Lời nói đầu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu bớc ngoặt lớn trong cơ chế
quản lý kinh tế nớc ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong bối
cảnh mới, Đảng và Nhà nớc ta đã chủ trơng mở rộng quan hệ ngoại thơng.
Kinh doanh xuất nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc phát
triển nền kinh tế đất nớc. Xuất khẩu là nguồn tăng thu ngoại tệ, nâng cao khả
năng phát triển nền kinh tế. Song nhập khẩu lại là điều kiện cần thiết để thực
hiện tái sản xuất mở rộng, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Nhập khẩu cho phép tận dụng đợc tiềm năng về khoa học kỹ thuật tiên tiến của
các nớc trên thế giới.
Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nớc nhu cầu về máy móc thiết bị,
vật liệu vật t không ngừng tăng lên . Cùng với tiến trình phát triển của đất nớc,
công ty Thơng mại du lịch và dịch vụ TST đã không ngừng vơn lên tự hoàn
thiện mình. Hoạt động kinh doanh XNK nói chung và kinh doanh nhập khẩu
máy móc thiết bị, vật liệu vật t... nói riêng đã đạt đợc những kết quả bớc đầu t-
ơng đối khả quan. Tuy nhiên đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty
không thoả mãn với những việc đã làm đợc mà luôn trăn trở để thực hiện tốt
hơn nữa chức năng, nhiệm vụ mà Bộ Thơng mại giao phó.
Trong điều kiện bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới có nhiều thay đổi theo
chiều hớng xấu, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu á vẫn còn d âm ảnh
hởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nớc trong khu vực. Bên cạnh đó
chính sách quản lý nhập khẩu của Nhà nớc cũng còn nhiều tồn tại nh biểu thuế
nhập khẩu cha khoa học, thủ tục hành chính còn nhiều phiền phức... Trớc rất
nhiều khó khăn nh vậy làm thế nào để hoạt động nhập khẩu của công ty đạt
hiệu quả cao? làm thế nào để phát huy thế mạnh của công ty có uy tín trong và
ngoài nớc? đó là những câu hỏi đặt ra từ thực trạng hoạt động nhập khẩu ở công
ty dịch vụ du lịch và thơng mại TST.
1
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại công ty em đã tập trung nghiên cứu
thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty và đã chọn đề tài:
Thơng mại Quốc tế cho phép mua đợc những hàng hoá và dịch vụ ở
những thị trờng có giá rẻ hơn, sau đó bán chúng ở những thị trờng có giá cao.
Nhng điều lý thú hơn cả là không phải lúc nào ta cũng mua đợc các sản phẩm
có giá rẻ và bán chúng với giá đắt mà cái chính là chúng ta lợi dụng đợc lợi thế
so sánh, nhờ đó qua trao đổi Quốc tế mà cả hai bên đều có lợi.
Nói đến Thơng mại Quốc tế không thể không tìm hiểu về các lý thuyết
kinh tế, đặc biệt là quy luật lợi thế so sánh. Quy luật lợi thế so sánh nhấn mạnh
3
sự khác nhau về chi phí sản xuất, coi đó là chìa khoá của phơng thức thơng mại.
Một quốc gia phải tập trung vào sản xuất và trao đổi sản phẩm mà ở đó thể hiện
mối tơng quan thuận lợi hơn giữa các mức chi phí cá biệt của Quốc gia đó với
mức chi phí trung bình Quốc tế trên thị trờng Thế giới. Do đó có thể thấy cốt lõi
của lợi thế so sánh là sự khéo léo lựa chọn, biết kết hợp giữa u thế của một nớc
với u thế của nớc khác để đạt đợc lợi thế tối đa trên cơ sở một khả năng hạn chế.
Nh vậy, một Quốc gia muốn phát triển thì phải bảo đảm hiệu quả tối đa
của việc chuyên môn hoá trên cơ sở lợi thế so sánh. Làm đợc điều đó thì bất cứ
một quốc gia nào cũng có thể tham gia vào thị trờng Thơng mại Quốc tế một
cách có lợi nhất.
1.2. Vị trí của công tác nhập khẩu trong Thơng mại Quốc tế đối với
một quốc gia.
