1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vô sinh là tình trạng không có thai sau 12 tháng chung sống mà không sử
dụng một biện pháp tránh thai nào, đồng thời tần suất giao hợp phải ít nhất hai
lần trong một tuần. Đối với những phụ nữ lớn tuổi (trên 35 tuổi) thì thời gian
này chỉ còn tính là 6 tháng [11]. Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày càng
nhiều các cặp vợ chồng bị vô sinh, tỷ lệ này tại Việt Nam theo điều tra dân số
năm 1982 thì tỷ lệ vô sinh là 13% trong quần thể dân số bình thường [11].
Cũng theo báo cáo của Uỷ ban Dân số và Kế hoạch hoá gia đình năm 1998
thì có khoảng 13-13,4% các cặp vợ chồng vô sinh ở độ tuổi sinh đẻ. Tính đến
năm 2009 dân số Việt Nam khoảng 85,7 triệu người trong đó có 43.5 triệu
người phụ nữ [22]. Theo thống kê số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chiếm
khoảng 27%. Với tính toán sơ bộ như vậy thì có hàng triệu cặp vợ chồng cần
phải điều trị vô sinh. Chỉ riêng phòng khám hiếm muộn của Bệnh viện Phụ
Sản Từ Dũ hàng năm đó cú khoảng 20.000 cặp vợ chồng đến khám [5], [13].
Còn ở Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2009
có khoảng 1400 lượt chọc noãn, 3600 lượt làm IUI và số ca phẫu thuật vô
sinh tại Bệnh viện là 1719 [2].
Tình hình vô sinh trên thế giới: Theo số liệu của tổng điều tra Quốc gia
về Phát triển gia đình của Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ Vô sinh ở phụ nữ chưa làm
phẫu thuật vô sinh là 13,3% năm 1965, 13,9% năm 1982 và 13,7% năm 1988.
Năm 1990, khoảng 1/3 phụ nữ Hoa Kỳ thông báo là 12 tháng liên tục trong
cuộc đời của họ có quan hệ tình dục không sử dụng biện pháp tránh thai mà
không có thai,ở Pháp khoảng 18% số cặp vợ chồng ở tuổi sinh đẻ nói rằng họ
khó khăn để có thai [36]. Tại hội thảo nam học (1995) tác giả Anek Aribarg
đã công bố tỷ lệ vô sinh ở Thái Lan chiếm 12% các cặp vợ chồng trong tuổi
sinh đẻ[27].
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
Vô sinh là tình trạng không có thai sau 12 tháng chung sống vợ chồng mà
không sử dụng một biện pháp tránh thai nào, đồng thời tần suất giao hợp phải ít
nhất hai lần trong một tuần. Đối với những phụ nữ lớn tuổi (trên 35 tuổi) thì thời
gian này chỉ còn tính là 6 tháng để giúp điều trị sớm. Theo thống kê thì cứ 100
cặp vợ chồng chung sống không dùng biện pháp tránh thai nào thì 40 cặp chưa
có thai sau 6 tháng và khoảng 15 cặp chưa có thai sau 12 tháng[11],[. Trờn thế
giới ước tính có khoảng 50 - 80 triệu người bị vô sinh [47].
Vô sinh nguyờn phỏt (hay còn gọi là vô sinh I): là người phụ nữ chưa
từng có thai lần nào; còn vô sinh thứ phát (hay còn gọi là vô sinh II) là người
phụ nữ đã có thai ít nhất một lần .
Vô sinh do nữ: Là các trường hợp nguyên nhân vô sinh hoàn toàn do
người vợ, còn vô sinh nam là nguyên nhân vô sinh do người chồng. Vô sinh
không rõ nguyên nhân là các trường hợp vô sinh khi thăm khám và làm các
xét nghiệm thăm dò hiện có mà không tìm thấy nguyên nhân nào. Trong thực
tế lâm sàng thì vô sinh do vợ chiếm khoảng 40%, vô sinh nam khoảng 40%
và do cả hai vợ chồng là 20% các . Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
phần lớn những người bị vô sinh có thể điều trị được (vô sinh tạm thời) nhưng
còn 2-3% không có khả năng có thai (vô sinh vĩnh viễn) [11 ],[13],[[19].
