Giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác thị trường khách du lịch Đức tại chi nhánh của công ty du lịch và tiếp thị giao thông vận tải Vietravel ở Hà Nội - Pdf 33

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong tình hình kinh tế chính trị bất ổn trên thế giới như hiện nay thì
ngành du lịch đang gặp phải những khó khăn tương đối lớn. Tuy nhiên Việt
Nam được coi là điểm đến an toàn nhất trong khu vực châu á nói riêng và trên
thế giới nói chung. Trước tình hình hình đó thì việc thu hút khách du lịch
nước ngoài vào Việt Nam được quan tâm hàng đầu hiện nay. Trên cơ sở đó
em đã chọn đề tài “Giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác thị trường khách
du lịch Đức tại chi nhánh của công ty du lịch và tiếp thị giao thông vận
tải Vietravel ở Hà Nội”.
Bài viết của em gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch, khách du lịch, nhu cầu du lịch và
thị trường du lịch.
Chương 2: Thực trạng kinh doanh lữ hành và việc khai thác thị trường
khách du lịch Đức tại chi nhánh của công ty Du lịch Vietravel ở Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác thị trường khách
du lịch Đức tại chi nhánh của công ty du lịch Vietravel ở Hà Nội

SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương 1:Cơ sở lý luận về du lịch, khách du lịch, nhu
cầu du lịch và thị trường du lịch.
1. Khái quát chung về du lịch và khách du lịch.
1.1. Du lịch và sản phẩm du lịch.
1.1.1. Du lịch
Du lịch có một lịch sử lâu đời, phạm trù du lịch được rất nhiều nhà
khoa học, kinh tế học, du lịch học trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm
nghiên cứu. Có rất nhiều định nghĩa về du lịch được mọi người công nhận,
Michael M. Coltman: du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội ngày càng phổ
biến nảy sinh ra các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế có tính tương hỗ lẫn

Tính chất của sản phẩm du lịch:
• Sản phẩm du lịch chủ yếu mang tính dịch vụ (dịch vụ chiếm 80 - 90%).
Giá trị của sản phẩm du lịch là từ dịch vụ dẫn đến sản phẩm du lịch chủ yếu
mang tính vô hình ,do đó có những yếu tố không do nhà kinh doanh quyết
định và như vậy sản phẩm du lịch không thể được đánh giá chất lượng theo
những chỉ tiêu từ phía các nhà kinh doanh ,mà được đánh giá từ sự cảm nhận
của khách hàng (tính chủ quan).Chính vì điều này đã gây khó khăn trong việc
quản lý chất lượng sản phẩm trong du lịch.
• Sản phẩm du lịch thường được gắn liền với tài nguyên du lịch. Hướng
vận động trong kênh sản xuất tiêu thụ là ngược với sản xuất hàng hoá ( cung
tìm đến cầu ,còn trong du lịch cầu tìm đến cung) dẫn đến gây khó khăn cho
tiêu thụ sản phẩm do thiếu tính chủ động của nhà kinh doanh .Do đó việc tìm
ra nguồn khách, khai thác nguồn khách là một trong những hoạt động quan
trọng nhất của nhà kinh doanh du lịch.
• Việc tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch là có sự trùng lặp về mặt
không gian và thời gian suy ra sản phẩm du lịch chỉ tồn tại trong một thời
điểm nhất định không thể vận chuyển đến nơi khác, không thể tồn kho lưu
bãi, gây khó khăn cho việc hạch toán kinh doanh.
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ. Tuy nhiên mức
độ ảnh hưởng của tính thời vụ là khác nhau đối với các loại hình du lịch khác
nhau, đối với các nhà kinh doanh khác nhau.
2. Nhu cầu du lịch, mối quan hệ cung cầu trong hoạt động kinh doanh
du lịch.
2.1. Định nghĩa nhu cầu du lịch và những đặc điểm của nó.
2.1.1. Định nghĩa nhu cầu du lịch.
Nhu cầu là cái tất yếu tự nhiên, nó thuộc tâm lý của con người hay nói
cách khác, nhu cầu chính là cái gây lên nội lực ở mỗi cá nhân, nhu cầu là

