TÂY bắc một VÙNG đất GIÀU GIÁ TRỊ văn hóa TRUYỀN THỐNG các dân tộc THIỂU số - Pdf 33

TÂY BẮC - MỘT VÙNG ĐẤT GIÀU GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.2.1. Tây Bắc - Vùng đất có tầm quan trọng về địa lý - Kinh tế Chính trị
Vùng Tây Bắc bao gồm các tỉnh, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào
Cai, Điện Biên có đường biên giới giáp với các nước bạn Lào và Trung
Quốc, Với gần 30 dân tộc anh em: Kinh, Thái, H’Mông, Mường, LaHa,
Tày, Dao, Kháng, Sinh Mun, Khơ mú, Lào, Hoa, … cùng sinh sống, là
một vùng rộng lớn có địa chính trị, kinh tế- văn hóa độc đáo, có vị trí
chiến lược đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh -quốc phòng
- kinh tế, xã hội và văn hóa. Đây là cửa ngõ đường bộ và các tỉnh biên
giới cũng là án ngữ các quốc gia phương Bắc tiến xuống Đông Nam Á.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch phản động, từ trước tới nay
luôn lợi dụng vị trí hiểm trở, những khó khăn tạm thời về kinh tế - xã hội
để thực thi các thủ đoạn chia rẽ dân tộc, thực hiện “ diễn biến hòa bình”
nhằm chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, vị trí quan trọng này luôn
được các nhà cầm quân trong lịch sử và được Đảng xác định là then chốt
trong cuộc đấu tranh cách mạng dành độc lập dân tộc cho đến công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày hôm nay.
Trong sự nghiệp đổi, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo điều kiện để Tây Bắc phát triển đồng
đều và vững chắc, cùng đất nước tiến lên công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
Bên cạnh sự phát triển chung của đất nước, thực hiện chủ trương của
Đảng, Nhà nước về mở cửa, giao lưu hội nhập kinh tế quốc tế, Khu vực
Tây Bắc cũng đang đứng trước thời cơ và thách thức lớn, giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia, xây dựng


nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nên sự
chuyển biến mạnh mẽ về đời sống văn hóa trong đời sống đồng bào các

chủ lực hiện nay của Sơn La được củng cố và phát triển, tạo vùng
nguyên liệu chế biến và xuất khẩu. Độ che phủ của rừng năm 1996 là
21,5% tăng lên 50% năm 2008, giá trị xuất khẩu công nghiệp tăng bình
quân hàng năm là 33,5%. Mạng lưới điện quốc gia đã đến được 99% cơ
sở xã, phường, thị trấn, thành phố.
Thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, các dân tộc Tây Bắc nói
chung Sơn La nói riêng đang có những bước tiến đáng kể về phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội. Các cơ sở kinh tế mới, hệ thống trường phổ
thông nội trú được quan tâm thỏa đáng. Vì thế, các dân tộc đã khẳng
định tính vững chắc, niềm tin tuyệt đối vào con đường đổi mới của
Đảng, Nhà nước ta hiện nay. Sơn La đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi, chống mù chữ và đang củng cố kết quả đó. Về y tế
hiện nay đã loại trừ bệnh phong trong toàn tỉnh, trên 2200 bản có cán bộ
y tế. Trên lĩnh vực thông tin, báo chí, xuất bản phát triển về cả chiều sâu
và bề rộng, góp phần tích cực vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức, củng
cố khối đại đoàn kết cổ vũ thực hiện công cuộc đổi mới. Hiện nay Sơn
La có 450 bản văn hóa, gần 60.000 gia đình văn hóa, có trên 650 đội văn
nghệ quần chúng, 70% dân số được xem truyền hình, 80% dân số được
nghe hệ thống Đài phát thanh Trung ương và địa phương.
Từ những nét cơ bản về kinh tế, xã hội của Sơn La cho thấy, đời
sống văn hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc Sơn La cũng như miền
núi Tây Bắc hôm nay đã có sự thay đổi đáng kể. Những gì đạt được từ
chiến lược phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước
hôm nay là do “Đảng bộ các tỉnh Tây Bắc không chỉ quan tâm đến mặt


