Phân tích một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 2012 so với luật Hợp tác xã năm 2003 - Pdf 33

MỤC LỤC

1


LỜI NÓI ĐẦU

Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012
và ban hành Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13 (Luật Hợp tác xã 2012) có hiệu lực
thi hành từ 01 tháng 7 năm 2013, thay thế Luật Hợp tác xã số 18/2003/QH12 (Luật
Hợp tác xã 2003). Với mục tiêu nhằm khuyến khích và phát triển mô hình Hợp tác
xã kiểu mới, đồng thời định hướng phát triển các Hợp tác xã hiện có hoạt động
theo đúng bản chất Hợp tác xã. Hoạt động nhằm mục đích tập trung mang lại lợi
ích cho thành viên thông qua việc cam kết cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ,
việc làm theo nhu cầu của thành viên. So với luật Hợp tác xã 2003 thì Luật hợp tác
xã 2012 có rất nhiều điểm mới tiến bộ. Do đó em xin tìm hiểu về đề tài “Phân tích
một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 2012 so với luật Hợp tác xã năm 2003”.

NỘI DUNG
MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012
SO VỚI LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2003

I.

Về định nghĩa hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Theo định nghĩa được quy định tại Khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Hợp tác xã
thì “1. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân,
do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong
2



thành lập vừa là đồng sở hữu vừa là khách hàng của hợp tác xã. Định nghĩa này có
những ưu điểm mới sau đây:
Thứ nhất, thể hiện được lợi ích và vai trò giữa người chủ và thành viên khi
tham gia hợp tác xã, mục tiêu của hợp tác xã và mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách
nhiệm, lợi ích của thành viên hợp tác xã
Thứ hai, làm rõ được sự khác biệt giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, với tổ
chức xã hội từ thiện; không coi hợp tác xã như doanh nghiệp. Khái niệm mới cho
thấy rằng : hợp tác xã là tổ chức kinh tế do các thành viên tự nguyện lập ra nhằm
tối đa hóa lợi ích của từng thành viên. Lợi ích mà hợp tác xã hướng tới không chỉ
là lợi ích kinh tế mà bao gồm cả lợi ích xã hội, lợi ích của các thành viên. Hợp tác
xã lấy con người và lợi ích thành viên làm trung tâm, lấy đối nhân làm nguyên tắc
tổ chức và hoạt động trong khi doanh nghiệp thì hoạt động chủ yếu là cung ứng sản
phẩm, dịch vụ cho thị trường đại chúng với mục tiêu đối đa hóa lợi nhuận cho
doanh nghiệp và vốn góp cho chủ sở hữu, lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động và
lấy đối vối làm nguyên tắc tổ chức và hoạt động. Do đó, Luật Hợp tác xã 2012 đã
khắc phục được tình trạng coi hợp tác xã là doanh nghiệp, xóa bỏ thực trạng nhiều
người lầm tưởng hoặc cố tình coi hợp tác xã là doanh nghiệp để thành lập hợp tác
xã nhằm thụ hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước.
Việc phân biệt hợp tác xã với doanh nghiệp còn có ý nghĩa to lớn trong việc
đưa ra các quy định đặc thù đối với hợp tác xã mà từ trước đến nay do không có
được sự phân biệt rõ ràng này nên đã không được quy định một cách đầy đủ trong
Luật Hợp tác xã 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, trên cơ sở tìm
ra các điểm đặc thù của hợp tác xã mà Luật Hợp tác xã 2012 đã bổ sung nhiều quy
định về các vấn đề rất cơ bản liên quan đến bản chất đích thực của hợp tác xã như:
Về giới hạn vốn góp tối đa của một thành viên trong vốn điều lệ của hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã (khoản 1, khoản 2 Điều 17); về sự bắt buộc thành viên phải sử
4


dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã và nếu vi phạm nghĩa vụ này thì thành viên