cầu sinh lý như: ăn, ngủ, đi lại… thỉ đòi hỏi nhu cầu này giảm dần để tiến đến
những nhu cầu cao hơn.
2.1.2. Những đặc điểm của nhu cầu du lịch.
Như vậy, với lý thuyết của A.Maslow, du lịch không phải là nhu
cầu thiết yếu, nhưng chúng không thể xếp vào nhóm nhu cầu thứ yếu nào, mà
nhu cầu du lịch nó có những đặc điểm riêng sau:
* Thứ nhất nhu cầu du lịch là môt loại nhu cầu thứ yếu
đặc biệt. Bởi vì, nhu cầu này chỉ được thoả mãn ở những nơi có đủ hai điều
kiện là tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Người ta đi du
lịch với mục đích “sử dung” tài nguyên du lịch mà nơi ở thường xuyên của
mình không có. Lẽ đương nhiên muốn sử dụng tài nguyên du lịch ở nơi nào
đó, bắt buộc người ta phải tiêu dùng các háng hoá dịch vụ phục vụ cho hành
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
4. Nhu cầu được kính trọng
3. Nhu cầu giao tiếp
2. Nhu cầu được an toàn
1. Nhu cầu sinh lý
5. Nhu cầu
hoàn thiện
Sơ đồ : Thứ bậc nhu cầu của A.Maslow
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trình của mình. Vì vậy, các cơ sở cung cấp, các khách sạn ra đời để đáp ứng
những nhu cầu đó.
Do tính cố định về không gian của tài nguyên du lịch và tính phân
tán của cầu du lịch đã dẫn tới một vấn đề buộc các nhà kinh doanh khách sạn
phải thu hút được khách ở khắp nơi tập trung về khách sạn, điều này liên quan
trực tiếp đến công tác thu hút khach và sức hấp dẫn của khách sạn.
* Thứ hai: Nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp.
Nhu cầu du lịch chỉ được thoả mãn khi người ta có đủ hai điều kiện là khả

mãn phụ thuộc vào các nhân tố như: đặc điểm tiêu dùng của khách, mục đích
chuyến đi, khả năng thanh toán, đặc điểm cá nhân như khiếu thẩm mĩ, trình
độ, nghề nghiệp, tôn giáo, giới tính… Nắm được những nhu cầu đặc trưng của
từng nhóm khách hàng sẽ giúp cho nhà kinh doanh khách sạn định hướng
được đặc tính sản phẩm của mình đẻ có thể trả lời được các câu hỏi, sản phẩm
khách sạn nhằm vào đối tượng khách nào? sản phẩm thoả mãn những nhu cầu
nào của khách? Việc trả lời những câu hỏi nói trên sẽ góp phần tích cực vào
việc tăng khả năng thu hút khách.
+ Nhu cầu bổ sung: Đây là nhu cầu thứ yếu phát sinh trong chuyến đi của
khách. Những nhu cầu này có thể là nhu cầu mua sắm, nhu cầu thông tin, liên
lạc, nhu cầu làm đẹp cho bản thân, nhu cầu y tế, nhu cầu chăm sóc sức
khoẻ… Như vậy, ta có thể thấy rằng nhu cầu của khách rất phong phú, đa
dạng ngoài ra còn mang tính tổng hợp cao. Vì vậy, đòi hỏi các nhà kinh doanh
du lịch nói chung và các nhà kinh doanh khách sạn nói riêng phải thật sự nhậy
bén để lắm bắt nhu cầu của khách du lịch, biết được động cơ và mong muốn
của họ để xây dựng cung cấp dịch vụ hợp lý để có thể khai thác tối đa nhu cầu
của khách.
2.2. Mối quan hệ cung cầu trong hoạt động kinh doanh du lịch.
Quan hệ cung cầu trong du lịch là mối quan hệ tương đối phức tạp, chịu ảnh
hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong cũng như bên ngoài. Mối quan hệ này có
khá nhiều điểm bất lợi cho cả những người kinh doanh du lịch (cung) cũng
như khách du lịch (cầu). Chúng ta có thể tập trung vào phân tích những điểm
bất lợi chủ yếu sau đây:
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Thứ nhất: Cung du lịch mang tính chất cố định không thể di chuyển còn
cầu du lịch lại phân tán ở khắp mọi nơi. Các tài nguyên du lịch và phần lớn
những cơ sở kinh doanh du lịch như khách sạn, nhà hàng, cơ sở vui chơi
giải trí đều không thể cống hiến những giá trị của mình đến tận nơi ở của