Nớc ta cũng nh nhiều nớc khác có khả năng rất lớn về nhiều mặt nh: tài
nguyên thiên nhiên, lao động... song không chỉ nhằm vào chúng một cách độc
lập mà hy vọng đạt hiệu quả cao. Tức là nói ngắn gọn không thể có một nền
kinh tế phát triển cao dựa trên cơ sở hoàn toàn tự cấp tự túc.
Để khai thác hiệu quả tiềm năng trên, chúng ta phải có vốn, khoa học kỹ
thuật và công nghệ hiện đại. Để có những yếu tố này chúng ta có thể sử dụng
nhiều phơng pháp mà phơng pháp cơ bản nhất là thông qua Thơng mại Quốc tế
trong đó chủ yếu và giữ vị trí chủ động là hoạt động nhập khẩu. Trong điều kiện
chúng ta còn tơng đối lạc hậu về kinh tế công nghệ kỹ thuật thấp kém thì việc
thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc hiện đại hoá lực lợng sản
đóng, chế độ tự cấp, tự túc.
- Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hoá hiếm hoặc quá
hiện đại mà trong nớc không thể sản xuất đợc).
- Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế, thị trờng trong và ngoài n-
ớc với nhau, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy đợc
lợi thế so sánh của đất nớc trên cơ sở chuyên môn hoá.
3. Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong thơng mại quốc tế.
5
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ đợc tiến hành ở các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, nhng trong thực tế do tác động của
môi trờng, điều kiện kinh doanh cùng với sự năng động sáng tạo của ngời kinh
doanh đã tạo ra nhiều hình thức nhập khẩu khác nhau. Có thể kể ra đây một vài
hình thức nhập khẩu đang đợc sử dụng tại các doanh nghiệp của nớc ta hiện
nay.
3.1. Nhập khẩu trực tiếp:
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu độc lập của một
doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trờng trong và ngoài
nớc, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phơng hớng,
chính sách luật pháp của Nhà nớc cũng nh quốc tế.
Trong hoạt động nhập khẩu tự doanh, doanh nghiệp hoàn toàn nắm quyền
chủ động và phải tự tiến hành các nghiệp vụ của hoạt động nhập khẩu từ nghiên
cứu thị trờng, lựa chọn bạn hàng, lựa chọn phơng thức giao dịch, đến việc ký
kết và thực hiện hợp đồng. Doanh nghiệp phải tự bỏ vốn để chi trả các chi phí
phát sinh trong hoạt động kinh doanh và đợc hởng toàn bộ phần lãi thu đợc
cũng nh phải tự chịu trách nhiệm nếu hoạt động đó thua lỗ.
Khi nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp đợc trích kim ngạch nhập khẩu,
khi tiêu thụ hàng nhập khẩu doanh nghiệp phải chịu thuế doanh thu, thuế lợi
tức.
Thông thờng, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng nhập khẩu với nớc
ngoài, còn hợp đồng tiêu thụ hàng hoá trong nớc thì sau khi hàng về sẽ lập.
Nhập khẩu liên doanh có đặc điểm: so với tự doanh thì các doanh nghiệp
nhập khẩu liên doanh ít chịu rủi ro bởi mỗi doanh nghiệp liên doanh nhập khẩu
chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của các bên
cũng tăng theo số vốn góp, việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn
7
góp, lãi lỗ hai bên phân chia tuỳ theo thoả thuận dựa trên vốn góp cộng với phần
trách nhiệm mà mỗi bên gánh vác.
Trong nhập khẩu liên doanh thì doanh nghiệp đứng ra nhận hàng sẽ đợc
tính kim ngạch xuất nhập khẩu. Khi đa hàng về tiêu thụ thì chỉ đợc tính doanh
số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế doanh thu trên doanh số đó.
Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia liên doanh phải lập hai hợp đồng:
- Một hợp đồng mua hàng với nớc ngoài.
- Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác (không nhất thiết phải
là doanh nghiệp Nhà nớc).
4. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động nhập khẩu.