kinh tế mà còn đặc biệt quan tâm chăm lo đến đời sống tinh thần của
đồng bào các dân tộc thiểu số, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, phát huy
văn hóa dân tộc và tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh
em” [53, tr.39], đây chắc chắn sẽ là động lực để đồng bào Tây Bắc nói

mạng dân tộc Thái Lò Văn Giá, đã cùng với chi bộ nhà tù tổ chức cuộc vượt
ngục thành công đưa nhiều đồng chí là tù chính trị trở lại hoạt động, lãnh
đạo phong trào cách mạng chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công khởi nghĩa toàn
quốc. Trong đó có đồng chí Nguyễn Lương Bằng. Sau khi trở về người
thanh niên này đã hy sinh anh dũng.
Cũng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, các dân
tộc miền núi đã hết lòng ủng hộ và hy sinh quên mình cho kháng chiến đi
đến thắng lợi. Trong chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn
động địa cầu” năm xưa đã có sự góp sức, góp của không nhỏ của đồng bào
các dân tộc Tây Bắc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (19541975), nhân dân các dân tộc Tây Bắc lại đồng lòng đứng lên, dưới ngọn cờ
lãnh đạo của Đảng. vượt qua muôn vàn khó khăn, ra sức lao động sản xuất,
góp phần là hậu phương lớn của Miền Nam ruột thịt. Ở Tây Bắc chỉ trong
bốn năm từ năm 1965-1968 Tây Bắc đã có 159.818 thanh niên các dân tộc
lên đường tòng quân ra mặt trận, trong đó có 2% là nữ và nhiều con em các
dân tộc thiểu số. Trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bàn
chân của con em các dân tộc thiểu số đã in khắp các chiến trường, trong số
đó có rất nhiều người đã không bao giờ trở về.
Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, song các thế lực thù địch vẫn lợi dụng
địa bàn hiểm trở, cư dân thưa thớt, đặc biệt lợi dụng dân tộc Tây Bắc có
những mối quan hệ láng giềng và quan hệ họ hàng thân thiết với đồng bào
dân tộc ngoài biên giới hoạt động chống phá cách mạng nước ta, mục đích


nhằm vô hiệu hóa các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước. Tuy nhiên, trước “Đường lối chính trị đúng đắn của Đảng ta đã từng
bước cảm hóa mạnh mẽ và thu hút được tất cả các dân tộc thiểu số Tây Bắc
đi theo con đường đấu tranh và xây dựng để có dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [53, tr.45].
Với truyền thống yêu nước và lòng tin vững chắc vào sự nghiệp cách
mạng của Đảng, tiếp bước cha, anh, “Các dân tộc, tộc người sống trên vùng

văn về quá trình tạo mường lập bản, chống giặc ngoại xâm, về tình yêu quê
hương đất nước, tình yêu đôi lứa và đạo lý làm người. Tây Bắc nổi tiếng với
kiến trúc nhà sàn Thái độc đáo, thơ mộng bằng chất liệu gỗ, nứa, tranh tre,
mà điển hình là “khau cút” sinh động vươn cao ở hai đầu chái nhà và các
họa tiết hoa văn hình thoi, hình trám thể hiện ở hàng lan can hay trên các
khung cửa sổ, tạo nên sự hài hòa tinh tế và phù hợp với cảnh quan thiên
nhiên miền núi. Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Sơn La có từ
lâu đời, điển hình là nghề dệt thổ cẩm với các hình trang trí hoa, thú, chim
rất trang nhã và sinh động; Nghề đan lát mây tre, sản xuất gốm của đồng bào
Thái, Mường, Dao, Khơ mú; Luyện sắt làm vũ khí và các dụng cụ sản xuất
của đồng bào Mông. Trong các dịp lễ tết, ngày hội, cộng đồng các dân tộc
Tây Bắc có nhiều trò chơi dân gian rất thú vị như ném còn, kéo co, đua
ngựa, bắn nỏ, chơi quay, ném Pa pao… Những phong tục tập quán, lễ hội
của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc như : “sên bản, sên mường”, “lên nhà
mới”, “lễ hội gội đầu”, “mừng cơm mới”, “cầu mưa”…cũng rất độc đáo và
hấp dẫn. Tất cả những giá trị văn hóa truyền thống đó đã tạo nên bản sắc
riêng và là hành trang quý giá của các dân tộc Tây Bắc cần phải được bảo vệ
gìn giữ và phát huy, bởi văn hóa của mỗi dân tộc chính là “phần hồn” của
dân tộc ấy, nó là thứ không thể thay thế được, nếu để mất bản sắc văn hóa
thì không còn chính dân tộc đó nữa. Ý thức rõ điều đó, nhiều năm qua Đảng