bạn hàng cho hợp tác xã và tạo nên nền tảng để hợp tác xã phát triển bền vững
trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Việc kết nạp rộng rãi thành viên đối
với hợp tác xã thể hiện bản chất của hợp tác xã là phục vụ cộng đồng, đồng thời
phản ánh mục tiêu hoạt động của hợp tác xã là nhu cầu, nguyện vọng chung của
nhiều người nên hấp dẫn nhiều đối tượng tham gia
Bên cạnh đó, Luật Hợp tác xã 2012 còn quy định thêm nguyên tắc về cam kết
kinh tế tại khoản 5 Điều 7, theo đó “thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và
theo quy định của điều lệ. Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được
phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác
xã thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp
tác xã tạo việc làm”. Quy định này cũng phần nào làm tăng lên tính đối nhân trong
hợp tác xã. So với Luật Hợp tác xã 2003, Luật Hợp tác xã 2012 đã quy định cụ thể
hơn về việc thành viên phải cam kết sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã ,
liên hiệp hợp tác xã bằng hợp đồng dịch vụ. Một khi thành viên có hợp đồng với
hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thì trong đó phải có thỏa thuận về phân phối thu
nhập sau khi thực hiện hợp đồng. Quy định này tạo ra cơ sở pháp lý cho việc phân
phối thu nhập dựa vào mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, đồng
thời thể hiện bản chất đặc trưng chỉ có hợp tác xã mới có, đó là nghĩa vụ phải sử
dụng sản phẩm của thành viên và nghĩa vụ phải phục vụ nhu cầu thành viên của
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Việc quy định như vậy đã thể hiện rõ trách nhiệm,
sự ràng buộc về kinh tế của xã viên đối với sự tồn tại và phát triển của hợp tác xã.
Khi tham gia hợp tác xã, các thành viên đều mong muốn được sử dụng sản phẩm,
dịch vụ với chất lượng tốt, giá thành rẻ; vì vậy, với quy định mới này thì hợp tác xã
6


được phân biệt hoàn toàn khác so với doanh nghiệp. Đây là hai nguyên tắc quan
trọng nhằm thu hút ngày càng nhiều thành viên tự nguyện tham gia hợp tác xã vì
nhu cầu và nguyện vọng chung. Từ đó góp phần tăng tình đoàn kết xã hội, tăng

nguyên tắc này sẽ bị vô hiệu hóa vì trên thực tế, người có quá nhiều vốn sẽ có thực
quyền hơn so với người góp ít vốn. Mặt khác, nếu để cho một thành viên góp vốn
với tỷ lệ quá cao thì việc rút vốn của thành viên này có thể dẫn đến việc hợp tác xã
phải giải thể hoặc gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh khi vốn góp đã
bị thu hẹp nhiều.
Cũng có quan điểm cho rằng Luật Hợp tác xã 2012 nên tiếp tục thừa nhận mức
vốn góp tối đa cao như Luật Hợp tác xã 2003. Tuy nhiên, nếu quy định mức vốn
góp cao như vậy thì sẽ dẫn đến nguy cơ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chủ yếu
dựa vào vốn góp, thành viên có vốn góp cao sẽ được chia lãi nhiều hơn theo tỷ lệ
vốn góp và về lý thuyết có thể được chia toàn bộ lợi nhuận hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã có được. Như vậy thì hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
không còn mang tính chất đối nhân. Mặt khác, khi một người góp vốn nhiều thì vị
thế, thái độ, trách nhiệm của thành viên đó sẽ khác so với các thành viên khác. Như
vậy sẽ vi phạm nguyên tắc phục vụ từng thành viên không phụ thuộc vào số vốn
góp của hợp tác xã.
IV.

Về phân phối thu nhập.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Luật Hợp tác xã 2003 thì sau khi
thực hiện xong các nghĩa vụ, lãi của hợp tác xã được phân phối như sau:
“Trích lập quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng và các quỹ khác của hợp tác
xã; chia lãi cho xã viên theo vốn góp, công sức góp của xã viên và phần còn lại
chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã”
Quy định về phân phối lợi nhuận của Luật Hợp tác xã 2003 chưa gắn với bản
chất của hợp tác xã. Luật không quy định rõ về việc xã viên bắt buộc phải sử dụng
dịch vụ của hợp tác xã nên không thể thực hiện nguyên tắc phân phối lợi nhuận
8


theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Luật Hợp tác xã 2003 quy định: sau

Theo như quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Luật Hợp tác xã 2003 thhì chế
độ phân phối lại đề cao tính đối vốn trong doanh nghiệp, khuyến khích các xã viên
góp vốn nhiều mà quên đi tính đối nhân trong hợp tác xã; không khuyến khích
người lao động hăng hái, tích cực làm việc, xã viên thiếu gắn bó với hợp tác xã,
dành công sức làm kinh tế gia đình. Ngược lại, đối với quy định mới của Luật hiện
hành, hình thức phân phối được thực hiện trên nguyên tắc công bằng, cùng có lợi,
vừa theo lao động, theo mức độ tham gia dịch vụ, vừa theo vốn góp. Người lao
động là xã viên, ngoài tiền công nhận được theo số lượng và chất lượng lao động,
còn nhận được lãi chia mức độ tham gia dịch vụ và theo vốn góp, vốn góp càng
cao thì thu nhập càng cao. Đây là động lực khuyến khích người lao động tích cực
làm việc, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích trước
mắt và lợi ích lâu dài. Không những vậy, quy định này còn nhằm định hướng cho
hợp tác xã hoạt động đúng với bản chất, tăng cường quan hệ kinh tế giữa hợp tác
xã và thành viên, thể hiện được nguyên tắc “cam kết kinh tế” như đã được phân
tích ở trên. Thành viên nào sử dụng nhiều sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã có
nghĩa là thành viên đó đóng góp nhiều cho hợp tác xã. Do đó, về nguyên tắc, họ
cần được ưu tiên phân phối lợi nhuận.
Về quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã và xã viên.

