chi phí bỏ ra để đạt một kết quả nào đó chính
là hao phí lao động xã hội. Nên thước đo của các hoạt động là mức độ tối đa
hóa trên đơn vị hao phí lao động xã hội tối thiểu.
Đối với phạm vi đề tài này, tôi tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế của
sản xuất lúa tái sinh. Bên cạnh đó còn đánh giá hiệu quả về xã hội và môi
trường [5].
b, Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội phản ánh mối quan hệ giữa kết quả hữu ích về mặt xã
hội và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nó đánh giá chủ yếu về mặt xã
hội của hoạt động sản xuất. Các loại hiệu quả có liên quan chặt chẽ với hiệu
quả kinh tế và biểu hiện mục tiêu hoạt động của con người [6].
c, Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do
hoạt động sản xuất gây ra như: xói mòn, ô nhiễm đất, không khí, bệnh tật…

Nếu hiệu quả kinh tế gắn liền với lợi nhuận thuần túy thì hiệu quả kinh
tế không phản ánh được năng suất lao động xã hội, chưa thấy được quy mô
đầu tư cũng như quy mô kết quả thu được trong các đơn vị sản xuất có kết
quả và chi phí như nhau.
Nếu hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả và chi phí
sản xuất thì còn phải tính đến tác động của nhiều yếu tố: tự nhiên, kinh tế, xã
hội. Các yếu tố đó cần được phản ánh ở hiệu quả kinh tế [5].
Ở đề tài này, chúng tôi đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa tái
sinh bằng cách so sánh hiệu quả của sản xuất lúa tái sinh và sản xuất lúa vụ
Hè Thu trong năm 2010. Các chỉ têu đánh giá được sử dụng:
- Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được
tạo ra trong thời gian nhất định, thường là 1 năm. Trong sản xuất của nông hộ,
giá trị sản xuất là giá trị các loại sản phẩm chính, phụ sản xuất ra trong 1 vụ
hay 1 năm.
- Chi phí trung gian (IC) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất và dịch vụ được
sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm ở một thời kỳ nhất định. Đối với
sản xuất nông nghiệp, chi phí trung gian gồm chi phí về giống, phân bón,
thuốc BVTV, dịch vụ làm đất, vận chuyển, dịch vụ thu hoạch…
14
- Giá trị gia tăng (VA) = Giá trị sản xuất - Chi phí trung gian
VA = GO - IC
-Giá trị sản xuất tính cho một đồng vị chi phí trung gian ( GO / IC): cho biết
với một đồng chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất.
-Thu nhập tính cho một đồng chi phí trung gian (VA /IC): cho biết với một
đồng chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm.

15
PHẦN 3: NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

quả của sản xuất lúa tái sinh và những nguyện vọng của họ; quan điển của các
cơ quan quản lý cấp xã, huyện về sản xuất lúa tái sinh và định hướng phát
triển sản xuất lúa của huyện Lệ Thủy.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
2 xã An Thủy và Xuân Thủy được lựa chọn để ngiên cứu . Đây là 2 xã
có điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội đại diện cho huyện, đó là vấn đề sản
xuất lúa và sản xuất lúa tái sinh.
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu
Thông tin, dữ liệu dùng để phân tích trong nghiên cứu này được thu thập
từ các nguồn: số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp.
a, Thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên: Thời tiết, khí hậu, đất đai.
- Thu thập các số liệu về điều kiện kinh tế xã hội trên địa bàn nghiên cứu.
- Thu thập các số liệu liên quan đến thực trạng sản xuất lúa tái sinh và lúa Hè
Thu trên địa bàn huyện Lệ Thủy nói chung và hai xã An Thủy và Xuân Thủy
nói riêng.
- Thu thập các số liệu đã công bố về hiệu quả của sản xuất lúa tái sinh.
- Nguồn số liệu được thu thập thông qua các tài liệu, các báo cáo của xã,
huyện, phòng nông nghiệp, trạm khuyến nông huyện.
b, Thu thập số liệu sơ cấp
Thông tin, dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua một số các công cụ
chính sau:
17
- Phỏng vấn hộ
Nguồn thông tin được thu thập thông qua bảng phỏng vấn bán cấu trúc
có sử dụng phiếu câu hỏi nhằm điều tra về hiệu quả của sản xuất lúa tái sinh
so với sản xuất vụ Hè Thu.
+ Chọn hộ: chọn ngẫu nhiên các hộ là nông dân trên địa bàn nghiên cứu.
+ Chọn 40 hộ điều tra, mỗi xã 20 hộ để thu thập thông tin.