4.1. Các chế độ chính sách luật pháp trong nớc và quốc tế:
Đây là những vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu buộc phải nắm vững và tuân theo một cách vô điều kiện. Vì nó thể
hiện ý chí của Đảng lãnh đạo mỗi nớc, sự thống nhất chung của Quốc tế, nó bảo
vệ lợi ích chung của các tầng lớp trong xã hội, lợi ích của các nớc trên thơng tr-
ờng Quốc tế. Hoạt động nhập khẩu đợc tiến hành giữa các chủ thể các Quốc gia
khác nhau. Bởi vậy, nó chịu sự tác động của các chính sách, chế độ, luật pháp
của các quốc gia đó. Chẳng hạn nh tự sửa đổi thực hiện, sửa đổi luật pháp quốc
gia hay sự thực hiện thay đổi chính sách thuế u đãi của một nớc hay một nhóm
nớc, điều đó không những chỉ ảnh hởng đến nớc đó mà còn ảnh hởng đến các n-
ớc có quan hệ kinh tế xã hội với những nớc đó. Đồng thời, hoạt động xuất nhập
khẩu phải nhất định tuân theo những quy định luật pháp Quốc tế chung. Luật
pháp quốc tế buộc các nớc vì lợi ích chung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm
và nghĩa vụ của mình trong hoạt động của mình trong hoạt động nhập khẩu, do
đó tạo nên sự tin tởng cũng nh hiệu quả cao trong hoạt động này.
9
xuất đợc những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao thì nhu cầu về hàng nhập khẩu
tăng lên là điều tất nhiên và do đó nó ảnh hởng đến hoạt động nhập khẩu.
Ngợc lại, sự phát triển của nền sản xuất nớc ngoài làm tăng khả năng của
sản phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm mới thuận tiện, hiện đại, sẽ hấp dẫn nhu
cầu nhập khẩu đẩy nó lên cao tạo đà cho hoạt động nhập khẩu phát triển.
Tuy nhiên, không phải lúc nào sản xuất trong nớc phát triển thì hoạt động
bị thu hẹp, mà nhiều khi để tránh sự độc quyền, tạo ra sự cạnh tranh, hoạt động
nhập khẩu lại đợc khuyến khích phát triển. Tơng tự nh vậy, để bảo vệ quyền sản
xuất trong nớc, khi nền sản xuất nớc ngoài phát triển thì hoạt động nhập khẩu
càng bị thu hẹp và kiểm soát gắt gao.
Cũng nh sản xuất, sự phát triển của hoạt động Thơng mại trong và ngoài
nớc, sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh Thơng mại quyết định đến
sự chu chuyển, lu thông hàng hoá trong nền kỹ thuật hay giữa các nền kinh tế.
Chính vì vậy, nó tạo thuận lợi cho công tác nhập khẩu. Mặt khác do chủ thể của
hoạt động nhập khẩu chính là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, sự phát triển
của doanh nghiệp này đồng nghĩa với việc thực hiện một cách có hiệu quả các
hoạt động nhập khẩu. Trong một nớc mà các doanh nghiệp Thơng mại không đ-
ợc tự chủ phát triển, chịu sự can thiệp quá sâu của Nhà nớc thì hoạt động nhập
khẩu cũng không thể phát huy thế chủ động, tinh thần sáng tạo không thể vơn
mạnh ra nớc ngoài từ đó tạo ra sự bí bách trong nền kinh tế.
4.5. Hệ thống tài chính ngân hàng.
Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh,
nó can thiệp sâu tới tất cả các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù tồn tại dới hình
thức nào, thuộc thành phần kinh tế nào.
Có đợc điều đó là bởi nó đóng vai trò hết sức to lớn trong hoạt động quản
lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, chính xác,
nhanh chóng cho các doanh nghiệp. Hoạt động nhập khẩu sẽ không thực hiện đ-
ợc nếu không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng, dựa trên các thuận lợi
cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu, đảm bảo cho họ về mặt
nền sản xuất hàng hoá.
Việc nghiên cứu thị trờng là công việc đầu tiên cũng là công việc đòi hỏi
cần đợc tiến hành liên tục thờng xuyên trong suốt quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.1. Nghiên cứu thị trờng trong nớc.
