nghiên cứu tỷ lệ và một số yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại huyện ba vì từ tháng 4-2010 đến tháng 9-2010 - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới: Vô sinh là tình trạng mà các cặp
vợ chồng mong muốn có thai, sinh hoạt tình dục đều đặn, không sử dụng bất kỳ
một biện pháp tránh thai nào nhưng không có thai trong vòng 12 tháng trước khi
nghiên cứu. Đối với những phụ nữ lớn tuổi (trên 35 tuổi) thì thời gian này chỉ
còn tính là 6 tháng [11]. Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày càng nhiều các
cặp vợ chồng bị vô sinh, tỷ lệ này tại Việt Nam theo điều tra dân số năm 1982
thì tỷ lệ vô sinh là 13% trong quần thể dân số bình thường [11].
Cũng theo báo cáo của Uỷ ban Dân số và Kế hoạch hoá gia đình năm 1998
thì có khoảng 13-13,4% các cặp vợ chồng vô sinh ở độ tuổi sinh đẻ. Tính đến
năm 2009 dân số Việt Nam khoảng 85,7 triệu người trong đó có 43.5 triệu
người phụ nữ [21]. Theo thống kê số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chiếm
khoảng 27%. Với tính toán sơ bộ như vậy thì có hàng triệu cặp vợ chồng cần
phải điều trị vô sinh. Chỉ riêng phòng khám hiếm muộn của Bệnh viện Phụ Sản
Từ Dũ hàng năm đó cú khoảng 20.000 cặp vợ chồng đến khám [5][13]. Còn ở
Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2009 có khoảng
1400 lượt chọc noãn, 3600 lượt làm IUI và số ca phẫu thuật vô sinh tại Bệnh
viện là 1719 [2].
Theo số liệu của tổng điều tra Quốc gia về Phát triển gia đình của Hoa
Kỳ cho thấy tỷ lệ Vô sinh ở phụ nữ chưa làm phẫu thuật vô sinh là 13,3% năm
1965, 13,9% năm 1982 và 13,7% năm 1988. Năm 1990, khoảng 1/3 phụ nữ Hoa
Kỳ thông báo là 12 tháng liên tục trong cuộc đời của họ có quan hệ tình dục
không sử dụng biện pháp tránh thai mà không có thai.Ở Pháp khoảng 18% số
cặp vợ chồng ở tuổi sinh đẻ nói rằng họ khó khăn để có thai [35]. Tại hội thảo
nam học (1995) tác giả Anek Aribarg đã công bố tỷ lệ vô sinh ở Thái Lan chiếm
12% các cặp vợ chồng trong tuổi sinh đẻ[26].
2
Trong những năm gần đây do sự phát triển và hội nhập, mở rộng giao lưu
hợp tác, đào tạo với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền y học
phát triển như Pháp, Mỹ. Vì vậy chẩn đoán, điều trị vô sinh càng có nhiều cơ hội

vợ chồng mong muốn có thai, sinh hoạt tình dục đều đặn, không sử dụng bất kỳ
một biện pháp tránh thai nào nhưng không có thai trong vòng 12 tháng trước khi
nghiên cứu.
Vô sinh nguyờn phỏt (hay còn gọi là vô sinh I): Là vô sinh đáp ứng đầy
đủ các tiêu chuẩn vô sinh như đã định nghĩa ở trên nhưng thêm vào đó là người
vợ chưa bao giờ có thai kể từ khi lấy chồng ; Vô sinh thứ phát (hay còn gọi là vô
sinh II) là người vợ đã từng có thai hoặc có con nhưng mong muốn có thai hoặc
có thai thêm nhưng không được .
Vô sinh do nữ: Là các trường hợp nguyên nhân vô sinh hoàn toàn do
người vợ, còn vô sinh nam là nguyên nhân vô sinh người chồng. Vô sinh không
rõ nguyên nhân là các trường hợp vô sinh khi thăm khám và làm các xét nghiệm
thăm dò hiện có mà không tìm thấy nguyên nhân nào. Trong thực tế lâm sàng thì
vô sinh do vợ chiếm khoảng 40%, vô sinh nam khoảng 40% và do cả hai vợ
chồng là 20% . Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phần lớn những người
bị vô sinh có thể điều trị được (vô sinh tạm thời) nhưng còn 2-3% không có khả
năng có thai (vô sinh vĩnh viễn) [11 ],[13],[[19].