huyện có đường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt Bắc
Nam. Với vị trí địa lý như vậy nên huyện Lệ Thủy có điều kiện thuận lợi để
giao lưu kinh tế - văn hóa – xã hội với các địa phương khác trong cả nước
cũng như nước bạn Lào trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
b, Địa hình
Lệ Thủy có địa hình đa dạng, có đồi núi, rừng, đồng bằng hẹp và dốc.
Phía Tây là núi cao, tiếp đến là đồi bát úp tiến sát gần biển, vùng đồng bằng
chạy dọc hai bên bờ sông Kiến Giang, Rào Ngò và cuối cùng là dãy cát trắng
chạy dọc theo bờ biển. Với địa thế đó, Lệ Thủy đã trở thành một trong những
vựa lúa lớn của cả tỉnh. Tuy nhiên, vùng đồng bằng của huyện chủ yếu thấp
trũng nên về mùa mưa lũ dễ bị lũ lụt, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống
cũng như các hoạt động sản xuất của người dân.
c, Điều kiện thời tiết khí hậu
Lệ Thủy nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu hình thành hai
mùa khá rõ, mùa khô từ trung tuần tháng 3 đến đến tháng 9 với nhiệt độ trung
bình hàng năm từ 24
0
C – 26
0
C, nhiệt độ cao nhất 39
0
C – 40
0
C (vào tháng 7),
thấp nhất là 10
0
C ( vào tháng 1), mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 3
năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2000 – 2300 mm/năm, lượng
mưa phân bố không đều trong năm chỉ tập trung chủ yếu vào các tháng, từ
19

(%)
Đất tự nhiên 141.611,41 100 141.611,41 100
1.Đất nông nghiệp 126.399,86 89,26 126.536,45 89,35
1.1.Đất sản xuất nông nghiệp 16.833,35 13,31 16.534,23 13,016
1.1.1.Đất trồng cây hàng năm 14.212,75 84,43 14.336,82 86,70
-Đất trồng lúa 9.572,98 67,35 9.757,45 68,06
-Đất trồng cỏ chăn nuôi 68,00 0,48 65,00 0,46
-Đất trồng cây hàng năm
khác
4.571,77 32,17 4.514,37 31,48
1.1.2.Đất trồng cây lâu năm 2.620,60 15,57 2.197,41 13,30
1.2.Đất lâm nghiệp 109.457,00 86,59 109.869,08 86,82
1.3.Đất nuôi trồng thủy sản 104,62 0,09 126,78 0,1
1.4.Đất nông nghiệp khác 4,89 0,01 6,36 0,02
2.Đất phi nông nghiệp 9.428,95 6,72 9.873,86 6,97
2.1.Đất ở 772,81 8,2 860,75 8,71
2.2.Đất chuyên dùng 3.800,89 40,31 4.102,56 41,55
2.3.Đất sông suối 4.474,04 47,45 4.474,04 45,31
2.4.Đất phi NN khác 381,21 4,04 436,51 4,43
3.Đất chưa sử dụng 5.782,60 4,02 5.201,1 3,68
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Lệ Thủy 2011, niên giám thống kê 2010)
Bảng 6 cho thấy, từ năm 2008 – 2009 mặc dù diện tích đất nông nghiệp
tăng nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp lại giảm từ 13,31% xuống còn
13,06% trong tổng diện tích đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, lúa là cây trồng
chủ đạo của toàn huyện Lệ Thủy nên diện tích đất trồng lúa tăng 0,61%.
Đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng, trong khi đất chưa sử dụng
giảm. Sở dĩ như vậy là do, dân số của huyện ngày càng gia tăng và việc trích
quỹ đất sản xuất nông nghiệp để phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống kênh
mương, hồ đập tăng.
21

