LĨNH VỰC: LUẬT HỌC
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRẺ ĐHQG – HCM LẦN I
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
TRÊN HÀNH TRÌNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
Trần Thị Tường Vân, Hồ Đức Thảo, Nguyễn Thế Đức Tâm, Ngô Nguyễn Thảo Vy
Trường Đại học Kinh tế - Luật – ĐHQG Tp.HCM, Trường Đại học Luật Tp.HCM
TÓM TẮT:
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, trọng tài thương mại, với tư cách là một cơ chế giải quyết tranh chấp
ngoài Tòa án, đã và đang góp phần không nhỏ vào sự ổn định của hoạt động thương mại trên thế giới. Ở
nước ta, chế định này đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, song cho đến nay vẫn chưa tìm được vị thế vững chắc
trong đời sống kinh tế – xã hội. Những năm đầu thế kỷ XIX, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và Luật
trọng tài thương mại 2010 đã đánh dấu bước nhảy vọt của pháp luật Việt Nam trên hành trình cải cách và
hội nhập với chuẩn mực chung của trọng tài thương mại hiện đại.
Nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, các tác
giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp luật so sánh đi sâu phân tích tiến trình hình thành và phát
triển của pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại trong sự tương quan với pháp luật quốc tế thông qua
ba giai đoạn chủ yếu: (i) giai đoạn sơ khai (trước năm 2003), (ii) giai đoạn chuyển tiếp (năm 2003 – 2010)
và (iii) giai đoạn hội nhập (năm 2010 – nay). Từ đó, bài viết đưa ra những dự báo và giải pháp nhằm thúc
đẩy quá trình tiêu chuẩn hóa và quốc tế hóa trọng tài thương mại Việt Nam, đồng thời làm cho mô hình này
thực sự trở thành phương thức giải quyết tranh chấp dễ tiếp cận, nhanh chóng, hiệu quả và đáng tin cậy
trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: trọng tài thương mại, xu hướng phát triển, pháp luật Việt Nam, tiêu chuẩn hóa, quốc tế hóa
So với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế
giới, thể chế trọng tài thương mại Việt Nam trải
qua quá trình phát triển đặc thù. [54] Phần đầu
tiên của bài viết này khái quát những bước phát
triển cơ bản của pháp luật Việt Nam về trọng tài
thương mại cùng một số nét đặc trưng của nó.
1. GIAI ĐOẠN SƠ KHAI (TRƯỚC NĂM
Nam theo Quyết định số 204/TTg ngày
28/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ.
1.3. Năm 1994 – 2003
Bước vào thời kỳ hội nhập, diện mạo pháp luật
nước ta có sự thay đổi. Lúc này tồn tại song song
hai hệ thống cùng có chức năng giải quyết tranh
chấp kinh tế là trung tâm trọng tài kinh tế và Tòa
án kinh tế. Ngoài ra, cần lưu ý rằng tồn tại hai mô
hình trọng tài phi chính phủ khác nhau. Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoạt động
theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng riêng. Trong khi
LĨNH VỰC: LUẬT HỌC
đó, có năm trung tâm trọng tài được thành lập
theo Nghị định 116/CP ngày 05/09/1994 với
hoạt động thực tiễn rất hạn chế. [61] Do đó,
thành công của Nghị định 116/CP khá khiêm tốn
do yếu tố quản lý nhà nước được đề cao mà chưa
chú ý đúng mức yếu tố thực tiễn. [16; 27; 39]
Hơn nữa, các văn bản pháp luật trên đều có hiệu
lực pháp lý thấp. Do vậy, yêu cầu phải sớm ban
hành văn bản thống nhất, có hiệu lực pháp lý cao
nhằm ổn định mặt bằng pháp lý cho mô hình
trọng tài trở nên bức thiết. [15]
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tác động
tích cực đến việc xây dựng hành lang pháp lý,
đặc biệt thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại
như Luật Trọng tài Singapore năm 2001, Luật
Trọng tài Thái Lan năm 2002, Luật Trọng tài
Nhật Bản năm 2003, Luật Trọng tài thương mại
Cambodia năm 2006, ...
