MỤC LỤC
Một số từ viết tắt: TAND Tòa án nhân dân
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
VKS
Viện kiểm sát
VKSQS Viện kiểm sát quân sự
LỜI MỞ ĐẦU
Trong một quá trình tố tụng hình sự thì gồm bảy giai đoạn: khởi tố vụ án
hình sự, điêu tra vụ án hình sự, truy tố,xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thi
hành án và thủ tục giám đốc thẩm. Những giai đoạn này thống nhất với nhau, có
mối quan hệ khăng khít nhưng mỗi giai đoạn lại gắn liền với trách nhiệm của
từng cơ quan tiến hành tố tụng do vậy càng không tránh khỏi những thiếu sót và
hạn chế. Trong đó có giao đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Trong nội dung bài
viết này em xin trình bày ý kiến của mình về đề tài Số 4: “Chuẩn bị xét xử vụ
án hình sự và việc hoàn thiện quy định này”
NỘI DUNG
Theo nguyên tăc thực hiện chế độ xét xử hai cấp quy định tại Điều 20
BLTTHS năm 2003 thì tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử: xét xử sơ thẩm
và xét xử phúc thẩm. Trong đó, mỗi cấp sẽ có giai đoạn chuẩn bị khác nhau.
I.
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì bao gồm 2 giai đoạn chính: thụ
lý, nghiên cứu hồ sơ và ra các quyết định của thẩm phán được phân công làm
1
của hội thẩm TAND ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQLT-TANDBNV-UBMTTQVN: “Khi được phân công làm nhiệm vụ xét xử, trong thời hạn
ít nhất 7 ngày làm việc trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công làm
chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm gửi giấy mời Hội thẩm đến trụ sổ Tòa án để
nghiên cứu hồ sơ vụ án và trao đổi các vấn đề cần thiết về nghiệp vụ xét xử đối
với vụ án đó”
Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu
hồ sơ vụ án, tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, yêu cầu của người tham gia tố tụng
và tiến hành những việc cần thiết cho mở phiên tòa.
Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công làm chủ tọa
phiên tòa có thể ra quyết định: trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ vụ án; tạm
đình chỉ vụ án; đưa vụ án ra xét xử; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn không phải là tạm gianm. Cũng tren cơ sở đó thẩm phán đó đề nghị
chánh án tòa án ra quyết định áp dụng,thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam; áp
dụng hoặc hủy bỏ biện pháp kê bien tài sản; gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử;
thay đổi người tiến hành tố tụng; chuyển vụ án.
2. Thời hạn chuẩn bị xét xử.
Theo quy định tại điều 176 bộ luật TTHS năm 2003 thì thời hạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm được quy định tính kể từ ngày thẩm phán được phân công làm chủ
tọa phiên tòa nhận hồ sơ vụ án
Ngoài ra thời hạn chuẩn bị xét xử còn được quy định tại 1.2 mục 1 phần I
nghị định số 04/2004/NĐ – HĐTP ngày 05/11/2004. Trong trường hợp ra quyết
định tạm đình chỉ vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử tính lại kể từ ngày tòa án tiếp
tục giải quyết vụ án khi lí do tạm đình chỉ không còn nữa. Trường hợp thẩm
phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra
bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét
xử kết thúc vào ngày ra quyết định.
3
thể bổ sung tại phiên tòa được;
b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm
khác;
c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.”
4
Trường hợp không cần trả lại hố sơ để điều tra bổ sung: Trong hồ sơ thiếu
những chứng cứ về phần dân sự mà không liên quan đến việc xác định cấu
thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị can, luật quy định như vậy nhằm làm vụ việc được giải quyết nhanh chóng,
không làm mất quyền lợi của các bị can bị cáo, người bị hai…; Nếu có căn cứ
xét xử bị can theo tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà viện kiểm sát đã truy
tố(điều 196 BLTTHS).
b)
Quyết định tạm đình chỉ vụ án
Theo quy định tại Điều 180 BLTTHS năm 2003 thì các trường hợp được tòa
án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án bao gồm:
+ Bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chừng nhận của hội
đồng giám định pháp y.
+ Không biết rõ bị can đang ở đâu
Quyết định tạm đình chỉ vụ án được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp và các
bên có liên quan.
c)
Quyết định đình chỉ vụ án
Theo quy định tại điều 180 BLTTHS thì thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ
án trong những trường hợp sau: bị can chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
biệt nghiêm trọng) thì thời hạn tạm giam đối với từng bị can không được quá
thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm nặng nhất mà bị can đó bị truy tố.