Việc nghiên cứu thị trờng trong nớc nhằm mục đích nhận biết sản phẩm
nhập khẩu, từ đó chọn ra mặt hàng kinh doanh có lợi nhất. Muốn nh vậy phải
trả lời đợc những câu hỏi sau:
* Thị trờng trong nớc cần những mặt hàng gì? Tình hình tiêu thụ mặt
hàng đó ra sao?
Cần phải xác định đợc nhu cầu của ngời tiêu dùng về các mặt hàng một
cách cụ thể về quy cách, phẩm chất, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, số lợng để nhập
khẩu hàng hoá về thoả mãn đúng, đủ, kịp thời những nhu cầu đó.
* Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống? Tình hình sản
xuất mặt hàng đó ở trong nớc nh thế nào?
Mỗi sản phầm hàng hoá đều có chu kỳ sống riêng. Chu kỳ sống của mỗi
sản phẩm bao gồm các pha: pha giới thiệu, pha phát triển, pha hng thịnh, pha
bão hoà, pha suy thoái, ở mỗi pha chu kỳ sống, nhu cầu của ngời tiêu dùng về
sản phẩm là rất khác nhau, biểu hiện ra thành hành động mua cũng cũng rất
khác nhau. Do vậy để kinh doanh nhập khẩu đạt hiệu quả cao cần thiết phải
nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm và nắm bắt đợc sản phẩm đang ở giai
đoạn nào của chu kỳ sống.
Bên cạnh nghiên cứu nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu, cần phải nghiên
cứu để biết đợc cung trong nớc về hàng hoá đó. Chênh lệch nhu cầu về hàng
hoá và cung trong nớc của hàng hoá đó chính là nhu cầu về hàng hoá nhập
khẩu. Yếu tố ảnh hởng trực tiếp mạnh mẽ đến cung của một hàng hoá là khả
năng sản xuất và tốc độ phát triển sản xuất của hàng hoá đó. Do vậy, muốn biết
12
đợc nên kinh doanh nhập khẩu mặt hàng gì với số lợng là bao nhiêu cần phải
nghiên cứu tình hình trong nớc về sản xuất mặt hàng đó nh thế nào.
nhất có ảnh hởng đến tất cả thị trờng hàng hoá. Nắm vững ảnh hởng của tình
hình kinh tế t bản chủ nghĩa đối với thị trờng hàng hoá có ý nghĩa quan trọng
trong việc vận dụng các kết quả nghiên cứu thị trờng và giá cả để chọn thời gian
giao dịch thích hợp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.
- Nhân tố thời vụ ảnh hởng đến dung lợng thị trờng hàng hoá trên cả ba
khâu sản xuất, lu thông, tiêu dùng. Một số hàng hoá chịu ảnh hởng của các yếu
tố mang tính chất thời vụ do đó việc sản xuất, lu thông, tiêu dùng những hàng
hoá này cũng rất khác nhau nên sự tác động của nhân tố thời vụ đến dung lợng
thị trờng của những hàng hoá khác nhau cũng rất khác nhau. Nghiên cứu nhân
tố này đòi hỏi phải nắm vững đặc điểm của mặt hàng kinh doanh và tính chất
thời vụ của nó để ra các quyết định đúng đắn về hành động mua, vận chuyển và
phân phối hàng hoá đó trong nớc.
* Các nhân tố ảnh hởng lâu dài.
Có những nhân tố không làm thay đổi dung lợng thị trờng hàng hoá một
cách nhanh chóng mà ta có thể dễ dàng nhận biết ngay đợc. Những nhân tố này
có thể gây những biến động rất lớn về dung lợng thị trờng nhng phải trải qua
một quá trình chứ không phải trong một thời gian ngắn. Có thể đến các nhân tố
nh tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp và chính sách của nhà nớc và các
tập đoàn t bản lũng đoạn, thị hiếu và tập quán ngời tiêu dùng, ảnh hởng của các
hàng hoá thay thế.
* Các nhân tố ảnh hởng tạm thời:
Các nhân tố có thể kể đến là: các yếu tố tự nhiên, thiên tai, bão lụt, hạn
hán.. gây ra sự biến đổi cung cầu của một số mặt hàng nhất định. Cần phải
nghiên cứu các yếu tố này để có thể đối phó đợc với các tình huống bất ngờ xảy
ra.