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRẺ ĐHQG – HCM LẦN I
Hai là, về mô hình và cơ cấu tổ chức, Pháp lệnh
thừa nhận hai hình thức trọng tài gồm Trung tâm
Trọng tài (Trọng tài thường trực hoặc tổ chức
trọng tài) và Trọng tài vụ việc (Trọng tài Ad hoc).
Hình thức trọng tài vụ việc lần đầu tiên được thừa
nhận, tạo điều kiện cho các bên tự do lựa chọn
hình thức trọng tài. Trong một tranh chấp về việc
giao nhận thầu xây dựng diễn ra vào cuối năm
2009, các bên đã tiến hành giải quyết tranh chấp
thông qua một Hội đồng Trọng tài vụ việc. Đây
được xem là vụ kiện bằng phương thức Trọng tài
vụ việc đầu tiên tại Việt Nam. [40]
Ba là, Pháp lệnh xác định phạm vi cụ thể hơn
thẩm quyền của Trọng tài bằng cách liệt kê các
loại việc Trọng tài được giải quyết (Điều 2). Việc
đưa ra định nghĩa khái niệm thương mại là bước
đột phá lớn thể hiện tính tiên phong trong công tác
lập pháp vào thời điểm đó.
Bốn là, Pháp lệnh đưa ra cơ chế xác định hiệu lực
pháp lý của thoả thuận trọng tài, làm cơ sở phân
định thẩm quyền giữa trọng tài và tòa án. Ngoài
ra, Pháp lệnh đã giải quyết vấn đề thoả thuận
trọng tài vô hiệu (Điều 10) làm căn cứ để các bên
Pháp lệnh Trọng tài Thương mại là văn bản pháp
luật đầu tiên của pháp luật Việt Nam đưa ra khái
niệm tương đối đầy đủ về trọng tài thương mại,
trong đó thuật ngữ “thương mại” được hiểu theo
nghĩa rộng theo tinh thần Luật Mẫu UNCITRAL
(Điều 3). Tuy nhiên, trong quá trình thi hành, đã
có cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “thương
mại” trong Pháp lệnh. Điều này dẫn đến tranh
cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh
chấp của trọng tài. Ngoài ra, Pháp lệnh chưa làm
rõ được vấn đề tranh chấp phát sinh từ “quan hệ
ngoài hợp đồng” có được giải quyết bằng trọng
tài hay không, trong khi đó Luật Mẫu
UNCITRAL và Công ước New York 1958 cũng
như luật Trọng tài của hầu hết các nước trên thế
giới như đều quy định cụ thể về các tranh chấp
phát sinh từ quan hệ hợp đồng hoặc ngoài hợp
đồng đều được giải quyết bằng trọng tài. [55]
2.2.2. Vấn đề chủ thể được giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài
Theo quy định của Pháp lệnh, chỉ có các chủ thể
là “tổ chức, cá nhân kinh doanh” mới có quyền
được lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài (Điều 3) tuy nhiên lại không giải
thích cách hiểu. Do vậy, các quy định của Pháp
lệnh không còn phù hợp mới tình hình mới.
2.2.3. Vấn đề thoả thuận trọng tài
2.2.3.1. Việc quy định thỏa thuận trọng tài vô
hiệu khi thỏa thuận trọng tài quy định “không
xác định rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải
Pháp lệnh mới chỉ giải quyết vấn đề thỏa thuận
trọng tài vô hiệu, chưa giải quyết vấn đề thỏa
thuận trọng tài không thể thực hiện được. Do đó,
sẽ có nhiều vụ tranh chấp phát sinh nhưng không
được cơ quan nào giải quyết, các bên phải tự gánh
chịu rủi ro pháp lý.