nghiệp này hầu như không thể trực tiếp đến với khách du lịch. Bản thân
khách du lịch lại gặp phải vô vàn khó khăn khi đi du lịch như ngôn ngữ,
thủ tục xuất nhập cảnh, tiền tệ, phong tục tập quán v.v…Chính vì vậy mà
giữa khách du lịch và cơ sở kinh doanh trực tiếp các dịch vụ du lịch còn có
nhiều bước chắn ngoài khoảng cách về địa lý.
• Thứ tư: do kinh tế phát triển thu nhập của mọi tầng lớp xã hội tăng lên
không ngừng, khách du lịch ngày càng yêu cầu được phục vụ tốt hơn, chu
đáo hơn. Họ chỉ muốn có một công việc chuẩn bị duy nhất đó là tiền cho
chuyến du lịch. Tất cả những công việc còn lại phải có sự sắp xếp, chuẩn
bị của các cơ sở kinh doanh du lịch. Xã hội càng ngày phát triển thì con
người càng quý thời gian của họ hơn, có quá nhiều mối quan tâm mà quỹ
thời gian chỉ là hữu hạn.
Tất cả các điểm đã phân tích trên đây đều cho thấy cần phải có thêm một tác
nhan trung gian làm nhiệm vụ liên kết giữa cung và cầu trong du lịch. Tác
nhân đó chính là công ty lữ hành du lịch, những người thực hiện các hoạt
động kinh doanh lữ hành.
3.Thị trường và thị trường du lịch- khái niệm, đặc trưng và sự khác nhau
cơ bản của chúng.
3.1.Thị trường và thị trường du lịch.
3.1.1. Khái niệm thị trường.
Xã hội nguyên thuỷ của loài người xuất hiện với chế độ tự cung tự
cấp hàng hoá với cuộc sống bày đàn. Khi con người phát triển lên mức độ cao
hơn thì nhu cầu về tiêu dùng cũng cao hơn. Từ chỗ con người tự mình làm ra
được hàng hoá cho mình sử dụng đến chỗ con người muốn có hàng hoá phong
phú hơn. Và để có được như vậy lại nảy sinh ra một hiện tượng tự nhiên là
trao đổi hàng hoá giưã con người với con người. Quá trình trao đổi này đã dần
dần dẫn tới sự hình thành nên thị trường. Như vậy kể từ khi xuất hiện thị
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch”. ( Thị trường du lịch- NXB Đại học quốc
gia Hà Nội).
Theo T.S Nguyễn Văn Đính khoa QTKD Du Lịch và Khách Sạn
trường ĐHKTQD-HN thì thị trương du lịch được định nghĩa như sau:
Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường hàng hoá nói chung
(là một bộ phận cấu thành đặc biệt) bao gồm toàn bộ các mối quan hệ và cơ
chế kinh tế gắn liền với địa điểm, thời gian, điều kiện phạm vi thực hiện hàng
hoá vầ dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch.
Ngoài ra nếu xét theo góc độ tổng quát thì thị trường du lịch được hiểu
là các nhu cầu của khách và các nhà cung cấp và các mối quan hệ giữa chúng.
Nếu xét theo góc độ một nhà doanh nghiệp thì thị trường du lịch là tập
hợp các khách hàng (nhóm khách hàng) có nhu cầu, mong muốn, khả năng
thanh toán nhưng chưa được thực hiện.
3.2. Một số đặc trưng chủ yếu của thị trường.
Trong phần này, để xét đặc điểm của thị trường thì ta tạm chia theo hai
mảng đó là thị trường nhà sản xuất và thị trường người tiêu dùng.
Đối với nhà sản xuất:
+ Qui mô của thị trường:
Thị trường nhà sản xuất có qui mô, danh mục hàng hoá và khối lượng
tiền chu chuyển lớn hơn thị trường người tiêu dùng. Bởi vì số lượng hàng hoá
tiêu dùng tới được tay người tiêu dùng đã phải trải qua một chuỗi các công
đoạn sản xuất, phân phối và hàng loạt các quá trình mua bán hàng hoá dịch vụ
khác nhau.
+ Kết cấu thị trường và đặc tính của cầu:
Trên thị trường nhà sản xuất thì người mua ít nhưng số lượng hàng hoá
mua sắm nhiều hơn so với thị trường người tiêu dùng. Đồng thời nó hình
thành nên những mối quan hệ mật thiết giữa người mua và người bán để duy
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
11

SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đối với thị trường người tiêu dùng:
+ Có quy mô lớn và thường xuyên gia tăng.
+ Khách hàng rất khác nhau về tuổi tác, thu nhập, giới tính… tạo nên
sự phong phú về cầu mua sắm hàng hoá.
+ Thị trường người tiêu dùng bao gồm những khách hàng mua sắm
hàng hoá nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Các quyết định của họ mang tính
chất cá nhân và việc tiêu dùng của họ không chỉ phục vụ cho tiêu dùng thông
thường mà nó còn trở thành “ nghệ thuật sống của họ”.

3.3. Sự khác nhau cơ bản của thị trường du lịch:
Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường hàng hoá nói chung
nên nó có đầy đủ đặc điểm như thị trường ở các lĩnh vực khác. Tuy nhiên do
đặc thù của du lịch nên thị trường du lịch có những đặc đIúm riêng khác hẳn
với thị trường hàng hoá.
Những đặc trưng của thị trường du lịch:
• Xuất hiện muộn hơn thị trường hàng hoá nói chung, nhu cầu bậc
cao. Thị trường du lịch chỉ xuất hiện khi du lịch trở thành hiện tượng kinh tế-
xã hội phổ biến. Khi nhu cầu thiết yếu của cuộc sống được thoả mãn và khi
khách du lịch với sự tiêu dùng của họ tác động tới “sản xuất” hàng hoá du lịch
ở ngoài nơi mà họ thường trú.
• Sản phẩm trên thị trường du lịch chủ yếu là dịch vụ. Sản phẩm
bao gồm các dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ
tham quan, dịch vụ vui chơi giải trí, môi giới, hướng dẫn… Ngoài ra hàng hoá
vật chất cũng được bán trên thị trường du lịch nhưng chiếm tỉ lệ rất thấp.
• Sản phẩm trên thị trường du lịch gần như không thể dịch chuyển.
Sản phẩm du lịch không thể vận chuyển đến nơi có khách hàng mà nó đòi hỏi
khách hàng phải đến nơi có sản phẩm du lịch để tiêu dùng nó. Khách hàng có

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Vietravel.
Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta có những
tăng trưởng vượt bậc với những cơ hội làm ăn mới cho cả những nhà kinh
doanh trong nước và những người nước ngoài vào Việt Nam. Đời sống người
dân ngày càng nâng cao dẫn đến nhu cầu đi du lịch ngày càng trở nên thiết
thực. Trước nhu cầu đi du lịch ngày càng lớn trong xã hội với nhiều mục đích
khác nhau. Những nhà lãnh đạo của bộ giao thông vận tải đã quyết định đề
xuất về việc thành lập một công ty du lịch. Do đó công ty du lịch và tiếp thị
giao thông vận tải Vietravel đã ra đời vào ngày 15/08/1992 là một doanh
nghiệp nhà nước trực thuộc bộ giao thông vận tải với tên gọi đầu tiên là
Tracodi Tours. Cho đến ngày 02/12/1995 Tracodi Tours chính thức được đổi
tên thành công ty du lịch và tiếp thị giao thông vận tải Vietravel theo quyết
định số 4962QĐ/TCCB-LĐ, với trụ sơ chính đặt tại: 16 Alexandre, Quận 3
TP.HCM.
Hiện nay Vietravel có trụ sở chính tại 190 Pasteur, Quận 3 TP.HCM.
Đồng thời với các chi nhánh nằm tại các thành phố lớn của Việt Nam đó là:
• Chi nhánh tại Hà Nội: Số 29 Bà Triệu, Quận Hoàn Kiếm (Hiện
nay là số 3 Hai Bà Trưng, Hà Nội)
• Chi nhánh tại Đà Nẵng: Số 148 Nguyễn Thị Minh Khai, TP Đà
Nẵng.
• Chi nhánh tại Quy Nhơn: 01 Bis Trần Bình Trọng, TP Quy
Nhơn.
• Chi nhánh tại Nha Trang: 58 Trần Phú, TP Nha Trang.
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Ngoài ra Vietravel còn có 4 văn phòng đại diện ở các nơi (Trong
đó có 2 văn phòng đặt tại TP.HCM, 1 văn phòng được đặt tại Nhật và 1 văn
phòng được đặt tại Pháp.
Biểu số 1: Mô hình tổ chức của công ty.