bộ và nhân dân các tỉnh Tây Bắc đã chủ động xây dựng và thực hiện chiến
lược bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bước đầu đã thu
được những kết quả khả quan. Để đi khảo sát những kết quả đạt được trong
công tác bảo tồn và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc
thiểu số của các tỉnh vùng Tây Bắc, chúng tôi xin đi sâu vào tỉnh Sơn La,
đây là một tỉnh trung tâm của miền núi Tây Bắc. Trong những năm đổi mới,
đặc biệt là từ khi thực hiện nghị quyết Trung ương lần thứ V khóa VIII của
Đảng, Sơn La đã tổ chức kiểm kê, điều tra, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp

tích, bước đầu đã xác định được tính chất, niên đại của các di tích, di chỉ
khảo cổ, đó là: 03 di tích thời kỳ Phong kiến; 07 di chỉ khảo cổ học thời
đại kim khí; 09 di chỉ thời đại đá mới; 08 di chỉ thời đại đá cũ. Tất cả
những di tích và di chỉ này đang được khẩn trương xây dựng phương án
bảo tồn và phát huy. Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc của các dân tộc
Sơn La tưởng chừng như đã bị thất truyền hoặc đang có nguy cơ thất
truyền và biến dạng, đã và đang được sưu tầm, phục dựng, gìn giữ và phát
huy. Tuy nhiên, khôi phục các lễ hội truyền thống nhưng phải biết lựa
chọn để nâng niu, bảo tồn những giá trị tinh thần, những nét đẹp văn hóa
trong các lễ nghi, sửa đổi những yếu tố không còn phù hợp, mở rộng quy
mô các lễ hội để cho các lễ hội trở thành điểm hội tụ văn hóa của cộng
đồng. Cho đến nay, Sơn La đã có 01 lễ hội với quy mô Khu vực, đó là
Ngày hội Văn hóa các dân tộc Tây Bắc. Nhiều lễ hội truyền thống đặc
sắc, tiêu biểu như các lễ hội: Lễ hội Hoa Ban, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc
Thái; Lễ hội Pang A Nụn Pan của dân tộc La Ha; Lễ hội Mương A Ma
của dân tộc Xinh Mun; Lễ hội Xen Pang Ả của dân tộc Kháng… Các làng
nghề truyền thống như: Dệt Thổ cẩm Thèn Luông- Chiềng Đông- Yên
Châu; Gốm Mường Chanh - Mai Sơn, cũng được phục hồi và phát
triển.Việc tích cực sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể


và phi vật thể của các dân tộc trong tỉnh đã góp phần làm cho các thế hệ
con em các dân tộc Sơn La hiểu biết thêm về truyền thống lịch sử - văn
hóa của vùng đất mà cha ông đã khai phá và dựng xây, từ đó thêm tự hào,
gắn bó với quê hương.
Có thể nói ý thức tộc chính là đặc điểm, trình độ mức sống của mỗi
dân tộc, được kết tinh thành những giá trị văn hóa. Văn hóa truyền thống của
các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc là kết quả giao lưu của nhiều dân tộc ở
nhiều vùng đất khác nhau, ngoài những nét đặc trưng tiêu biểu và tiếp thu
tinh hoa văn hóa, các dân tộc Tây Bắc vẫn giữ được bản sắc của vùng núi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status