1.1. Tình hình Vô sinh
1.1.1. Tình hình Vô sinh trên thế giới:
Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện một nghiên cứu từ năm 1980 đến năm
1986 trên 8500 cặp vợ chồng ở 33 trung tâm thuộc 25 quốc gia khi thống kê
nguyên nhân vô sinh cho thấy: Ở các nước phát triển tỷ lệ vô sinh do chồng là
8%, vợ là 37%, do cả hai là 35%[47]. Ở vùng cận Sahara nguyên nhân do
4
Thái Lan
Việt Nam
1.1.2. Tình hình vô sinh ở Việt Nam
VSNP
31 %
12%
4%
5%
2%
4%
2%
3%
4%
3%
4%
7%
2%
2%
VSTP
10%
33%
7%
25%
30%
4%
7%
8%
15%
Năm
1990
1999
2002
2002
VSNP
84,4 %
16,57%
62%
59,4%
VSTP
15,6%
83,43%
38 %
40,6%
Về nguyên nhân gây VSTP ở nam, theo Nguyễn Xuõn Bỏi (2002) [1] tỷ lệ
tinh dịch đồ bất thường là 53,7 %, trong đó không có tinh trùng là 1,85%, tỷ
lệ tinh trùng yếu là 26%. Theo Nguyễn Khắc Liêu (1998), tỷ lệ VSTP là
36,2%, trong đó 75,4% do tắc vòi trứng, 22,9% do khụng phúng noón [10].
Còn theo Nguyễn Đức Mạnh [14] tỷ lệ VSTP là 40,6%, trong đó 56,7% do tắc
vòi trứng. Trong số tắc vũi thỡ 21,18% sau sẩy, 14,77% sau đẻ, 11,82% sau
nạo và 2,95% sau đặt dụng vụ tử cung. Theo Phạm Như Thảo nguyên nhân vô
sinh nữ có tỷ lệ cao hơn vô sinh nam (47,5% so với 30,6%), vô sinh không rõ
6
- Suy buồng trứng sớm: Thường xuất hiện ở tuổi dưới 40 với những biểu
hiện như rối loạn kinh nguyệt hay mất kinh trong một thời gian dài. Dấu hiệu
sớm của bệnh giống như một quá trình mãn kinh tự nhiên như, bốc hoả, vã mồ
hôi về đêm, dễ kích động, khả năng tập trung kém... chẩn đoán dựa vào dấu hiệu
lâm sàng và kiểm tra nồng độ FSH trong máu. Chỉ định điều trị trong các trường
hợp này là thụ tinh trong ống nghiệm xin noãn hoặc xin phôi.
- Hội chứng buồng trứng kháng: Là một dạng bệnh tự miễn, đây là một
type hiếm gặp của suy buồng trứng sớm. Nguyên nhân do trong mỏu cú
kháng thể ức chế không cho hormon kích thích nang noãn gắn với thụ thể của
nó.
Nhóm 4: Tổn thương các cơ quan sinh dục bẩm sinh hoặc mắc phải
Nhóm 5: Vô sinh nữ do tăng prolactin với tổn thương của vùng dưới
đồi - tuyến yên.
Nhóm 6: Vô sinh nữ do tăng prolactin không phát hiện được tổn
thương trên bề mặt của vùng dưới đồi - tuyến yên.
Nhóm 7: Phụ nữ vô kinh có tổn thương vùng dưới đồi - tuyến yên với
mức prolactin bình thường hay thấp.
1.2.1.2. Vô sinh do bệnh lý toàn thân và những cơ quan ngoài hệ sinh dục
- Vô sinh do các bệnh toàn thân: Tim, gan, thận...
- Vô sinh do các bệnh nội tiết: Đỏi tháo đường, Basedow, thừa
Androgen, u thượng thận...
- Vô sinh do dinh dưỡng: Suy dinh dưỡng , thừa cân , béo phì
1.2.1.3. Vô sinh do viêm nhiễm đường sinh dục dưới
8
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới chiếm khoảng 20% số phụ nữ đến
khám phụ khoa với nhiều tác nhân gây bệnh lậu, nấm Candida, Albicans,
Chlamydia Tracomatis, giang mai... Viêm làm thay đổi đọ PH trong âm đạo
- Chửa ngoài TC
- Phẫu thuật vòi TC, Nội soi tạo hình vòi trứng. . .
- Các can thiệp phẫu thuật khác ở vòi TC, mổ GEU
- Lạc nội mạc TC
1.2.1.6. Vô sinh do tổn thương thực thể ở tử cung
- U xơ tử cung: Thường ít khi gây ra vô sinh mà thường gây sẩy thai
hoặc đẻ non, tuy nhiên một số ít trường hợp có thể gây vô sinh do vậy cần
phẫu thuật bóc nhân xơ qua nội soi hoặc mở bụng.