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trường trong và ngoài nước, đa dạng hoá các ngành nghề kinh doanh đảm bảo
nguồn vốn kinh doanh được tăng đều qua các năm. Đời sống nhân viên dần
dần ổn định và được cải thiện.
Với vai trò là nhà lữ hành chuyên nghiệp của Việt Nam, Vietravel là
một công ty lữ hành quốc tế, tổ chức các tours du lịch quốc tế (inbound và
outbound) và du lịch nội địa. Đối với du lịch quốc tế thì Vietravel tổ chức cho
các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam tham quan (inbound) và tổ chức
cho những người ở Việt Nam đi ra du lịch ở nước ngoài (outbound). Ngoài ra
Vietravel còn có chương trình dành riêng cho du lịch nội địa với các chương
trình phong phú đa dạng. Nhưng trước sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế
thị trường, ban lãnh đạo công ty nhận thấy không chỉ nên kinh doanh lữ hành
mà còn phải kinh doanh các dịch vụ bổ xung. Vì thế các dịch vụ bổ xung khác
ra đời đầu tiên là nhằm phục vụ tốt hơn chất lượng dịch vụ của công ty (dịch
vụ vận chuyển). Đồng thời các dịch vụ bổ xung khác phục vụ cho các sản
phẩm du lịch cũng được thực hiện như dịch vụ xuất nhập cảnh, đại lý bán vé
máy bay cho các hãng hàng không, dịch vụ ăn uống, thuê xe, hướng dẫn
viên… Hiện nay công ty đang phát triển mạnh các lĩnh vực đó là:
• Dịch vụ giao nhận và vận tải theo đường biển, hàng không và
đường bộ.
• Dịch vụ cung ứng hàng hải.
• Dịch vụ khai thuê hải quan.
• Dịch vụ đóng gói và tiếp vận hàng hoá trực tiếp.
• Dịch vụ bảo hiểm hàng hoá.
• Dịch vụ phân phối và khai thác kho bãi.
• Dịch vụ khai thác, quản lý, luân chuyển, vận chuyển Container.
• Đại lývà môi giới hàng hải.
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

phân vào các bộ phận như trên. Nhưng trong thực tế thì các bộ phận trên được
phân chi tiết hơn nhằm đáp ứng tốt nhất công việc đề ra.
• Bộ phận inbound có 04 người. Trong đó phụ trách chính là giám
đốc chi nhánh tạI Hà Nội. Để khắc phục tình hình số lượng ít ỏi của bộ phận
inbound thì trong 4 nhân viên có 1 nhân viên chuyên trách về thực hiện các
tour của công ty. Một nhân viên chuyên trách về bộ phận xây dựng sản phẩm
và bán hàng. Đặc biệt trong tình hình kinh doanh hiện nay, thị trường khách
du lịch Trung Quốc phát triển mạnh trong giai đoạn này là một thị trường lớn
đối với các công ty lữ hành hiện nay. Nhận thấy đIều này và cũng là để khai
thác tốt thị trường khách du lịch Trung Quốc cho nên bộ phận Inbound đã bố
trí 1 nhân viên chuyên trách vvề thị trường khách du lịch Trung Quốc nhằm
đáp ứng kịp thời cũng như phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách.
• Bộ phận nội địa có 3 nhân viên. Đây là bộ phận mới thành lập
nhằm khai thác tốt hơn thị trường khách du lịch nội địa. Trước đây bộ phận
này nằm trong bộ phận Inound.
• Bộ phận Outbound có 6 nhân viên trong đó phụ trách chính là
phó giám đốc chi nhánh. Đây là bộ phận có lượng nhân viên nhiều nhất trong
chi nhánh. Ngoài những công việc chính của bộ phận Outbound thì bộ phân
này còn giúp các bộ phận Inbound và nội địa các công việc bổ xung nhằm
phục vụ khách một cách tốt nhất.
• Bộ phận hành chính có 1 nhân viên.
• Bộ phận kế toán có 3 nhân viên trong đó có 1 thủ quỹ.
Bên cạnh đó chi nhánh Vietravel tại Hà Nội còn có 1 đội xe sang trọng
lịch sự để nhằm đem lại một dịch vụ hoàn hảo cho khách.
Đối với chi nhánh Vietravel tại Hà Nội hiện nay không sử dụng hướng
dẫn viên chính thức mà chỉ sử dụng hướng dẫn viên cộng tác. Đối với những
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đoàn khách quan trọng (VIP) thì chi nhánh sử dụng nhân viên bộ phận