2.2.3.3. Pháp lệnh đã đưa ra một nguyên tắc quan
trọng, bảo đảm tranh chấp phát sinh đều được giải
quyết ngay cả khi hợp đồng vô hiệu. Việc xác
định điều khoản trọng tài độc lập với hợp đồng có
ý nghĩa quan trọng, bởi nó là cơ sở duy nhất để
Hội đồng Trọng tài được thành lập xem xét và
quyết định hợp đồng có hiệu lực hay không.
Nguyên tắc này được ghi nhận trong Luật Mẫu
UNCITRAL (Khoản 1 Điều 16) cũng như trong
pháp luật trọng tài của hầu hết các quốc gia. Pháp
luật trọng tài quốc tế gọi đây là nguyên tắc “thẩm
quyền của thẩm quyền”, tức là Hội đồng Trọng tài
có quyền xem xét, xác định thẩm quyền của chính
mình. Mặc dù Pháp lệnh đã bước đầu ghi nhận
(Điều 30) và áp dụng nó vào thực tế, nhưng đôi
khi nguyên tắc trên vẫn chưa được tôn trọng tuyệt
đối. [51; 55] Điều này đã dẫn đến tình trạng tranh
chấp về thẩm quyền giữa Trọng tài và Tòa án
trong một số vụ việc cụ thể. [6; 20; 21; 23]
2.2.4. Vai trò hỗ trợ của Tòa án
2.2.4.1. Pháp lệnh đã xây dựng chế định hết sức
quan trọng trong tố tụng trọng tài đó là quyền của
các bên tranh chấp được yêu cầu tòa án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 33). Tuy nhiên,
Trọng tài thương mại 2003 đã đánh dấu bước
ngoặt quan trọng mang tính chuyển tiếp trong
tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam về
trọng tài thương mại.
3. GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP (NĂM 2010 –
NAY)
Mặc dù Pháp lệnh Trọng tài thương mại đã thể
hiện sự thành công đáng kể trong việc điều chỉnh
các vấn đề chủ yếu của Trọng tài, song qua sáu
năm thực hiện, Pháp lệnh cũng bộc lộ không ít
bất cập. Do đó, thực hiện chiến lược cải cách tư
pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Trọng tài thương
mại được ban hành với mục tiêu ghi nhận chủ
trương mở rộng các hình thức giải quyết tranh
chấp trong hoạt động thương mại và một số quan
hệ dân sự khác, đáp ứng nhu cầu và khuyến
khích các bên tranh chấp sử dụng hình thức
Trọng tài, góp phần giảm tải hoạt động xét xử
của hệ thống Toà án hiện nay. [5]
Luật Trọng tài thương mại 2010 được Quốc hội
thông qua ngày 17/06/2010 và chính thức có
hiệu lực ngày 01/01/2011, gồm 13 chương và 82
điều, thể hiện sự đột phá của pháp luật trọng tài
thương mại Việt Nam.
3.1. Những điểm mới của Luật trọng tài
thương mại 2010
Một là, Luật đã khắc phục việc phân định không
rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối
với các tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó bảo
giải quyết tranh chấp. [30] Tuy nhiên, điều này
đồng nghĩa với việc nhà cung cấp không thể tận
dụng những ưu thế của trọng tài và đôi khi, có thể
bị một số tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. [36]
Bốn là, Luật đã kế thừa Pháp lệnh trong quy định
về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên
nhằm hình thành đội ngũ trọng tài viên có năng
lực, chuyên nghiệp và uy tín xã hội. Tuy nhiên,
Luật không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc
tịch Việt Nam như Pháp lệnh. Trên tinh thần kế
thừa giá trị hợp lý của quy định tại Điều lệ Tổ
chức Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam ban
hành kèm theo Quyết định số 204-TTg ngày
28/04/1993 của Thủ tướng Chính phủ khi cho
phép “các chuyên gia nước ngoài có thể được mời
làm trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài Quốc
tế Việt Nam” (Điều 04 Điều lệ), quy định mới của
Luật đã đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn
Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
Năm là, Luật quy định rõ hơn về các hình thức
trọng tài và mở rộng phạm vi hoạt động của tổ
chức trọng tài. Luật sử dụng thuật ngữ “trọng tài
quy chế” và “trọng tài vụ việc” (Điều 03) để chỉ
hai hình thức trọng tài thương mại, thể hiện đúng
bản chất của các hình thức trọng tài này. [37]
Ngoài ra, Luật còn cho phép các trung tâm trọng
LĨNH VỰC: LUẬT HỌC
nâng cao vị thế của Trọng tài thông qua việc mở
rộng thẩm quyền của hội đồng trọng tài như cho
phép Hội đồng Trọng tài được thu thập chứng
cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng, thay đổi, bổ
sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều
47, 48, 49, 50 và 51). Quy định của Luật đã tiếp
thu Luật Mẫu UNCITRAL được sửa đổi năm
2006 nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt động
tố tụng trọng tài.