14
1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên phạm vi thị trờng thế giới.
Trên thị trờng thế giới, giá cả không những phản ánh mà còn điều tiết
cung cầu. Việc xác định đúng đắn giá cả trên thị trờng quốc tế trong hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả Thơng mại
hay giảm xuống một cách bất thờng.
* Xác định giá xuất - nhập đối với thị trờng có quan hệ giao dịch.
Trên cơ sở phân tích đúng đắn ảnh hởng của các nhân tố, ta có thể dự
đoán đợc xu hớng biến động của giá cả trên thị trờng thế giới, từ đó xác định đ-
ợc mức giá cho từng mặt hàng mà ta có kế hoạch nhập.
Nếu hàng hoá nhập khẩu là đối tợng giao dịch phổ biến hoặc có các trung
tâm giao dịch quốc tế thì nhất thiết phải tham khảo thị trờng thế giới về hàng
hoá đó. Đồng thời cần tham khảo giá xuất khẩu loại hàng hoá đó từ khu vực thị
trờng các nớc bạn hàng đi các nớc nhập khẩu khác. Cần chú ý tới cớc phí vận
tải, các chế độ u đãi thuế quan để định giá cho chính xác.
Với các mặt hàng nhập khẩu thông thờng, có thể dựa vào giá chào hàng
của các đơn vị cung ứng, giá nhập khẩu của các năm trớc đó có tính đến các
thay đổi của sản phẩm và các yếu tố có liên quan để đa ra một mức giá nhập
khẩu hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
2. Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu.
2.1. Lựa chọn đối tợng giao dịch
Lựa chọn đối tợng giao dịch bao gồm vấn đề lựa chọn đối tợng để giao
dịch và lựa chọn thơng nhân. Khi lựa chọn nớc để nhập khẩu hàng hoá nhằm
đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nớc, chúng ta cần nghiên cứu tình
hình chung của nớc đó nh khả năng và chất lợng hàng xuất khẩu của họ, chính
sách, luật pháp, tập quán thơng mại... Khi lựa chọn thơng nhân để giao dich,
trong điều kiện cho phép, hiệu quả nhất là nên chọn ngời sản xuất để nhập khẩu
trực tiếp. Tuy nhiên, khi muốn thâm nhập vào thị trờng mới, mặt hàng mới thì
việc giao dịch qua trung gian với t cách là đại lý môi giới lại có ý nghĩa quan
trọng. Để lựa chọn đợc chính xác và đúng đắn, không nên căn cứ vào những lời
16
quảng cáo, tự giới thiệu, mà cần phải tìm hiểu khách hàng về thái độ chính trị
của thơng nhân, khả năng tài chính, quan điểm kinh doanh, lĩnh vực kinh
doanh, uy tín và mối quan hệ của họ trong kinh doanh.
Khi nghiên cứu những vấn đề trên đây, ngời ta áp dụng hai phơng pháp
thỉnh cầu trớc khi bớc vào giao dịch, về phơng diện thơng mại thì đây là việc
ngời mua đề nghị ngời bán cho biết giá cả hàng hoá và các điều kiện mua hàng.
Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của ngời hỏi giá.
- Phát giá: luật pháp coi đây là lời đề nghị ký kết hợp đồng. Phát giá có
thể do ngời bán hoặc ngời mua đa ra. Nhng trong buôn bán ngoại thơng, phát
giá là chào hàng thờng do ngời xuất khẩu thể hiện ý định bán hàng của mình
bằng cách nêu rõ các điều kiện đã nêu trong hỏi giá (chú ý có thêm điều kiện
giao hàng).
- Hoàn giá: bên mua không chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó mà đa ra
đề nghị mới.
- Chấp nhận: là sự đồng ý hoàn toàn tất cả các điều kiện chào hàng.
- Xác nhận: hai bên mua và bán sau khi đã thống nhất với nhau về điều kiện
giao dịch có thể lập hai văn kiện ghi lại mọi điều đã thoả thuận, gửi cho nhau.