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trong công ty đã cố gắng đưa Vietravel trở thành một trong những công ty
hàng đầu của Việt Nam.
1.3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật.
Những ngày đầu thành lập công ty gặp khó khăn về mọi mặt. Công
ty phải thuê văn phòng làm việc với trang thiết bị hạn chế nhưng qua những
năm tháng khó khăn đó công ty đã dần dần đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ
thuật. Cho đến nay công ty đã mua và đặt trụ sở chính tại 190 Pastuer, quận 3
TP.HCM với số tiền đầu tư lên đến gần 3 tỷ đồng. Với phương tiện vận
chuyển lúc đầu có 2 xe du lịch thì đến năm 2000 công ty đã có đội xe gồm 16
chiếc trong đó có 2 xe 4 chỗ ngồi, 4 xe từ 12 đến 16 chỗ ngồi, 2 xe 30 chỗ và
8 xe 45 chỗ ngồi.
Đối với chi nhánh Hà Nội thì cuối năm 2000 chi nhánh đã dưa vào sử
dụng đội xe gồm 4 chiếc, trong đó có 1 xe 4 chỗ, 1 xe 16 chỗ và 2 xe 45 chỗ
ngồi. Đây là một cố gắng lớn của công ty cũng như của chi nhánh nhằm góp
phần nâng cao chất lượng cho chương trình du lịch của mình và cũng đáp ứng
được phần nào nhu cầu vận chuyển, không phải thuê xe ngoài trong những
thời gian nhất định.
Ngoài ra công ty đã đầu tư trang bị mạng lưới máy tính với hệ thống
trên 40 chiếc được nối mạng đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của công ty.
Bên cạnh đó thì chi nhánh Vietravel tại Hà Nội cũng cố gắng đầu tư nâng cấp
hệ thống máy tính của mình nhằm phục vụ cho nhu cầu kinh doanh. Hiện nay
chi nhánh có 14 máy tính được nối mạng, đáp ứng tốt nhu cầu kinh doanh
hiện nay.
Mặt khác để đáp ứng nhu cầu của khách hiện nay, công ty đã đầu tư 1
tàu chuyên dụng và thiết bị lặn biển nhằm phục vụ cho khách du lịch lặn biển
của công ty tại Nha Trang.
Trên đây là những cố gắng của công ty cũng như của chi nhánh
Vietravel tại Hà Nội trong việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật hạ
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A