- Polyp buồng tử cung: Cản trở phôi làm tổ nờn gõy vô sinh, chẩn đoán
polype buồng tử cung bằng phim chụp tử cung vòi trứng hoặc siêu âm bơm nước
buồng tử cung. Điều trị bằng phẫu thuật cắt polype qua nội soi buồng tử cung.
- Quá sản NMTC
- Dính BTC từng phần sau các thủ thuật nạo hỳt….
1.2.1.7. Các bất thường bẩm sinh của TC
Các dị tật tử cung, trừ không có tử cung, các dị tật khác thường gây xảy
thai, đẻ non, ít ảnh hưởng đến khả năng có thai. Các dị tật này chia thành 5
nhóm sau
- Nhóm không có tử cung điển hình là:
Không có hai bên không hoàn toàn gây ra hội chứng Rokitansky
-Kuster -Houser
- Nhóm nửa tử cung:
10
Nửa tử cung hai cổ, hai sừng, ứ máu kinh một bên: Thường kèm không
có thận bên ứ máu kinh.
Nửa tử cung hai sừng, hai cổ, thường có vách ngăn dọc âm đạo
Nửa tử cung một cổ: hay gặp nhất trong nhóm này và 25% nhóm này
chỉ có một bên thận và niệu quản.
thái của vùng dưới đồi hoặc tuyến yên có thể làm thay đổi quá trình sinh tổng
hợp và chế tiết các hoa non hướng sinh dục làm giảm nồng độ FSH và LH
trong máu. Hậu quả là quá trình sinh tinh bị giảm một phần hoặc hoàn toàn
dần đến vô sinh. Bệnh mang tính di truyền tự nhiên kết hợp với triệu chứng
mất khứu giác có thể hoàn toàn hay một phần. Đây là hội chứng di truyền
theo nhiễm sắc thể X, do đột biến trên đoạn gen KALIG-1 ở nhánh ngắn
Trước một bệnh nhân không phát triển dậy thì cần phải nghĩ đến hội chứng
Kallmann.
* Thiếu FSH đơn thuần
Người bệnh vẫn thể hiện tính cách mạnh mẽ của đàn ông và kích thích
tinh hoàn bình thường. Nồng độ LH, Testosteron trong máu bình thường. Do
thiếu FSH mà tinh trùng trong tinh dịch đồ rất ít hoặc không có. Điều trị hMG
cho bệnh nhân sẽ cải thiện được quá trình sinh tinh.
* Các hội chứng bẩm sinh khác.
- Hội chứng Prader - Willi: Trên lâm sàng người bệnh béo phì trương
lực cơ nhẽo, tinh thần kinh chậm chạp, bàn tay và chân nhỏ, thân hình thấp và
suy sinh dục. Bệnh mang tính gia đình do thiếu hụt GnRH làm cho nồng độ
LH, FSH trong máu bệnh nhân thấp. Hội chứng Prader-willi xảy ra khi mất 1
đoạn gần nhánh dài của NST 15
12
- Hội chứng Laurence Moon Bandet Biede: Bệnh thể hiện bằng suy
sinh dục do thiểu năng hormon hướng dục, viờm vừng mạng sắc tố, dị tật bàn
tay hoặc bàn chân dạng nhiều ngón, tinh thần trì trệ.
* Bài tiết nội tiết quá mức
+ Sản xuất quá nhiều androgen: Hormon hướng sinh dục bị giảm do nồng
độ androgen trong mỏu quỏ ngưỡng, lượng androgen có nguồn gốc từ nội sinh,
ngoại sinh hoặc do chuyển hóa bất thường hay khối u sản xuất ra Androgen.
bao gồm vị trí, số lượng, hình dạng và chức năng của tin hoàn.
* Không tinh hoàn bẩm sinh
- Không có tinh hoàn ở hai bên là bệnh cảnh lâm sàng hiếm gặp với tần
suất 0,005% .
Trên bệnh nhân không có tinh hoàn hai bên bệnh cảnh lâm sàng điển
hình sẽ phát triển thành một người hoạn quan nếu không điều trị và bộ phận
sinh dục nhi tính. Điều trị khi dự kiến tới tuổi dậy thì thỡ dựng 100mg
Testoteron enanthat tiêm bắp mỗi 2 - 3 tuần. Tuy nhiên không thể dễ dàng tác
động một cách tích cực lên tình trạng vô sinh của bệnh nhân [3].