Đối với bị can đang bị tạm giam: thời hạn tạm giam tính kể từ ngày nhận hồ
sơ vụ án( trong trường hợp khi nhận hồ sơ vụ án thời hạn tạm giam còn lại
không quá 5 ngày) hoặc kể từ ngày tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnh
tạm giam trước đó.
Đối với những biện pháp khác: Chánh án, phó chánh án tòa án, thẩm phán
được phân công làm chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác như cầm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,…
e)
Triệu tập những người cần xét hỏi.
6
Trước khi mở phiên tòa, tòa án phải triệu tập những người có liên quan để xét
hỏi tại phiên tòa: “. Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa Căn cứ
vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán triệu tập những người cần xét
hỏi đến phiên tòa.” Những người cần xét hỏi ở đây là những người mà lời khai
báo của họ có ảnh đến việc giải quyết vụ án được đúng đắn.Việc triệu tập thì tòa
án phải gửi giấy triệu tập đến tận tay người được triệu tập. Và người được triệu
tập không được vắng mặt nếu vắng mặt phải có ly do chính đáng.
f)
Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Sau khi nghiên cứu hồ sơ hoặc đã trao đổi với viện kiểm sát, nếu tòa nhận
thấy có thể đưa vụ án ra xét xử thì phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
Quyết định đưa vụ án ra xét xử làm thay đổi tư cách pháp lý của bị can thành
bị cáo. Quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyết định đặc trưng, chỉ có trong giai
Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn
Sau khi nhận hồ sơ vụ án, tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng,
thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Nếu áp dụng biện pháp tạm giam thì
thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định cho việc xét xử phúc
thẩm. Tuy nhiên, để bảo đảm quyết định bắt và tạm giam được thi hành ngày
và đúng pháp luật thì tòa án cấp phúc thẩm chỉ ra quyết định bắt và tạm giam bị
cáo nếu trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị xét xử phúc thẩm cũng
như qua diễn biến xét xử tại phiên tòa nếu thấy có đầy đủ các điều kiện sau: có
căn cứ để xử phạt tù bị cáo, bị cáo không thuộc trường hợp có thể cho hưởng án
treo, bị cáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 261 của
BLTTHS và Điều 61 của Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo đang tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam
đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì tòa án ra
lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Chánh án, phó chánh án, thẩm phán giữ chức vụ chánh án, phó chánh án
TANDTC, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có quyền quyết
định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biên pháp ngăn chặn như cấm đi khỏi
3.
nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền…
Thông báo việc xét xử phúc thẩm
Khác với tòa sơ thẩm, tòa án phúc thẩm không phải ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử mà phải thông báo việc xét xử phúc thẩm. Chậm nhất là 15 ngày trước
ngày mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản cho
Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời gian, địa điểm
xét xử phúc thẩm vụ án.
8
sự thật, tính khác quan của vụ án. Nó cũng có thể là chứng cứ buộc tội bị cáo
hoặc gỡ tội cho bị cáo, dù trước đó họ đã khai nhận nhưng cần phải trược tiếp
xét hỏi họ tại phiên tòa để một lần nữa khẳng định lời khai của họ là sự thật vì
trong quá trình điều tra của cơ quan điều tra những lời khai của họ có thể là gian
dối hoặc do ép buộc mà bị cáo không biết.
Vướng mắc trong quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn:
Về biện pháp tạm giam: theo quy định tại điều 303 BLTTHS thì chỉ được tạm
giam người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại điều 88
BLTTHS trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm
tội đặc biệt nghiêm trọng. Chỉ được tạm giam người từ đủ 16 tổi đến dưới 18
tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại điều 88 BLTTHS trong những trường hợp
phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng. Thực tế có nhiều trẻ em lang thang lai lịch không rõ rang ở lứa tuổi từ 14
đến dưới 16 tuổi phạm các tội nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm
trọng thì có áp dụng biện pháp tạm giam hay không? Nếu không áp dụng biện
pháp tạm giam với họ thì trong một số trường hợp không giải quyết được vụ án.
Biện pháp cấm đi khỏi nơi trú: BLTTHS năm 2003 quy định khá rõ ràng cụ
thể veef biện pháp này tuy nhiên điều 91 BLTTHS mới chỉ quy định điều kiện
đối với bị can, bị cáo có thể được áp dụng biện pháp này là có nới cư trú rõ ràng
nhằm đảm bảo sự quản lý của chính quyền địa phương, tuy nhiên các điều kiện
về nhân thân của bị can, bị cáo, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị can, bị
cáo làm căn cứ quyết định áp dụng biện pháp này lại không được quy định rõ
ràng dẫn tới tình trạng áp dụng tuỳ tiện, hậu quả là nhiều bị cáo có nhân thân
xấu, phạm tội rất nghiêm trọng cũng được áp dụng biện pháp này, sau đó đã bỏ
trốn khiến tiến trình giải quyết vụ án bị trì trệ, nhiều phiên toà phải hoãn vì vắng
mặt của bị cáo
Tương tự như vậy biện pháp bảo lĩnh BLTTHS cũng quy định là biện pháp
có thể được áp dụng thay cho biện pháp tạm giam đồng thời quy định về điều
10
11
cập vấn đề chuyển vụ án hình sự khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử
của mình thì phải trả hồ sơ cho VKS để thay đổi cáo trạng chứ không được
chuyển thẳng cho toà án có thẩm quyền. Tuy nhiên lại không có quy định hay
hướng dẫn nào về vấn đề này.