Trong các bớc giao dịch đàm phán trên thì chào hàng và đặt hàng là hai
khâu đợc quan tâm hơn cả vì đó là cơ sở để dẫn đến ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Việc giao dịch, đàm phán sau khi đã có kết quả sẽ dẫn đến ký kết hợp đồng
nhập khẩu.
b. Hợp đồng nhập khẩu.
Hợp đồng nhập khẩu chính là hợp đồng kinh tế ngoại thơng, trong đó có
sự thoả thuận của đơng sự có quốc tịch khác nhau về chuyển giao quyền sở hữu
hàng hoá, nghĩa vụ thanh toán, trả tiền nhận hàng.
Hợp đồng kinh tế ngoại thơng của nớc ta bắt buộc phải thể hiện dới hình
thức văn bản. Bởi đây là hình thức tốt nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của hai
bên, nó xác định rõ ràng mọi quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua và bên bán,
18
tránh đợc những hiểu lầm do không thống nhất về quan niệm, đồng thời tạo
điều kiện thuận lợi cho thống kê, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện.
Hợp đồng nhập khẩu có các điều khoản chủ yếu nh sau:
+ Phần mở đầu: Ghi thông tin về số hợp đồng, ngày và nơi ký hợp đồng,
về chủ thể hợp đồng (tên giao dịch Quốc tế, địa chỉ, số điện thoại...)
đổi.
Giá quy định: đợc xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Giá linh hoạt: là giá có thể đợc điều chỉnh trong quá trình thực hiện hợp
đồng.
Giá di động: ngời ta quy định mức giá ban đầu, sau đó tính toán lại trong
khi thực hiện hợp đồng trên cơ sở giá ban đầu.
Nhng trong việc xác định giá cả, thông dụng hơn cả ngời ta luôn luôn
định rõ điều kiện cơ sở giao hàng có liên quan với giá đó. Sở dĩ nh vậy là vì
điều kiện giao hàng đã bao hàm các trách nhiệm và các chi phí mà ngời bán
phải chiụ trong việc mua hàng nh: vận chuyển, bốc dỡ, mua bảo hiểm, chi phí l-
u kho, làm thủ tục hải quan... Vì vậy trong các hợp đồng mua bán, mức giá bao
giờ cũng đợc xác định căn cứ và điều kiện cơ sở giao hàng và điều kiện cơ sở
giao hàng ấy thờng đợc ghi bên cạnh rõ ràng.
+ Điều khoản giao hàng: nội dung của điều khoản này xác định thời hạn,
địa điểm, phơng thức giao hàng và thông báo giao hàng. Thời hạn giao hàng là
thời hạn mà ngời bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Nếu các bên không
có thoả thuận gì khác thì thời hạn này là lúc di chuyển rủi ro, tổn thất từ ngời
bán sang ngời mua. Giao hàng không đúng hạn có thể thiệt hại và phải bồi th-
ờng. Có ba kiểu quy định giao hàng: giao hàng có định kỳ, giao hàng không có
định kỳ và giao hàng ngay.
Phơng thức giao hàng: có thể quy định tiến hành tại một địa điểm nào đó,
có thể giao sơ bộ, giao cuối cùng hoặc có thể giao nhận về số lợng, chất lợng...
20
Thông báo giao hàng: các điều kiện về cơ sở giao hàng đã bao hàm nghĩa
vụ thông báo giao hàng. Tức là quy định nội dung và số lần thông báo khi ngời
bán giao hàng xong.
+ Điều khoản thanh toán trả tiền: trong việc thanh toán trả tiền hàng, các
bên thờng phải xác định những vấn đề về đồng tiền thanh toán, thời hạn trả tiển,
phơng thức trả tiền và các điều kiện đảm bảo hối đoái.
Đồng tiền thanh toán: giống nh các điều khoản trên quy định trong Th-
tiền.
+ Điều khoản bảo đảm hối đoái: vì đồng tiền trên thế giới luôn bị lạm
phát, mất giá hay bị thay đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy các bên
có thể thoả thuận quy định những điều kiện bảo đảm tỷ giá hối đoái. Có thể
dùng vàng hoặc đồng tiền mạnh, ổn định.