- Không có tinh hoàn một bên gặp với tần suất là 0,02%.
Khi đó chức năng của tinh hoàn bị thiến có thể được bù lại bằng sự
hoạt động của tinh hoàn bên kia. Nếu siêu âm không thấy được tinh hoàn thứ
hai thỡ cú chỉ định chụp CT hoặc RMI. Thử nghiệm hCG và định lượng
AMH không có giá trị gỡ vỡ cú hoạt động bù của tinh hoàn bên kia.
* Không tinh hoàn mắc phải
Không tinh hoàn mắc phải có thể là một bên hoặc hai bên. Về nguyên
nhân, người ta có thể gặp như chấn thương, phẫu thuật, nhiễm vi khuẩn hoặc
virus, xoắn tinh hoàn được can thiệp quá muộn. Việc phẫu thuật làm hạn chế
cung cấp mỏu nuụi tinh hoàn do đó làm mất tinh hoàn vì vậy việc chỉ định
14
phẫu thuật vùng bẹn bìu cần được cân nhắc. Ngoài ra các bệnh lý ác tính của
tinh hoàn về nguyên tắc đòi hỏi phải cắt bỏ một hoặc cả hai tinh hoàn. Trong
trường hợp ung thư tiền liệt tuyến phải cắt bỏ cả hai tinh hoàn.
* Bất thường về vị trí tinh hoàn
Bình thường tinh hoàn xuống tới bìu vào cuối quý 3 của thai kỳ. Dọc
theo đường di chuyển từ vùng thắt lưng dưới đến tận bìu tinh hoàn có thể bị
dừng lại ở bất kỳ đoạn nào. Tỉ lệ gấp 2 - 3% trẻ sơ sinh nam đủ tháng. Tuy
vô sinh. Bệnh nhân chỉ được phát hiện khi làm nhiễm sắc đồ.
- Bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể: Người ta chia làm 2 loại bất
thường trên NST giới tính và trên NST thường.
+ Mất đoạn trên nhiễm sắc thể Y
Năm 1976, Tiepolo và Zuffardi phát hiện 6 trường hợp không có tinh
trùng bị mất 1 đoạn lớn ở phần xa của nhánh dài nhiễm sắc thể Y qua phân
tích karyotype và đưa ra giả thuyết quan trọng về đoạn AZF. Khi di truyền
phân tử phát triển, nhiều nghiên cứu đã phát hiện được những vi mất đoạn
trong AZF liên quan đến vô tinh hay thiểu tinh mà trước đây thường được cho
là không rõ nguyên nhân. ba vựng trờn Y liên quan với sinh tinh trùng là
AZFa, AZFb, AZFc. những vi mất đoạn xảy ra trong 3 vùng này thường dẫn
đến những rối loạn trong quá trình sinh tinh như không sản xuất tinh trùng
hay sản xuất tinh trùng rất ít.
Hiện nay, kỹ thuật chẩn đoán vi mất đoạn trên nhiễm sắc thể Y đã thực
hiện được ở Việt Nam. Chỉ định của xét nghiệm này là các trường hợp nguy
cơ cao của vi mất đoạn nhiễm sắc thể Y bao gồm: không có tinh trùng hoặc
thiểu tinh nặng (mật độ tinh trùng < 5 triệu/ml). Khảo sát bước đầu tại Bệnh
16
viện Từ Dũ cho thấy khoảng 10% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao cho kết
quả dương tính.
+ Mất đoạn trên nhiễm sắc thể thường
Nhờ di truyền phân tử, các nhà khoa học hiểu rõ hơn về mối liên quan
giữa bệnh sơ nang; bênh gồm những biểu hiện như bệnh lý phổi tắc nghẽn,
thiếu hụt ngoại tiết tuyến tụy, rối loạn dạ dày ruột non... và bất sản ống dẫn
tinh 2 bên. Gene CFTR trên được tìm thấy trờn nhỏnh dài của nhiễm sắc thể
thứ 7 có thể gây ra một trong hai rối loạn trên. Do đó nhiều giả thuyết cho
rằng bất sản ống dẫn tinh 2 bên có thể là một dạng triệu chứng nhẹ của bệnh
Độ 1: cú gión nhưng chỉ sờ được khi giãn tĩnh mạch lúc làm nghiệm
pháp valsalva (nghiệm pháp làm tăng áp lực).