ảnh hưởng của địa hình nên khó khăn trong việc đầu tư, thâm canh và chuyển
đổi cơ cấu cây trồng.
22
Xuân Thủy là một xã thuộc vùng đồng bằng nằm ở trung lưu sông Kiến
Giang, địa hình tương đối bằng phẳng và có một vài nơi bị thấp trũng. Chịu
ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt nên đất đai thường khô hạn về mùa hè và
ngập úng về mùa mưa. Xuân Thuỷ có chiều dài 7 km, diện tích đất tự nhiên là
663,52 ha, đất đai ở đây chủ yếu là đất nông nghiệp trồng lúa hai vụ.
Như vậy, An Thủy và Xuân Thủy chịu ảnh hưởng của địa hình, do đó
cần quy hoạch và đầu tư lớn để xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất
nông nghiệp. Đồng thời chọn cây trồng thích hợp với điều kiện đất đai, khí
hậu của địa phương là yếu tố cần thiết trong lĩnh vực trồng trọt.
c, Khí hậu - thủy văn
Điều kiện thời tiết khí hậu
Hai xã An Thủy và Xuân Thủy có khí hậu, thời tiết mang đặc trưng của
khí hậu miền Trung chịu ảnh lớn của khí hậu nhiệt đới gió mùa, lắm nắng
nhiều mưa. Khí hậu ở đây nhìn chung tương đồng với khí hậu của toàn huyện
Lệ Thủy, có thể chia làm 4 mùa, nhưng đặc trưng nhất vẫn là mùa nóng (khô)
và mùa lạnh (mưa) tương ứng mùa hè và mùa đông. Mùa khô bắt đầu từ trung
tuần tháng 3 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình từ 24 - 26
0
C. Trong thời gian
này gió Tây Nam (gió Lào) thổi về khô nóng, lượng nước bốc hơi nhanh,
lượng mưa thấp, thường gây ra hạn hán kéo dài ảnh hưởng lớn đến sản xuất
nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân. Thời kỳ này thường có những trận
mưa giông vào đầu và cuối mùa hạ lúc chuyển giao mùa. Mùa mưa (lạnh) bắt
đầu từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hằng
năm khoảng 2100mm/năm. Có năm lên đến 3.000mm/năm. Lượng mưa phân
bố không đều trong năm chỉ tập trung chủ yếu vào các tháng, từ tháng 9, 10,
11. Vì vậy, thời gian này thường xảy ra lũ lụt và xuất hiện áp thấp nhiệt đới,

An Thủy cũng như Xuân Thủy đều có tiềm năng đất đai khá lớn có khả
năng khai thác và đầu tư lớn phát triển mạnh mẽ về kinh tế nông nghiệp chủ
yếu là sản xuất lúa. Trong những năm qua, xã đã có nhiều cố gắng trong việc
lập kế hoạch về việc bố trí sử dụng đất để phát huy tính hiệu quả. Xã tập trung
đầu tư về cơ sở hạ tầng, xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi: Khoanh ô,
khoanh vùng, nạo vét canh mương nhằm chủ động trong việc tới tiêu, khai
thác có hiệu quả tiềm năng về đất đai.
4.1.2.Điều kiện kinh tế, xã hội
4.1.2.1. Điều kiện kinh tế, xã hội huyện Lệ thủy
a, Tình hình dân số và lao động
Dân số và lao động là một vấn đề quan trọng quyết định đến sự phát
triển của một địa phương. Lệ Thủy là một huyện lớn cả về diện tích cũng như
số dân của tỉnh Quảng Bình, dân số toàn huyện năm 2009 là 140.170 người
với tổng số 35.349 hộ (bảng 7).
24
Bảng 7 : Tình hình dân số, lao động huyện Lệ Thủy (2007 – 2009)
Chỉ tiêu ĐV tính 2007 2008 2009
1.Tổng số hộ Hộ 32.565 34.242 35.349
1.1.Hộ thành thị Hộ 2.934 3.001 3.056
1.2.Hộ nông thôn Hộ 29.631 31.241 32.293
2.Tổng dân số Người 140.055 140.100 140.170
2.1.Nam Người 69.554 69.755 69.965
2.2.Nữ Người 70.501 70.345 70.205
3.Tỷ lệ gia tăng dân số % 0,989 0,936 0,929
4.Dân số trong độ tuổi lao động Người 77.246 77.286 77.325
4.1.Theo giới tính
Nam Người 38.235 38.342 38.472
Nữ Người 39.011 38.944 38.853
4.2.Theo thành phầnkinh tế
Lao động nông nghiệp Người 54.912 54.164 53.428


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status