Chín là, Luật đã tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi
mâu thuẫn trong tố tụng là nguyên tắc rất quan
trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố
tụng của các nước phát triển (Điều 13). Quy định
này nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả các
hành vi cơ hội trong tố tụng trọng tài. [5]
Mười là, nhằm khuyến khích sự phát triển bền
vững của trọng tài thương mại, Luật quy định về
Hiệp hội trọng tài, tổ chức xã hội – nghề nghiệp
của Trọng tài viên và các Trung tâm trọng tài.
Việc thành lập và hoạt động của Hiệp hội trọng
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRẺ ĐHQG – HCM LẦN I
tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về
hội nghề nghiệp (Điều 22).
3.2. Mô hình trọng tài thương mại tại Việt Nam
hiện nay
3.2.1. Thực trạng
Trong những năm qua, số vụ tranh chấp thương
mại được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc
có thể thấy chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm
để theo kịp sự phát triển chung khi năm qua Trung
tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC) thụ lý
188 vụ với tổng giá trị tranh chấp là 1,32 tỷ Dollar
Singapore hay Ủy ban trọng tài Bắc Kinh thụ lý
gần 1500 vụ và Hội đồng Trọng tài Ấn Độ là
khoảng 600 vụ. [2; 25; 47]
3.2.2. Nguyên nhân
3.2.2.1. Nguyên nhân từ phía cộng đồng
a. Cộng đồng doanh nghiệp
Trọng tài thương mại chưa nhận được sự đánh giá
cao từ giới doanh nhân. Theo khảo sát của Bộ Tư
LĨNH VỰC: LUẬT HỌC
pháp đối với 237 cá nhân và tổ chức kinh doanh,
phương thức giải quyết tranh chấp mà họ ưu tiên
theo thứ tự là thương lượng (57,8%), Tòa án
(46,8%), hòa giải (22,8%) và cuối cùng mới là
trọng tài (16,9%). Thậm chí, 84% số doanh
nghiệp được hỏi chưa bao giờ giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài. [22] Điều này trái ngược với
tỷ lệ 68% doanh nghiệp có chính sách giải quyết
tranh chấp riêng, mà phần lớn lựa chọn trọng tài
thương mại, theo một khảo sát toàn cầu của
trường Đại học Luân Đôn kết hợp với công ty
luật White & Case. [46]
Đặc biệt, trong hợp đồng thương mại nội địa,
Tòa án thường là cơ quan giải quyết tranh chấp.
đạt 2,63 điểm trên 5. Đây sẽ là khó khăn cần
khắc phục trên chặng đường hướng đến một nền
trọng tài Việt Nam tiên tiến và bền vững.