Độ 2: Sờ được giãn tĩnh mạch rõ ngay khi cả lúc không làm nghiệm
pháp Valsalva.
Độ 3: Thấy được giãn tĩnh mạch nguyên ở tư thế bệnh nhân đứng.
Điều trị giãn tĩnh mạch tính là một kỹ thuật buộc cổ điển ở sâu hoặc tốt
hơn là ở cao buộc qua nội soi hoặc kỹ thuật gây xơ hóa phía trước hoặc ngược
dòng tất cả nhằm gián đoạn sự lưu thông tĩnh mạch.
Việc điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh để có con hiện nay còn đang
tranh cãi [6].
* Hội chứng chỉ có tế bào Sertoli , bất sản tế bào mầm
Biểu mô tinh hoàn không thấy các tế bào mầm. Các tế bào mầm sinh
dục không đi vào trong các ống sinh tinh.
Bệnh nhân thường có tinh hoàn 2 bên teo nhỏ, mật độ mềm tinh dịch đồ
không có tinh trùng nhưng các đặc tính sinh dục nam phát triển bình thường,
nồng độ FSH không tăng, LH và testoteron bình thường hoặc tăng nhẹ.
18
Nguyên nhân do di truyền là các mất đoạn nhỏ trên NST giới tính và do
nhiễm virus (ví dụ viêm tinh hoàn do quai bị) và bất thường vị trí tinh hoàn,
các chất độc, tác nhân hóa trị từ bên ngoài đưa vào và tiếp xúc với tia xạ.
Với những hiểu biết hiện nay người ta vẫn chưa thể điều trị được
nguyên nhân các hội chứng chỉ có tế bào Sertoli .
* Ngừng trệ quá trình sinh tinh
Bệnh lý này được xác định bằng giải phẫu bệnh học, sự đình trệ xảy ra ở các
giai đoạn tinh nguyên bào, tinh bào sơ cấp hoặc thứ cấp hoặc ở giai đoạn tiền
tinh trùng.
Về nguyên nhân do bất thường cấu trúc NST, xạ trị, hóa trị kháng sinh
- Viêm niệu đạo cấp
Có dịch tiết đầu dương vật, cảm giác ngứa hay bỏng rát lúc đi tiểu.
* Tắc nghẽn đường dẫn tinh
Thường được phát hiện khi bệnh nhân đi khám vô sinh xét nghiệm tinh
dịch đồ không thấy có tinh trùng. Nguyên nhân tắc tại mào tinh, ống dẫn tinh,
ống phóng tinh hoặc không có ống dẫn tinh bẩm sinh hoặc do thắt ống dẫn tinh.
* Rối loạn về vị trí tích tụ tinh dịch
Các bất thường bẩm sinh hoặc mắc phải ở dương vật, niệu đạo hoặc các
tạng cương của dương vật có thể dẫn đến các rối loạn sự tích tụ tinh dịch và
cuối cùng làm rối loạn chức năng sinh sản.
+ Xuất tinh ngược dòng: Do tinh dịch vẫn được phóng ra khỏi túi tinh
nhưng lại vào bàng quang chứ không ra niệu đạo. Xét nghiệm có tinh trùng
trong nước tiểu sau giao hợp.
+ Xuất tinh chậm
20
Cuộc giao hợp tiến hành bình thường nhưng bệnh nhân không có cảm
giác phóng tinh được ra ngoài. Sau giao hợp trong khi nghỉ ngơi tinh dịch mới
chảy ra từ từ.
+ Không xuất tinh: Dương vật đủ cương cứng để giao hợp nhưng
không thể xuất tinh được, không thấy có khoái cảm cực độ.
+ Vô sinh do rối loạn cường dương
Do rối loạn cương dương không giao hợp được nờn khụng đưa tinh
trùng của người chồng vào âm đạo của người vợ để thụ thai.
1.2.2.4.Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh tinh trùng:
Thuốc, xạ trị liệu, nhiệt độ cao, ngộ độc, nhiờm trựng, ô nhiễm môi
trường, chế độ ăn uống, xơ gan, suy thận... đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp tới khả năng sinh tinh tại tinh hoàn
nhất so với nhóm nguy cơ khác (2001) [5]. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng tìm
thấy chất lượng tinh trùng giảm bớt ở nhóm bệnh nhân làm việc trong môi
trường nóng thuộc những ngành nghề khác như: Đầu bếp, thợ hàn, thợ luyện
kim, thợ lò...