1.1. Tình hình vô sinh trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình vô sinh trên thế giới:
Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện một nghiên cứu từ năm 1980 đến năm
1986 trên 8500 cặp vợ chồng ở 33 trung tâm thuộc 25 quốc gia khi thống kê
nguyên nhân vô sinh cho thấy: Ở các nước phát triển tỷ lệ vô sinh do chồng là
5
8%, vợ là 37%, do cả hai là 35%[46]. Ở vùng cận Sahara nguyên nhân do chồng
chiếm 22%, do vợ chiếm 31%, do cả hai chiếm 21%[38]. Cũng theo tổ chức
này năm 2000 thì 8-10% số cặp bị mắc vô sinh[46]. Trên bình diện toàn cầu thì
con số này khoảng 50-80 triệu người vô sinh. Tuy nhiên số người mới mắc rất
đa dạng và khác biệt ở cỏc vựng khác nhau trên thế giới. Tỷ lệ mới mắc vô sinh
ở nam và nữ gần bằng nhau. Vô sinh do nguyên nhân do nữ khoảng 30-40%
tổng số các ca bệnh và do chồng khoảng 10-30%. Từ 15-30% nguyên nhân do
cả vợ và chồng. Nguyên nhân gây ra vô sinh không rõ ràng chiếm một con số

Việt Nam
2% 15%
1.1.2. Tình hình vô sinh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tỷ lệ vô sinh cũng khá cao, theo kết quả điều tra dân số năm
1982 tỷ lệ vô sinh chung là 13% [11]. Nghiên cứu của tác giả Âu Nhật Luân
(1995), tỷ lệ vô sinh ở nước ta vào khoảng 7% đến 10% dân số[12]. Gần đây
hơn, kết quả điều tra của tác giả Phạm Văn Quyền (2000) và Trần Thị Phương
Mai (1999) cho thấy tỷ lệ vô sinh ở nước ta vào khoảng 10% đến 15% [13],[16].
Theo tác giả Âu Nhật Luân (1990), tỷ lệ vô sinh do vợ chiếm 54.5%, do chồng
chiếm 32.1%, do cả hai là 3.5% và không rõ nguyên nhân là 9.9%[12]. Một
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự trên 1000 bệnh nhân
khám và điều trị vô sinh tại bệnh viện BVBM&TSS từ năm 1993 – 1997, có
đầy đủ các xét nghiệm thăm dò, tỷ lệ vô sinh nữ chiếm 54.5%, vô sinh nam
chiếm 35.6% và vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm 9.9% [10].
Về tỷ lệ giữa VSNP và VSTP theo các nghiên cứu tại Việt Nam như sau:
Tác giả Năm VSNP VSTP
Vũ Văn Chức [4] 1990 84,4% 15,6%
BVPS Từ Dũ [22] 1999 16,57% 83,43%
Nguyễn Xuân Bái [1] 2002 62% 38 %
Nguyễn Đức Mạnh [14] 2002 59,4% 40,6%
Về nguyên nhân gây VSTP ở nam, theo Nguyễn Xuõn Bỏi (2002) [1] tỷ lệ
tinh dịch đồ bất thường là 53,7 %, trong đó không có tinh trùng là 1,85%, tỷ lệ
tinh trùng yếu là 26%. Theo Nguyễn Khắc Liêu (1998), tỷ lệ VSTP là 36,2%,
trong đó 75,4% do tắc vòi trứng, 22,9% do khụng phúng noón [10]. Còn theo
Nguyễn Đức Mạnh [14] tỷ lệ VSTP là 40,6%, trong đó 56,7% do tắc vòi trứng.
