MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………1
I. Khái niệm và đặc điểm các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước…...1
1. Khái niệm nguyên tắc trong quản lí hành chính……………………………….1
2. Đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản trong quản lí hành chính nhà nước……..2
II. Nguyên tắc tập trung - dân chủ trong quản lí hành chính nhà nước…………..2
1. Lí luận chung về nguyên tắc tập trung - dân chủ trong quản lí hành
chính nhà nước……………………………………………………………………2
2. Cơ sở pháp lí…………………………………………………………………..3
3. Biểu hiện của nguyên tắc tập trung - dân chủ trong quản lí hành chính
nhà nước ………………………………………………………………………....3
3.1. Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực
nhà nước cùng cấp………………………………………………………………..3
3.2. Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với
trung ương………………………………………………………………………..5
3.3. Việc phân cấp quản lí………………………………………………………...6
3.4. Hướng về cơ sở………………………………………………………………7
3.5. Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương……7
III. Ý nghĩa của nguyên tắc tập trung - dân chủ trong quản lí hành chính
nhà nước………………………………………………………………………….8
KẾT LUẬN………………………………………………………………...…….10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
Cũng giống như bất kì hoạt động có mục đích nào, quản lí hành chính nhà
nước được tiến hành trên những nguyên tắc nhất định. Đây chính là tư tưởng chủ
đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho chủ thể quản lí hành chính
dung,tư tưởng chủ đạo làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động của quản lý hành
chính nhà nước.
2. Đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản trong quản lí hành chính nhà nước
- Các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước được ghi nhận trong các
văn bản pháp luật của Nhà nước, từ Hiến pháp, các văn bản luật đến văn bản dưới
luật. Điều này thể hiện tính pháp lý của các nguyên tắc trong quản lý hành chính
Nhà nước.
- Các nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước thể hiện tính khách quan và
khoa học. Ph.Anghen cho rằng: “Nguyên tắc không phải là được ứng dụng vào
giới tự nhiên và lịch sử loài người mà được rút ra trong giới tự nhiên và lịch sử
loài người. Không phải giới tự nhiên và loài người thích ứng với nguyên tắc mà
trái lại nguyên tắc chỉ đúng nếu nó phù hợp với giới tự nhên và lịch sử”. Do đó,
tính khách quan: được các nhà quản lý đúc rút từ thực tiễn quản lý hành chính,
phản ánh thực tiễn quản lý hành chính Nhà nước. Tính khoa học: Phù hợp với thực
tiễn quản lý, phù hợp với đối tượng quản lý, phù hợp với quy luật phát triển tự
nhiên và xã hội, và xây dựng bởi kỹ năng lập pháp.
- Các nguyên tắc trong quản lý hành chính mang tính chính trị, nguyên tắc
này được xây dựng từ bản chất chế độ của Việt Nam: Nhà nước của nhân dân, do
dân và vì dân.
- Các nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước mang tính ổn định cao do bản
thân các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước là sự phản ánh các quy luật
khách quan quản lý hành chính nhà nước nên tính ổn định của chúng chúng trong
từng thời kỳ, từng giai đoạn phải được bảo đảm.
- Các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước có tính hệ thống, các
nguyên tắc không tồn tại một cách độc lập mà tạo thành một hệ thống nhất, chặt
chẽ với nhau.
II. Nguyên tắc tập trung - dân chủ trong quản lí hành chính nhà nước
1. Lí luận chung về nguyên tắc tập trung - dân chủ trong quản lí hành chính
nhà nước
Trong quản lí hành chính nhà nước, tập trung có nghĩa là: nhằm đảm bảo thâu
nhà nước cùng cấp
Điều 6, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước
thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân
dân”.
4
Như vậy, hiến pháp quy định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do
nhân dân bầu ra, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua cơ quan quyền
lực nhà nước để thay mình trực tiếp thực hiện những quyền lực đó. Để thực hiện
chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, một
hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương đã được hình
thành. Trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước luôn có sự
phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.