* Sức nóng:
* Hoá chất:
Nhiễm độc một số kim loại nặng như chì, cadmium và thủy ngân có thể
gây giảm sinh tinh và gây vô sinh. hút thuốc nhiều và uống rượu cũng có thể
ảnh hưởng trực tiếp là giảm sinh tinh [36 ] [7]. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ
sản Từ Dũ cũng cho thấy chất lượng tinh trùng giảm ở những người hút thuốc
lá và uống rượu.
Các thuốc trừ sâu, diệt cỏ có thể gây ảnh hưởng lên quá trình sinh tinh.
Đặc biệt, dioxin cũng được ghi nhận có tác động lên quá trình sinh tinh và có
22
thể gây vô sinh. Qỳa trỡnh sinh tỡnh trựng rất nhạy cảm với nhiều loại hóa
chất có nguồn gốc công nghiệp và nông nghiệp.
Thuốc trừ sâu và các dung môi hữu cơ đã được nhiều nghiên cứu chứng
minh có tác động xấu đến quỏ tỡnh sinh tinh và làm giảm số lượng và chất
lượng tinh trùng. Các tác động có thể trực tiếp lên quá trình sinh tinh ở tin
hoàn, sau tinh hoàn hoặc lờn cỏc tuyến sinh dục phụ. Một số thuốc trừ sâu đã
được ghi nhận cụ thể gây giảm tinh trùng như Chlordecone, Ethylene
Dibromide. Hầu hết dung môi hữu cơ có tác dụng độc trực tiếp lên tinh hoàn
[7] [42 ].
Trong một nghiên cứu tại Việt Nam, kết quả khảo sát cũng cho thấy
nhóm nghề nghiệp có tiếp xúc với thuốc trừ sâu, các thông số về mật độ, độ di
động và hình dạng bình thường đều giảm so với nhóm không tiếp xúc [5 ].
* Ảnh hưởng của phóng xạ:
Cimetidene
Tác động
Các thuốc corticoid hoặc androgens gây ức chế tuyến
yên, có thể ức chế sinh tinh và teo tinh hoàn
Ưc chế cạnh tranh với androgen, ức chế sinh tinh
Sulphasalazine
Tác dụng độc trực tiếp lên quá trình sinh tinh
Spironolactone
Ức chế tác động của androgens
Nitrofurantoin
Tác dụng độc trực tiếp lên quá trình sinh tinh
Niridazone
Ức chế quá trình sinh tinh
Colchichine
Ức chế quá trình sinh tinh
Các thuốc điều trị ung thư thường ức chế mạnh quỏ trỡnh sinh tinh.
Hầu hết cỏc phỏc đồ hóa chất điều trị ung thư đều ảnh hưởng nhiều đến quá
trình sinh tinh và gây tình trạng vô tinh tạm thời. Trong số đú, cú khoảng 80%
hoặc hơn nữa sẽ làm giảm độ di động của tinh trùng và tăng số lượng tinh
trùng già và thoỏi hoỏ.
25
- Hút thuốc lá: Có nhiều bằng chứng cho thấy nghiện thuốc lá nặng
(>20 điếu /ngày) làm giảm testostenone và giảm độ di động của tinh trùng.
Nghiện ma tuý từ hai năm trở lên cũng làm số lượng tinh trùng suy giảm.
-Tập thể dục ít hoặc không tập thể dục cũng được coi là một nhân tố
nhỏ. Ngược lại nhiều nghiên cứu cho thấy tập thể dục quá sức làm ảnh hưởng
đến số lượng và chất lượng tinh trùng rõ rệt.
- Thời gian kích dục kéo dài trước khi xuất tinh có thể làm tăng chất
lượng tinh trùng.
- Mất nước đặc biệt trong thời gian dài có thể làm giảm số lượng và độ
di động của tinh trùng.
- Nhiều nghiên cứu cho thấy chất lượng tinh trùng xuất tinh vào buổi
chiều tốt hơn buổi sáng do nồng độ Adrenalin cao hơn sau khi thức dậy (từ 6h
đến trưa) tương đương với nồng độ Adrenalin khi bị căng thẳng..
- Stress: Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng sự căng thẳng thần
kinh kéo dài có ảnh hưởng đến quá trình sản xuất tỡnh trựng cũng như khả
năng tình dục của nam giới.