7
Trong số tắc vũi thỡ 21,18% sau sẩy, 14,77% sau đẻ, 11,82% sau nạo và 2,95%
sau đặt dụng vụ tử cung. Theo Phạm Như Thảo nguyên nhân vô sinh nữ có tỷ lệ
cao hơn vô sinh nam (47,5% so với 30,6%), vô sinh không rõ nguyên nhân
chiếm tỷ lệ 10,9%. VSTP sau sảy nạo hút thai chiếm tỷ lệ cao nhất 68,7%, còn

sàng và kiểm tra nồng độ FSH trong máu. Chỉ định điều trị trong các trường hợp
này là thụ tinh trong ống nghiệm xin noãn hoặc xin phôi.
- Hội chứng buồng trứng kháng: Là một dạng bệnh tự miễn, đây là một
type hiếm gặp của suy buồng trứng sớm. Nguyên nhân do trong mỏu cú kháng
thể ức chế không cho hormon kích thích nang noãn gắn với thụ thể của nó.
Nhóm 4: Tổn thương các cơ quan sinh dục bẩm sinh hoặc mắc phải
Nhóm 5: Vô sinh nữ do tăng prolactin với tổn thương của vùng dưới đồi -
tuyến yên.
Nhóm 6: Vô sinh nữ do tăng prolactin không phát hiện được tổn thương
trên bề mặt của vùng dưới đồi - tuyến yên.
Nhóm 7: Phụ nữ vô kinh có tổn thương vùng dưới đồi - tuyến yên với
mức prolactin bình thường hay thấp.
1.2.1.2. Các bất thường bẩm sinh của TC
Các dị tật tử cung và các dị tật khác thường gây sảy thai, đẻ non, ít ảnh
hưởng đến khả năng có thai. Các dị tật này chia thành 5 nhóm sau
9
- Nhóm không có tử cung điển hình là:
Không có hai bên không hoàn toàn gây ra hội chứng Rokitansky -Kuster
-Houser
- Nhóm nửa tử cung:
Nửa tử cung hai cổ, hai sừng, ứ máu kinh một bên: Thường kèm không có
thận bên ứ máu kinh.
Nửa tử cung hai sừng, hai cổ, thường có vách ngăn dọc âm đạo
Nửa tử cung một cổ: hay gặp nhất trong nhóm này và 25% nhóm này chỉ
có một bên thận và niệu quản.
- Nhóm tử cung có vách ngăn
Đây là dị tật phổ biến nhất, chiếm tới 2 phần 5 số dị dạng tử cung. Có thể
có vách ngăn một phần hay toàn phần.
- Nhóm tử cung thông nhau
Loại dị tật này rất hiếm gặp, xuất hiện trên một tử cung có vách ngăn toàn

Người bệnh vẫn thể hiện tính cách mạnh mẽ của đàn ông và kích thích
tinh hoàn bình thường. Nồng độ LH, Testosteron trong máu bình thường. Do
11
thiếu FSH mà tinh trùng trong tinh dịch đồ rất ít hoặc không có. Điều trị HMG
cho bệnh nhân sẽ cải thiện được quá trình sinh tinh.
* Các hội chứng bẩm sinh khác.
- Hội chứng Prader - Willi: Trên lâm sàng người bệnh béo phì, trương lực
cơ nhẽo, tinh thần kinh chậm chạp, bàn tay và chân nhỏ, thân hình thấp và suy
sinh dục. Bệnh mang tính gia đình do thiếu hụt GnRH làm cho nồng độ LH,
FSH trong máu bệnh nhân thấp. Hội chứng Prader-willi xảy ra khi mất 1 đoạn
gần nhánh dài của NST 15
- Hội chứng Laurence Moon Bandet Biede: Bệnh thể hiện bằng suy sinh
dục do thiểu năng hormon hướng dục, viờm vừng mạng sắc tố, dị tật bàn tay
hoặc bàn chân dạng nhiều ngón, tinh thần trì trệ.
* Bài tiết nội tiết quá mức
+ Sản xuất quá nhiều androgen: Hormon hướng sinh dục bị giảm do nồng
độ androgen trong mỏu quỏ ngưỡng, lượng androgen có nguồn gốc từ nội sinh,
ngoại sinh hoặc do chuyển hóa bất thường hay khối u sản xuất ra Androgen.