+ Trước hết, cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong
việc thành lập, sáp nhập hay giải thể các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp. Ở
trung ương, Quốc hội thành lập ra Chính Phủ và trao cho nó quyền hành pháp. Ở
địa phương, các ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và thực
hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước ở địa phương. Các cơ quan khác
trong hệ thống cơ quan nhà nước như bộ,cơ quan ngang bộ…đều do cơ quan quyền
lực nhà nước trực tiếp hay gián tiếp quyết định việc thành lập, thay đổi hay bãi bỏ.
Ví dụ: Chính phủ do Quốc Hội bầu ra, miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với thủ tướng;
phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với phó thủ tướng, bộ trưởng,
thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo đề nghị của thủ tướng, bỏ phiếu tín nhiệm đối
với các thành viên của chính phủ.
+ Tiếp theo, trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ
đạo, giám sát của hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo
cáo hoạt động của mình trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Ví dụ: ở
trung ương, Chính phủ chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, ủy ban
cấp dưới và địa phương có nghĩa vụ phải thực hiện. Ví dụ: UBND xã chịu sự quản
lý của UBND huyện, các sở thuộc UBND tỉnh phải chịu sự quản lí, điều hành của
các bộ chức năng. Tuy nhiên sự phục tùng này phải dực trên cơ sở quy định của
pháp luật. Thực hiện tốt mối quan hệ này thì cấp trên và trung ương mới tập trung,
thống nhất được quyền lực nhà nước để chỉ đạo giám sát tổ chức và hoạt động của
cấp dưới địa phương-tránh được xu hướng tự do tùy tiện, tách ra khỏi khuôn khổ
pháp luật, coi thường cấp trên ở trung ương và ở các cấp quản lí hành chính nhà
nước.
+ Thứ hai, cấp trên, trung ương cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới, địa
phương về công tác tổ chức, hoạt động và về các vấn đề khác của quản lí hành
chính nhà nước. Làm như vậy để khắc phục tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí, làm
mất tính chủ động sáng tạo của địa phương và cấp dưới.
6
3.3. Việc phân cấp quản lí
Phân cấp quản lí là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới
nhằm đạt được một cách có hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lí hành
chính nhà nước. Đây là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên,
sự phân cấp quản lí chỉ thực sự có hiệu quả khi đảm bảo được một số yêu cầu sau:
+ Việc phân cấp quản lí phải đảm bảo cho trung ương có quyền quyết định
trong những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược nhằm bảo đảm
sự phát triển cân đối và hài hòa của toàn xã hội, bảo đảm sự quản lý tập trung và
thống nhất của nhà nước trong phạm vi toàn quốc. Ví dụ: Khoản 1 Điều 82 Luật tổ
chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003 có quy định về nhiệm vụ và
quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh: “xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội, phát triển ngành, phát triển đô thị và nông thôn trong phạm vi
quản lí; xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm để phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh trình Hội đồng nhân dân thông qua để trình Chính phủ phê duyệt”. Như vậy,
vị kinh tế, văn hóa – xã hội trực thuộc.
+ Các đơn vị kinh tế được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu các tài sản hợp
pháp, có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, đồng thời cũng được nhà nước
hướng dẫn, giúp đỡ về vật chất, tinh thần.
+ Các đơn vị văn hóa – xã hội của hệ thống đơn vị các cơ sở luôn được Nhà
nước quan tâm, cung cấp những trang thiết bị cần thiết để hoạt động, giúp đỡ về
vật chất, tinh thần nhằm tạo những điều kiện tốt nhất để các đơn vị này hoạt động
có hiệu quả.
+ Nhà nước cũng có các chính sách và biện pháp quản lý một cách thống
nhất và chặt chẽ tổ chức và hoạt động của hệ thống các đơn vị cơ sở.