V.

a) Về quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã.


Quyền được cung ứng, tiêu thụ sản phẩm ra thị trường.
Trên thực tế, ngoài việc đáp ứng nhu cầu chung, nguyện vọng chung của các
thành viên thì hợp tác xã vẫn còn có thể đáp ứng các nhu cầu của các chủ thể khác
không phải là thành viên hợp tác xã.

10

Luật Hợp tác xã 2012 đã quy định cho phép hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành
11


lập công ty, góp vốn, mua cổ phần vào doanh nghiệp khác. Các hoạt động của các
công ty trực thuộc này là độc lập nhưng vẫn hỗ trợ hoạt động của hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã. Quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn trong nước
và nước ngoài.



Về bảo đảm của Nhà nước đối với hợp tác xã.
Luật Hợp tác xã 2012 bổ sung quy định hợp tác xã có quyền được Nhà nước
công nhận và bảo hộ tại khoản 2 Điều 5 theo đó “bảo đảm môi trường sản xuất,
kinh doanh bình đẳng giữa hợp tác xã với các loại hình doanh nghiệp và tổ chức
kinh tế khác”. Đây chính là chính sách quy định chung cho các loại hình kinh tế.
Quy định này thể hiện rõ thái độ của Nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp
tác xã; đảm bảo sự bình đẳng, tự chủ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong cơ
chế kinh tế thị trường, đồng thời khắc phục tâm lý xã hội e ngại đối với hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã.



Nghĩa vụ của hợp tác xã.
Điều 18 và 19 Luật Hợp tác xã 2003 đã quy định khá rõ về quyền và nghĩa vụ
của xã viên hợp tác xã. Tuy nhiên cả hai điều luật này đều chưa có quy định mở để
cho phù hợp với tình hình thực tế cần có sự linh hoạt giải quyết. Điều này dẫn đến
sự lúng túng trong áp dụng nếu có xuất hiện những quyền và nghĩa vụ mà chưa quy
định trong Luật. Bên cạnh đó, Luật Hợp tác xã 2003 chưa quy định việc thành viên
phải có nghĩa vụ sử dụng sản phẩm của hợp tác xã, liên minh hợp tác xã. Chính

tác xã, liên hiệp hợp tác xã giúp ta phân biệt giữa hợp tác xã và doanh nghiệp. Đây
là những quy định cần thiết để thể hiện tính đặc thù của hợp tác xã, tránh trường
hợp “đội lốt” hợp tác xã để được hưởng ưu đãi nhưng thực chất lại hoạt động
không khác gì doanh nghiệp.
13


KẾT LUẬN
Với những điểm mới mang tính tích cực như đã được phân tích ở trên, Luật
Hợp tác xã 2012 đã tạo ra khung pháp lý đầy đủ và hoàn thiện hơn cho hoạt động
của mô hình hợp tác xã, tiếp thêm sức mạnh cho tổ chức này cạnh tranh bình đẳng
với các loại hình kinh tế khác ; đồng thời khắc phục được những hạn chế,bất cập
của Luật hợp tác xã 2003. Luật Hợp tác xã 2012 được xem như một bước tiến bộ
vượt bậc với những quy định phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta.
Tuy nhiên, việc triển khai Luật này trên thực tế một cách hiệu quả lại là một thách
thức lớn và cần sự vào cuộc của các cơ quan có thẩm quyền.

14


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

“Giáo trình Luật thương mại tập 1”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb

2.
3.
4.
5.
6.

13. http://www.hlu.edu.vn/tintuc/2898/BO-MON-LUAT-THUONG-MAI-TOCHUC--TOA-DAM-KHOA-HOC:-MOT-SO-NOI-DUNG-MOI-CUALUAT-HOP-TAC-XA-2012.html

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status