+ Vô sinh do bài tiết Estradiol quá mức
Khi nồng độ Estradiol trong máu quá mức sẽ ức chế tuyến yên sản xuất
hormon hướng sinh dục. Suy tinh hoàn thứ phát có thể là nguyên nhân của khối
u tăng tiết Estradiol nằm ở phần vỏ tuyến thượng thận hoặc tinh hoàn. Các khối
u tế bào Sertoli trong tinh hoàn hoặc khối u tế bào mô kẽ có thể sản xuất ra
Estrogen [6].
+ Vô sinh do tăng Prolactin
Prolactin do các tế bào ái toan thùy trước tuyến yên tạo ra. Nó là một
Amin Dopamin sinh học do các neurone dopaminergie vùng lồi phễu chế tiết
trực tiếp vào trong hệ thống mạch cửa của tuyến yên. Do đó tất cả các yếu tố nào
ảnh hưởng đến lượng Propamin trung ương cũng đều có một ảnh hưởng gián
12

Không tinh hoàn mắc phải có thể là một bên hoặc hai bên. Về nguyên
nhân, người ta có thể gặp như chấn thương, phẫu thuật, nhiễm vi khuẩn hoặc
virus, xoắn tinh hoàn được can thiệp quá muộn. Việc phẫu thuật làm hạn chế
cung cấp mỏu nuụi tinh hoàn do đó làm mất tinh hoàn vì vậy việc chỉ định phẫu
thuật vùng bẹn bìu cần được cân nhắc. Ngoài ra các bệnh lý ác tính của tinh
hoàn về nguyên tắc đòi hỏi phải cắt bỏ một hoặc cả hai tinh hoàn. Trong trường
hợp ung thư tiền liệt tuyến phải cắt bỏ cả hai tinh hoàn.
* Bất thường về vị trí tinh hoàn
Bình thường tinh hoàn xuống tới bìu vào cuối quý 3 của thai kỳ. Dọc theo
đường di chuyển từ vùng thắt lưng dưới đến tận bìu tinh hoàn có thể bị dừng lại
ở bất kỳ đoạn nào. Tỉ lệ gặp 2 - 3%/ trẻ sơ sinh nam đủ tháng. Tuy nhiên 60%
sau 3 tháng sau đẻ tinh hoàn xuống tự nhiên. Các dạng rối loạn quá trình đi
xuống của tinh hoàn.
- Tinh hoàn ẩn: Tinh hoàn nằm ở trên ống bẹn, trong ổ bụng hoặc ở sau
phúc mạc và không thể nhìn thấy hay sờ thấy được.
- Tinh hoàn lạc chỗ: Tinh hoàn nằm ngoài đường đi xuống bình thường
của nó. Ví dụ nó nằm ở đùi.
- Tinh hoàn trong ống bẹn: Nằm cố định trong ống bẹn.
- Tinh hoàn trượt: Tinh hoàn nằm không cố định ở lỗ ra của ống bẹn và có
thể thạm thời bị ép (rặn) xuống dưới vào trong bìu, tuy nhiên khi hết rặn nó lại
trượt trở lại về vị trí cũ: “ Tinh hoàn lò xo”
14
- Tinh hoàn không cố định (tinh hoàn đi đi lại lại): Tinh hoàn có vị trí thay đổi,
không cố định, nằm giữa bìu và ống bẹn. Ví dụ khi có phản xạ co cơ da bìu hoặc khi
lạnh, tinh hoàn di chuyển một cách tự do từ chỗ này sang chỗ kia.
* Bất thường nhiễm sắc thể
- Bất thường về số lượng:
+ Hội chứng Klinefelter
Là hình thức hay gặp nhất của nhược năng sinh dục nam tỉ lệ 1/500, có bộ
nhiễm sắc thể 47 XX7.

+ Mất đoạn trên nhiễm sắc thể thường
Nhờ di truyền phân tử, các nhà khoa học hiểu rõ hơn về mối liên quan
giữa bệnh sơ nang; bệnh gồm những biểu hiện như bệnh lý phổi tắc nghẽn, thiếu
hụt ngoại tiết tuyến tụy, rối loạn dạ dày ruột non và bất sản ống dẫn tinh 2 bên.