3.2.2.2. Nguyên nhân từ phía các tổ chức trọng
tài thương mại
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRẺ ĐHQG – HCM LẦN I
Bên cạnh những hạn chế trong tâm lý và nhận
thức của các doanh nghiệp, hệ thống tổ chức trọng
tài thương mại hiện nay còn khá thưa thớt với
chưa đến mười trung tâm trọng tài. Thêm vào đó,
không phải trung tâm nào cũng hoạt động thực sự
hiệu quả. Trong một cuộc khảo sát của Bộ Tư
pháp, mặc dù 75% ý kiến cho rằng cần thành lập
thêm trung tâm trọng tài, chất lượng của các trung
tâm vẫn là điều đáng bàn khi 21% chưa có trụ sở
và 56% đã có trụ sở nhưng chưa đáp ứng yêu cầu
cũng như kỹ năng tiếp nhận hồ sơ và quản lý hành
chính nội bộ của các trung tâm còn nhiều khuyết
điểm. [22]
Đội ngũ trọng tài viên nước ta với hơn 200 người
cũng chưa thực sự phát triển. Theo khảo sát,
72,6% ý kiến cho rằng trọng tài viên thiếu kỹ năng
giải quyết tranh chấp, 65% cho rằng thiếu số
lượng trọng tài viên, 51,1% cho rằng trọng tài
viên thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp, 44,7% cho
rằng trọng tài viên thiếu trình độ chuyên môn,
thậm chí 44,3% cho rằng trọng tài viên thiếu kiến
thức pháp luật. Điều này phù hợp với việc 30%
LĨNH VỰC: LUẬT HỌC
ở những nước có nền kinh tế chuyển đổi như
Việt Nam, là một nhiệm vụ không hề dễ dàng.
Điều đó phụ thuộc rất lớn vào nỗ lực và quyết
tâm của toàn xã hội.
4. MỘT SỐ DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP THÚC
ĐẨY QUÁ TRÌNH TIÊU CHUẨN HÓA VÀ
QUỐC TẾ HÓA TRỌNG TÀI THƯƠNG
MẠI TẠI VIỆT NAM
Phần tiếp theo của bài viết sẽ xem xét những tác
nhân chủ yếu chi phối quá trình hình thành và
phát triển của trọng tài thương mại. Thông qua
việc nghiên cứu sự vận động của các yếu tố này,
bài viết đưa ra một số dự báo cũng như đề xuất
những giải pháp cần thiết nhằm thúc đẩy mô
hình trọng tài thương mại tại Việt Nam.
4.1. Tính chất và trình độ phát triển của nền
kinh tế
Hoạt động thương mại luôn ẩn chứa mâu thuẫn
trong quá trình mua bán hàng hóa và cung ứng
dịch vụ. [33] Để đảm bảo cho sự ổn định và phát
triển lành mạnh của môi trường kinh doanh, cần
kiến tạo một phương thức giải quyết tranh chấp
ngoài Tòa án thích hợp, đó là trọng tài thương
mại. Nhưng mô hình này chỉ có thể phát triển
trong nền kinh tế thị trường. Nói cách khác, kinh
tế thị trường là gốc rễ trọng tài thương mại. [19]
Ngược lại, sẽ không thể có nền kinh tế thị trường
đúng nghĩa nếu không có hệ thống trọng tài độc
lượng hoạt động của trọng tài thông qua quá trình
dân chủ hóa và nhất thể hóa khung pháp luật,
hướng đến một hệ thống hoàn thiện, hợp lý và
cạnh tranh hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội. [33]
Pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, do
vậy nó phải dựa trên những quy luật khách quan
của các quan hệ xã hội mà chúng hướng đến điều
chỉnh. [10] Quy luật về sự chi phối của trình độ tổ
chức nền kinh tế đối với sự phát triển của pháp
luật nói chung và pháp luật trọng tài nói riêng là
chìa khóa giúp chúng ta đề ra những giải pháp
đúng đắn trong việc phát triển mô hình trọng tài
thương mại tại Việt Nam.