3.5. Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều được tổ chức và hoat
động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều hay còn gọi là nguyên tắc song trùng
trực thuộc. Sự phụ thuộc này thể hiện ở cả hai mặt tổ chức và hoạt động của cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương và được pháp luật quy định một cách cụ
thể. Ví dụ : UBND tỉnh A một mặt chịu sự chỉ đạo của HĐND tỉnh A theo chiều
ngang, một mặt chịu sự chỉ đạo của Chính phủ theo chiều dọc. Ðối với cơ quan
chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền
chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm
quyền chuyên môn cấp trên trực tiếp. Ví dụ: Sở Tư pháp Tỉnh B, một mặt phụ
thuộc vào UBND Tỉnh B, mặt khác phụ thuộc vào Bộ Tư pháp.
8
Ở địa phương, ủy ban nhân dân các cấp trước hết phụ thuộc vào hội đồng
nhân dân cùng cấp (mối phụ thuộc ngang). Đồng thời chúng còn phụ thuộc vào cơ
quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cấp trên trực tiếp (mối phụ thuộc
dọc). Ngay tại Điều 2 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân đã
khẳng định: “Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành
của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nước, nó có một ý nghĩa quan trọng không thể phủ nhận đối với quản lí hành chính
nhà nước:
Thứ nhất, nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí hành chính nhà nước góp
phần tăng cường hiệu quả của hoạt động quản lí hành chính nhà nước vì:
•
Trước tiên tập trung dân chủ sẽ bảo đảm sự thống nhất trong quản lí hành
chính nhà nước và tập trung dân chủ sẽ tập hợp được ý kiến của tập thể thành một
ý kiến chung nhất. Khi có tập trung dân chủ sẽ không còn tình trạng mỗi người một
ý, mỗi người làm một hướng khác nhau tạo ra sự lộn xộn trong quản lí và hoạt
động của cơ quan hành chính nhà nước. Ta có thể thấy Chính phủ thảo luận tập thể
và biểu quyết theo đa số tám nhóm vấn đề quan trọng. Như vậy, vừa có thể phát
huy sức mạnh đoàn kết của tập thể vừa tạo ra sự công bằng trong hoạt động quản lí
hành chính nhà nước.
•
Ngoài ra, tập trung dân chủ giúp cho hoạt động quản lí hành chính nhà nước
được khách quan khoa học. Nếu quản lí hành chính nhà nước mà chỉ dựa vào ý
kiến chủ quan, ý kiến của một hoặc một số các nhân liệu có thể đưa ra được quyết
định đúng đắn? Hơn nữa quản lí hành chính nhà nước là quản lí mang tính rộng rãi
và toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vì vậy tập trung dân chủ sẽ tạo
ra những phương hướng, biện pháp quản lí hành chính tối ưu nhất có thể áp dụng
lâu nhất, rộng nhất và sâu nhất có thể.
Thứ hai, tập trung dân chủ trong quản lí hành chính nhà nước góp phần thực
hiện tốt tập trung dân chủ trong quản lí nhà nước. Quản lí nhà nước là hoạt động
của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các
chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Quản lí nhà nước trong lĩnh vực
hành pháp là quản lí hành chính nhà nước. Như vậy, thực tê quản lí hànhc hính nhà
hơn, điều đó càng đòi hỏi hoạt động quản lí hành chính nhà nước nói riêng và quản
lí nhà nước nói chung linh hoạt, nhanh gọn và thuận tiện hơn. Việc áp dụng ra sao,
như thế nào những nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước đóng vai trò chủ
đạo trong việc quyết định cải cách hành chính nhà nước để phù hợp với sự phát
triển của xã hội, với yêu cầu của nhà nước và nhân dân. Do vậy thiết nghĩ các chủ
thể có thẩm quyền cần nâng cao năng lực quản lí, tình thần trách nhiệm, chủ động
sáng tạo khi áp dụng các nguyên tắc này vào hoạt động quản lí hành chính nhà
nước. Đồng thời phải hoàn thiện hơn nữa những quy định của pháp luật làm cơ sở
pháp lí cho những nguyên tắc này được thực hiện hiệu quả trên thực tế.
11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2008;
2. Luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân năm 2003;
3. Luật Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001);
4.
5.
12