Gene CFTR trên được tìm thấy trờn nhỏnh dài của nhiễm sắc thể thứ 7 có thể
gây ra một trong hai rối loạn trên. Do đó nhiều giả thuyết cho rằng bất sản ống
dẫn tinh 2 bên có thể là một dạng triệu chứng nhẹ của bệnh xơ nang hay biểu
hiện bệnh xơ nang không hoàn toàn.
Lâm sàng có rối loạn sinh tinh trùng nặng nề, kết quả xét nghiệm tinh dịch,
xét nghiệm hormon FSH và sinh thiết tinh hoàn lại rất thay đổi. Sự sản xuất
Testosteron không bị ảnh hưởng chẩn đoán xác định nhờ vào nhiễm sắc đồ. Cho
đến nay vẫn chưa điều trị được nguyên nhân này nhưng với kỹ thuật ISCI chúng ta
vẫn có thể làm cho bệnh nhân có con và sinh ra đứa trẻ khỏe mạnh.
* Bất thường về cấu trúc tinh trùng
16
Các bất thường về cấu trúc của tinh trùng được coi là những biến đổi về
hình thái học của tinh trùng.
+ Tinh trùng đầu tròn
Do rối loạn xắp xếp trong quá trình trưởng thành tinh trung dẫn đến cực
đầu tinh trùng tạo bởi bộ máy Golgi không dính gắn với tiền tinh trùng, không
có cực đầu tinh trùng không thể đâm xuyên vào vùng trong suốt của trứng
được.
+ Hội chứng nhung mao bất động
Là bệnh lý di truyền lặn trên NST thường. Làm khả năng di chuyển của
tinh trùng bị hạn chế.
+ Hội chứng 9 + 0
Bình thường đuôi tinh trùng có 9 cặp vi ống phân bố ngoại vi và một cặp
vi ống nằm ở trung tâm. Nếu không có cặp vi ống ở trung tâm thỡ đuụi tinh
trùng không cử động được. Về chẩn đoán: Khi thấy nhưng tinh trùng sống
nhưng lại bất động tuyệt đối thì phải nghĩ đến khiếm khuyết cấu trúc. Không thể

Về nguyên nhân do bất thường cấu trúc NST, xạ trị, hóa trị kháng sinh
hoặc các bệnh lý toàn thân.
Hiện nay chưa điều trị được nguyên nhân. Chỉ dùng kỹ thuật TESE để
điều trị ICSI.
* Vô sinh do hóa trị và xạ trị
18
Hóa trị hiện nay có thể làm tổn thương đến tế bào mầm, chức năng tinh hoàn
bị tổn thương. Các tế bào mầm đặc biệt mẫn cảm đối với tia xạ, tiếp xúc với bìu càng
cao thì tế bào mầm càng dễ bị tổn thương và khó hồi phục.
* Vô sinh do viêm tinh hoàn
Bệnh quai bị sau tuổi dậy thì gõy viờm tinh hoàn hai bên khoảng 30%.
Teo tinh hoàn có thể xuất hiện ở bệnh nhân bị bệnh vài tháng hoặc vài năm.
Bệnh giang mai có thể ảnh hưởng đến tinh hoàn và mào tinh hoàn gõy viờm lan
tỏa mô kẽ, kết hợp viêm nội mạc hình thành các gom giang mai. Bệnh lậu và bệnh
phong không được điều trị cũng là nguyên nhân gây vô sinh do viêm tinh hoàn.
1.2.2.1.3. Nguyên nhân sau tinh hoàn
* Viêm nhiễm đường dẫn tinh
- Viêm mào tinh hoàn cấp và mãn tính
- Viêm tuyến tiền liệt cấp và mãn tính chia thành:
+ Viêm tiền liệt tuyến cấp do vi khuẩn
+ Viêm tiền liệt tuyến mãn tính do vi khuẩn
+ Viêm tiền liệt tuyến mãn tính không do vi khuẩn
+ Viêm tiền liệt tuyến không triệu chứng
- Viêm túi tinh
Hiếm khi diễn ra đơn độc thường phối hợp với viêm tiền liệt. Điển hình là
tinh dịch có máu.