4.2. Mức độ hoàn thiện của khung pháp lý về
trọng tài và sự hỗ trợ của Nhà nước
Mức độ hoàn thiện của pháp luật có ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả hoạt động của trọng tài thương
mại. Trong gần hai thập kỷ qua, nước ta đã ban
hành một loạt các văn bản pháp luật nhằm điều
chỉnh và khuyến khích sự phát triển của mô hình
này tại Việt Nam. Nhờ đó, hoạt động trọng tài đã
thu được nhiều thành tựu nổi bật.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có hành động cụ
thể nhằm hỗ trợ cơ chế tài phán này. Tiêu biểu
như ở Trung Quốc, các Ủy ban trọng tài được
cung cấp trụ sở cùng phương tiện làm việc trong
thời gian đầu trước khi tự hoạt động. [33] Nhiều
nước châu Á khác như Hàn Quốc, Singapore, Thái
Lan, Philippines cũng hỗ trợ hoạt động trọng tài
khá hiệu quả. [32] Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể
là bài học quý báu dành cho Việt Nam. Những
buổi tiệc danh dự, một loạt xuất bản phẩm và
đặc biệt là “Tuần trọng tài” được tổ chức vào
năm 1923 đã kết nối trọng tài với giới doanh
nhân vào một mối quan hệ khăng khít hơn. [18]
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến
pháp luật về trọng tài cũng như nâng cao chất
lượng dịch vụ chắc chắn sẽ khiến doanh nghiệp
am hiểu sâu sắc hơn bản chất và ưu thế của trọng
tài thương mại, từ đó tạo điều kiện cho cơ chế
ngày một phát triển trong thời gian tới.
4.3.2. Cộng đồng học thuật
Công tác nghiên cứu và giảng dạy pháp luật
trọng tài là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển
bền vững của mô hình này mà Hoa Kỳ là một
điển hình. Từ thập kỷ 20 của thế kỷ trước, quốc
gia này đã đề ra hàng loạt biện pháp nhằm thúc
đẩy phương thức trọng tài, trong đó xây dựng
nền tảng kiến thức về trọng tài thương mại luôn
là chiến lược xuyên suốt. Không chỉ giảng dạy lý
thuyết, trọng tài còn là chủ đề thảo luận nóng hổi
và có thể được nghe thấy ở khắp nơi. Từ năm
1922 đến nửa đầu năm 1923, Cộng đồng Trọng
tài Mỹ đã xuất bản hơn 158.000 văn bản về trọng
tài cùng 1.200 buổi họp và hội thảo chuyên đề.
[18] Vì thế, cần bồi dưỡng năng lực cũng như
định hướng cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên
luật, về những vấn đề cơ bản trong pháp luật
trọng tài. Theo khảo sát của các tác giả, đây cũng
là nhu cầu thực tế khi 87,4% sinh viên được hỏi
chất lượng dịch vụ trọng tài. [58] Về việc này, Hội
Luật gia cũng có ý định thành lập Viện Trọng tài
để cung cấp chương trình đào tạo chuyên sâu dành
cho trọng tài viên. Bên cạnh đó, mỗi trung tâm
cần tăng cường hợp tác với các tổ chức trọng tài
trong và ngoài nước nhằm trao đổi chuyên môn,
học hỏi kinh nghiệm cũng như giới thiệu về tổ
chức và hoạt động của trung tâm mình. [24]
Ngoài ra, dựa trên kinh nghiệm tổ chức và hoạt
động của Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ, cơ sở pháp lý
của Luật Trọng tài thương mại 2010 và pháp luật
về hội nghề nghiệp, Hiệp hội Trọng tài Thương
mại Việt Nam sẽ sớm được thành lập, hỗ trợ đắc
lực vào sự phát triển bền vững của trọng tài
thương mại tại Việt Nam. [18; 24]
5. KẾT LUẬN
Trong suốt hơn một thế kỷ hình thành và phát
triển, mô hình trọng tài thương mại Việt Nam đã
có những bước thăng trầm cùng dòng chảy lịch sử
nước nhà. Bước sang thế kỷ XXI, với sự phát triển
của thể chế kinh tế, pháp luật và xã hội, chúng ta
có cơ sở để tin rằng trọng tài thương mại sẽ thực
hiện thành công quá trình tiêu chuẩn hóa và quốc
tế hóa nhằm vươn lên những tầm cao mới, góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp cải cách tư pháp
của
nước
nhà.