Thiếu sót trong việc ra quyết định tạm đình chỉ vụ án: theo điều 180 quy định
Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại điều 160
của bộ luật này. Tại điều 160 quy định các căn cứ là: khi bị can bị tâm thần hoặc
bị bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhân của Hội đồng đồng giám định pháp y;
chưa xác định được bị can hoặc không biết bị can đang ở đâu. Căn cứ thứ 2
không đúng trong giai đoạn xét xử vì nếu chưa xác định được bị ban tức là chưa
xác định được người thực hiện hành vi phạm tội và do vậy cũng chưa có quyết
định khởi tố bị can, kếu luận điều tra của Cơ quan điều tra, quyết định khởi tố
của VKS
Điều 179 quy định Thẩm phán ra quyết định để điều tra bổ sung “ khi có căn
cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác: có phần không thống nhất với quy định
tại điều 196 BLTTHS quy định về giới hạn xét xử “ toà án có thể xét xử bị cáo
khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội
khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố. Điều 179 BLTTHS cho phép
hiểu bị cáo phạm một tội khác với tội mà VKS truy tố đủ nặng hơn hay nhẹ hơn
đều trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tuy nhiên trong mối liên hệ với điều 196
BLTTHS thì tội phạm khác phảo là tội phạm nặng hơn tội mà VKS truy tố thì
mới trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc này xuất phát từ quy định trong
BLTTHS còn chưa chặt chẽ thống nhất làm cho hiệu quả công tác xét xử chưa
cao, gây lúng túng cho toà án cũng như những người có thẩm quyền xét xử vụ
án hình sự. Chính vì thế cần phải có các giải pháp hoàn thiện pháp luật để nấng
cao hiệu quả hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
13
Thứ hai, cần sửa đổi bổ sung điều 91 cấm đi khỏi nơi cư trú theo hướng quy
định rõ điều kiện về các loại tội, về nhân thân của bị can, bị cáo được áp dụng
biện pháp ngăn chặn này. Bổ sung khoản 2 điều 91 theo hướng sau: “bị cáo có
nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc Nghiêm
trọng được áp dụng biện pháp này”
Thứ ba, bổ sung sửa đổi điều 92 theo hướng quy định rõ các loại tội, nhân
thân của bị cáo, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh và sủa khoản 5 điều 92
theo hướng quy định rõ trách nhiệm của người nhân bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ
cam đoan và biên pháp ngăn chặn thay thế biện pháp bảo lĩnh.
Thứ tư, về quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cần sửa cụm từ “bị cáo” ở
điều 179 BLTTHS thành “bị can” và để đảm bảo tính thống nhất với quy định
tại điều 196 cần bổ sung them điểm b khoản 1 điều 179. “ b) khi có căn cứ cho
rằng bị can phạm một tội khác nặng hơn tội mà VKS truy tố hoặc có đồng phạm
khác.”
Về tạm đình chỉ vụ án: điều 180 BLTTHS cần quy định “ thẩm phán ra quyết
định tạm đình chỉ vụ án khi bị can mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh hiểm
nghèo khác có chứng nhân của Hội đồng giám định pháp y hoặc trong trường
hợp bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can ở đâu”
Về vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển vụ án hình sự: BLTTHS
cần có quy định cũng như hướng dẫn cụ thể về trình tự thủ tục của hoạt động.
Tạo ra cơ sở chung để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện hoạt động này một
cách thống nhất nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử
b) Biện pháp hoàn thiện các quy định về xét xử phúc thẩm
Luật cần quy định sửa đổi lại khoản 2 điều 245 BLTTHS vì sự vắng mặt của
những người được nhắc đến trong điều này có ảnh hưởng rất lớn đến vụ án, do
đó cần phải thật nghiệm khắc trong việc vắng mặt có lí do.
option=com_content&task=view&id=4189
6. http://luatduonggia.vn/mot-so-van-de-ly-luan-ve-chuan-bi-xet-xu-so-thamvu-an-dan-su
16
i