- Viêm niệu đạo cấp
Có dịch tiết đầu dương vật, cảm giác ngứa hay bỏng rát lúc đi tiểu.
* Tắc nghẽn đường dẫn tinh
Thường được phát hiện khi bệnh nhân đi khám vô sinh xét nghiệm tinh dịch

tới khả năng sống sót của tinh trùng trước khi vào được trong buồng tử cung.
Trong một số trường hợp nguyên nhân vô sinh do viêm nhiễm đường sinh dục
dưới, viờm lụ̣ tuyờ́n cụ̉ tử cung nên việc điều trị bằng đặt thuốc âm đạo, đụ́t diợ̀n
lụ̣ tuyờ́n cụ̉ tử cung có thể đã đạt được kết quả có thai.
1.3.1.3. Vô sinh do cổ tử cung
Cổ tử cung chít hẹp, khoột chúp cổ tử cung, có kháng thể kháng tinh trùng
trong chất nhầy cổ tử cung
1.3.1.4. Vô sinh do tắc vòi tử cung
Vô sinh do vòi tử cung chiếm 30-40% nguyên nhân vô sinh nữ và tỷ lệ
này tăng ở phương Tây. Có nhiều cơ chế bệnh sinh của vô sinh vòi nhưng hai cơ
chế chính là tắc vòi và rối loạn chức năng vòi TC do tổn thương cơ hoặc rối loạn
chức năng hoặc giảm khả năng nhu động.
Nguyên nhân hàng đầu là nhiễm trùng tiểu khung. Viêm tiểu khung do
Chlamydia Trichomatis hoặc Neisseria gonorrhoeae ở phụ nữ trong độ tuổi sinh
đẻ. Theo Westrom, vô sinh là biến chứng trên 12% các ca viêm phần phụ cấp.
Nếu viêm phần phụ tái phát thì 75% bị vô sinh. Nhiều bệnh nhân bị tắc vòi TC,
không có dấu hiệu lâm sàng song xét nghiệm có nồng độ kháng thể với
Chlamydia cao.
Viêm ruột thừa có thể gây ra ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của vòi tử cung
nhưng tổn thương đến lớp ngoài của vòi có thể ít rõ rệt đến tình trạng bên ngoài
của vòi, của tiểu khung hơn. Dụng cụ tử cung cũng có thể gây ra nhiễm khuẩn
21
một cách "âm thầm", thậm chí là tổn thương lớp ngoài của vòi tử cung gây nên
chít hẹp, thậm trí tắc vòi trứng gây nên tình trạng tắc vòi trứng hoặc GEU.
Một số bệnh sau đây cũng gây tổn thương vòi:
- Chửa ngoài TC
- Phẫu thuật vòi TC, Nội soi tạo hình vòi trứng. . .
- Các can thiệp phẫu thuật khác ở vòi TC, mổ GEU
- Lạc nội mạc TC
1.3.1.5. Vô sinh do tổn thương thực thể ở tử cung

ngưng lại. Trong thực nghiệm, người ta thấy cấu trúc mô học của tinh hoàn sẽ
thay đổi nếu tinh hoàn không xuống. Sốt trên 38,5oC có thể ức chế quá trình
sinh tinh trong thời gian 6 tháng. Ngoài tác dụng ức chế sinh tinh, nhiệt độ cao
có thể gây tổn thương ADN của tinh trùng. Thoneau và CS. (1998) [7] thực
hiện phân tích trên nhiều báo cáo đã ghi nhận tăng nhiệt độ làm giảm sinh tinh
và tăng tỉ lệ tinh trùng dị dạng. Tác giả này cũng cho rằng ở những tài xế lái xe
đường dài, có thể do tư thế ngồi lâu và điều kiện làm việc khiến nhiệt độ bìu
tăng, dẫn đến giảm sinh tinh và vô sinh.