Arbitration Commission 2011 Annual Review,
(2011)
[3]. Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam gia nhập
WTO
[4]. Bộ Tư pháp, Đề cương giới thiệu Luật trọng
tài thương mại 2010, (2010)
[5]. Bộ Tư pháp, Những điểm mới cơ bản của
Luật Trọng tài thương mại, (2010)
[6]. Chính Dũng, Giải quyết tranh chấp tại Công
ty liên doanh Nhã Quán: Tòa án hay Trọng tài?,
(2008)
[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết của
Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020
[8]. Đặng Hoàng Oanh, Hủy quyết định trọng
tài: Chế định còn nhiều bất cập trong pháp luật
Việt Nam, (2009)
[9]. Đặng Trung Hà, Công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài, quyết định của trọng tài và những
vấn đề đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, (2009)
[10]. Đào Ngọc Báu, Những nguyên lý cơ bản của
cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và áp
dụng xây dựng Luật Trọng tài ở Việt Nam, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp, (2009)
[11]. Đào Trí Úc, Những vấn đề cơ bản của Luật
Trọng tài, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (2010)
[12]. Democratic Movement United Georgia, Mr.
[22]. Hội Luật gia Việt Nam, Báo cáo tổng kết
thi hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003,
(2009)
[23]. Hữu Vinh, VIAC không có thẩm quyền thụ
lý vụ kiện, Báo Tiền phong, (2008)
[24]. Huy Anh, Dự thảo Luật Trọng tài thương
mại: Chất lượng “mời gọi” khách hàng!, (2010)
[25]. Indian Council of Arbitration, Annual
Report 2010 – 2011, (2011)
[26]. Lan Ngọc, Tranh chấp thương mại: Giải
quyết bằng trọng tài nhiều lợi ích thiết thực, Báo
Kinh tế Việt Nam, (2012)
[27]. Lê Kim Nguyệt, Dự án Luật Trọng tài
thương mại và sự tiếp cận các chuẩn mực quốc
tế, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (2009)
[28]. Mark Lockwood, Nguyen Tan Hai,
Arbitration in Vietnam, International Financial
Law Review, (1994)
[29]. Michael J Moser, Arbitration in Asia - 2nd
Edition, (2011)
[30]. Minh Trang, Tâm lý ngại “va chạm” của
người tiêu dùng đang bị lợi dụng, (2012)
[31]. Nguyen Bao Huy, Arbitration in Vietnam:
a journey to international standards, Asian
Counsel, Special Report – Dispute Resolution,
(2009)
[32]. Nguyễn Đình Thơ, Những điểm khác biệt
về pháp luật trọng tài thương mại của Việt Nam
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRẺ ĐHQG – HCM LẦN I
[42]. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, Báo cáo đánh giá tác động của luật trọng
tài, (2009)
[43]. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, Rà soát pháp luật kinh doanh, (2011)
[44]. Phước Hà, Doanh nghiệp Việt Nam chưa
quen dùng trọng tài thương mại, (2009)
[45]. Quỳnh Ngọc, Doanh nghiệp chưa “mặn
mà” với trọng tài thương mại, (2007)
[46]. School of International Arbitration at Queen
Mary, University of London and White & Case
LLP, 2010 International Arbitration Survey:
Choices in International Arbitration, (2010)
[47]. Singapore International Arbitration Center,
CEO’s Annual Report 2011, (2011)
[48]. Thái Vĩnh Thắng, Văn hóa pháp luật Pháp
và những ảnh hưởng tới pháp luật ở Việt Nam,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (2009)
LĨNH VỰC: LUẬT HỌC
[49]. Thùy Vân, Thúc đẩy Luật Trọng tài thương
mại quốc tế giữa các nước ASEAN, (2009)
[50]. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Bản án
số 01/QĐKT ngày 14/07/2004
[51]. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Quyết
định số 02/QĐKT ngày 31/08/2004
[52]. Tòa án Nhân dân Tối cao, Thống kê số
lượng án, (2012)
International Financial Law Review, (1995)