+ Điểu khoản bảo hành: là sự bảo đảm của ngời bán về chất lợng hàng
hoá trong thời gian nhất định đợc gọi là thời hạn bảo hành. Ngời ta thờng thoả
thuận về phạm vi đảm bảo của ngời bán, thời hạn bảo hành và trách nhiệm của
ngời bán trong thời hạn bảo hành.
+ Điều kiện bất khả kháng: trong trờng hợp nếu có rủi ro xảy ra, bên đ-
ơng sự đợc hoàn toàn và trong một chừng mực nào đó đợc miễn trách nhiệm
nếu rủi ro đó có tính chất khách quan mà không thể khắc phụ đợc. Trách nhiệm
của bên gặp rủi ro là phải lập tức thông báo cho bên kia bằng văn bản. Ngời ta
thờng thoả thuận chỉ định một tổ chức chứng nhận sự việc xảy ra, thờng là
phòng thơng mại.
3. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thơng đợc ký kết, đơn vị kinh doanh
xuất nhập khẩu với t cách là một bên ký hợp đồng phải tổ chức hợp đồng đó.
Đây là một công việc rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ luật pháp
Quốc gia, Quốc tế, đảm bảo uy tín của cả hai bên. Về mặt kinh doanh, trong
quá trình thực hiện các khâu công việc, đơn vị kinh doanh phải cố gắng tiết
22
kiệm chi phí lu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của các nghiệp vụ
giao dịch.
Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành
các khâu công việc sau:
3.1. Xin giấy phép nhập khẩu:
Hiện nay, việc xin giấy phép nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh
doanh XNK ở Việt Nam vẫn đợc áp dụng trong trờng hợp:
- Nếu là hàng hoá thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch thì doanh nghiệp
chủ hàng nhập khẩu thờng mua bảo hiểm tại các Công ty bảo hiểm có uy tín.
Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm hoặc là bảo hiểm chuyến. Để
ký hợp đồng bảo hiểm cần nắm vững những điều kiện bảo hiểm:
- Bảo hiểm mọi rủi ro.
- Bảo hiểm có tổn thất riêng.
- Bảo hiểm miễn tổn thất riêng.
Ngoài ra có một số loại bảo hiểm phụ: vỡ, rò, rỉ, mất trộm, ôxi hoá... và
bảo hiểm đặc biệt: chiến tranh, đình công, bạo động, dân biến...
Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm phải dựa trên 4 căn cứ:
- Điều khoản hợp đồng.
- Tính chất hàng hoá.
- Tính chất bao bì và phơng thức xếp hàng.
- Loại tàu chuyên chở.
- Tình hình khí hậu thời tiết, chính trị, xã hội...
3.5. Làm thủ tục hải quan.
Hàng hoá khi đi ngang qua biên giới quốc gia để nhập khẩu đều phải làm
thủ tục hải quan gồm ba nội dung chủ yếu sau:
24
- Khai báo hải quan: chủ hàng phải khai báo các loại chi tiết hàng hoá lên
tờ khai về: loại hàng hoá (hàng mậu dịch, phi mậu dịch, hàng trao đổi tiền
ngạch biên giới, hàng tạm nhập tái xuất), số lợng, khối lợng, giá trị hàng hoá,
phơng tiện vận tải, nớc giao dịch... kèm theo đó là giấy phép nhập khẩu, hoá
đơn, bản kê chi tiết để cơ quan hải quan kiểm tra thủ tục giấy tờ.
- Xuất trình hàng hoá: hàng hoá nhập khẩu phải đợc sắp xếp trật tự, thuận
tiện cho việc kiểm tra, mọi chi phí liên quan đến việc đóng mở hàng hoá, chủ hàng
phải chịu. Yêu cầu việc xuất trình hàng hoá phải đảm bảo trung thực.
- Thực hiện các quyết định của hải quan: nghĩa vụ của chủ hàng là phải
chấp hành mọi quyết định của hải quan về việc: nộp thuế trong vòng 30 ngày
nếu hàng hoá đợc nhập, hoặc nộp phạt nếu hàng hoá sai quy định, tịch thu nếu
hàng hoá nằm trong danh mục cấm nhập của Nhà nớc.