Trong một nghiên cứu khác tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, thực hiện trên
400 cặp vợ chồng đến khám vô sinh, nhận thấy nhóm bệnh nhân có nghề nghiệp
là tài xế đường dài có tỉ lệ bất thường về độ di động của tinh trùng cao nhất so
với nhóm nguy cơ khác (2001) [5]. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng tìm thấy chất
23
lượng tinh trùng giảm bớt ở nhóm bệnh nhân làm việc trong môi trường nóng
thuộc những ngành nghề khác như: Đầu bếp, thợ hàn, thợ luyện kim, thợ lò
* Sức nóng:
* Hoá chất:
Nhiễm độc một số kim loại nặng như chì, Cadmium và thủy ngân có thể
gây giảm sinh tinh và gây vô sinh. hút thuốc nhiều và uống rượu cũng có thể ảnh
hưởng trực tiếp là giảm sinh tinh [35 ] [7]. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Từ
Dũ cũng cho thấy chất lượng tinh trùng giảm ở những người hút thuốc lá và
uống rượu.
Các thuốc trừ sâu, diệt cỏ có thể gây ảnh hưởng lên quá trình sinh tinh.
Đặc biệt, dioxin cũng được ghi nhận có tác động lên quá trình sinh tinh và có thể
gây vô sinh. Qỳa trỡnh sinh tỡnh trựng rất nhạy cảm với nhiều loại hóa chất có
nguồn gốc công nghiệp và nông nghiệp.
Thuốc trừ sâu và các dung môi hữu cơ đã được nhiều nghiên cứu chứng
minh có tác động xấu đến quỏ tỡnh sinh tinh , làm giảm số lượng và chất lượng
tinh trùng. Các tác động có thể trực tiếp lên quá trình sinh tinh ở tin hoàn, sau
tinh hoàn hoặc lờn cỏc tuyến sinh dục phụ. Một số thuốc trừ sâu đã được ghi

Nội tiết Các thuốc corticoid hoặc androgens gây ức chế tuyến
25
yên, có thể ức chế sinh tinh và teo tinh hoàn
Cimetidene Ưc chế cạnh tranh với androgen, ức chế sinh tinh
Sulphasalazine Tác dụng độc trực tiếp lên quá trình sinh tinh
Spironolactone Ức chế tác động của androgens
Nitrofurantoin Tác dụng độc trực tiếp lên quá trình sinh tinh
Niridazone Ức chế quá trình sinh tinh
Colchichine Ức chế quá trình sinh tinh
Các thuốc điều trị ung thư thường ức chế mạnh quá trình sinh tinh. Hầu
hết cỏc phỏc đồ hóa chất điều trị ung thư đều ảnh hưởng nhiều đến quá trình
sinh tinh và gây tình trạng vô tinh tạm thời. Trong số đú, cú khoảng 80% trường
hợp có thể hồi phục sau 5 năm[7] [34 ]. Đồng thời, tổn thương nhiễm sắc thể ở
tinh trùng sau điều trị hóa chất cũng được ghi nhận. Đây là những tổn thương có
thể truyền cho con.
* Các bệnh toàn thân:
Các bệnh lý toàn thân đều ít nhiều có ảnh hưởng đến hoạt động của tinh
hoàn, nhưng nhiều khi không được chú ý. Các tình trạng bệnh lý cấp tính nặng
như bỏng, nhồi máu cơ tim, chấn thương, phẫu thuật đều ức chế chức năng
tinh hoàn.
Suy thận mạn tính ,suy gan mạn tính, các bệnh lý về đường tiêu hóa,
huyết học, nội tiết đều được báo cáo có tác dụng giảm quá trình sinh tinh.
* Các yếu tố khác:
- Tuổi: Nam giới khi đến khoảng 40 tuổi nồng độ Testosteron tự do trong
máu giảm dần, trong khi nồng độ SHBG – hormon gắn kết Globulin tăng dần, tỷ

Trích đoạn Tỷ lệ vô sinh và phân bố vô sinh của các cặp vợ chồng nghiên cứu Tỷ lệ vô sinh và phân bố vố sinh của các cặp vợ chồng nghiên cứu:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status