ngày 11/3/2003 trong đó có sự tham gia của hơn 40 doanh nghiệp Việt Nam.
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tại Đức còn là nơi đặt trụ sở của nhiều tổ chức du lịch lớn trên thế giới. Do
đó thị trường du lịch Đức có ảnh hưởng rất lớn đối với thị trường du lịch thế
giới nói chung và thị trường du lịch Việt Nam nói riêng.
2.2.2. Đặc điểm tâm lý khách du lịch Đức.
Dân tộc Đức có đặc điểm thông minh, tư duy chặt chẽ nhanh nhạy tiếp thu.
Người Đức có phong cách giao tiếp rõ ràng, rành mạch, sòng phẳng. Người
Đức có kế hoạch chi tiêu rất cụ thể và chặt chẽ nói lên họ rất tiết kiệm mặc dù
mức sống của họ cao. Người Đức có tài tổ chức, ý chí cao, sống và làm việc
theo kế hoạch cụ thể.
- Khi giao tiếp người Đức đứng cách đối tượng trên 50 cm.
- Người Đức rất hay bắt tay khi gặp nhau.
- Người Đức hay để ý đến hình thức.
Khi đi du lịch người Đức có đặc đIểm
- Rất tin vào việc quảng cáo du lịch.
- Thích đến những nơi có du lịch biển phát triển và điều kiện an ninh đảm
bảo.
- Thích có nhiều dịch vụ vui chơi giải trí ở điểm du lịch.
- Người Đức chi tiêu ở nơi du lịch ít.
- Đắm say với bầu không khí vui vẻ nhộn nhịp, thích các cuộc thăm quan
tập thể.
- Phương tiện giao thông ưa thích là ô tô du lịch, máy bay, xe lửa.
- Thường đi du lịch theo kiểu trọn gói.
- Thông thường sử dụng khách sạn hai, ba sao. Hình thức camping được
khách du lịch Đức ưa chuộng.
- Hành vi của người Đức rất tự nhiên.
- Khách du lịch Đức rất hay đánh giá về chất lượng phục vụ và bày tỏ thái

ty Vietravel đã định hướng để khai thác. Nhưng do còn gặp khó khăn về
nhiều mặt cho nên Vietravel chủ yếu đầu tư khai thác các thị trường của Châu
á. Và cho đến nay đã mở rộng ra các thị trường ở châu Âu, châu úc và châu
Mỹ. Đây có thể là những thị trường đầy hứa hẹn về tiềm năng để có thể đem
lại nguồn khách ổn định trong tương lai cho Vietravel.
SV: NguyÔn D¬ng Phong Líp du lÞch - 41A
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mặc dù gặp khó khăn về nhiều mặt nhưng trong quá trình hoạt động,
công ty Vietravel luôn luôn cố gắng tìm cách mở rộng thị trường. Hàng năm
công ty đã dầu tư một khoản ngân sách lớn để tham dự các hội chợ quốc tế do
các tổ chức trên thế giới và các nước tổ chức như : JATA( Nhật Bản), ASTA
(Mỹ), ITB (Đức 1994, 1998, 1999), BIT (ITALIA), FITUR (Tây Ban Nha),
STM (Pháp), ATI (úc)… Thông qua các hội chợ đó công ty đã khẳng định
được vị trí của mình trên thị trường các nước.
Bên cạnh việc tích cực tham gia vào các hội chợ để nhằm nâng cao uy
tín, cũng như quảng bá cho khách hàng thì Vietravel luôn luôn cố gắng tạo
được lòng tin đối với khách hàng cũng như đối với các công ty gửi khách, các
nhà cung cấp dịch vụ, dần dần từng bước tham gia các tổ chức du lịch lớn trên
thế giới để nâng cao các mối quan hệ cũng như tạo được lòng tin đối với
khách hàng và các nhà cung cấp. Hiện nay Vietravel đã tham gia và là thành
viên chính thức của các tổ chức du lịch lớn trên thế giới như: JATA (Nhật
Bản), PATA, ASTA, USTOA (Mỹ). Đây là những thuân lợi mà không phải
một doanh nghiệp lữ hành nào cũng dễ dàng có được. Cho nên Vietravel cần
phải cố gắng đầu tư và sử dụng một cách có hiệu quả các nối quan hệ tốt đẹp
này.
Trong bối cảnh hiện nay của thế giới mỗi ngày lại có những diễn biến
phức tạp như: tình hình an ninh thiếu ổn định ở các nước Trung Đông, các vụ
khủng bố liên tiếp xay ra mà điển hình là vụ khủng bố ngày 11/09/2001 tại
Mỹ và vụ khủng bố gần đây tại đảo Bali của Indonesia làm hơn 200 khách du


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status