BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________________
LÊ THANH TRIỀU
TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Ở HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Nghệ An, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________________
LÊ THANH TRIỀU
TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Ở HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60310201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Trang
Năm.....................................................................................................................45
Bảng 2.6: Kết quả công tác Kế hoạch hóa gia đình huyện Nông Cống giai đoạn
2010 - 2014..........................................................................................................50
Kế hoạch.......................................................................................................50
C. KẾT LUẬN.....................................................................................................84
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.
2.
3.
4.
CNH, HĐH
QLNN
UBND
XHCN
:
:
:
:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quản lý nhà nước
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
hành chính được cải cách tiến bộ hơn,… quyền làm chủ của nhân dân trên mọi
lĩnh vực được phát huy; một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền làm chủ
của nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được thực hiện.
Trong giai đoạn hiện nay, công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu,
đòi hỏi phải xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm cho nhà nước ta giữ vững bản chất cách
mạng, bản chất giai cấp công nhân, thực sự là công cụ chủ yếu để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân.
6
Nhận thức sâu sắc điều đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX
tiếp tục khẳng định: Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước,
phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Đồng thời, Đảng khẳng định chủ trương
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Nhà nước là công cụ chủ yếu
để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân và vì dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp; Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.
Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước
và của toàn dân, là vấn đề có tính quy luật khách quan. Nghiên cứu pháp chế xã
hội chủ nghĩa, để từ đó tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý
Nhà nước bằng pháp luật trên địa bàn huyện Nông Cống là một khâu quan trọng
trong hệ thống chính trị ở địa phương, là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn.
Là cán bộ đang công tác tại UBND huyện, trực tiếp tham gia chỉ đạo tổ
chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước trên địa bàn huyện Nông Cống, nhận thức được vai trò và tầm quan
trọng của vấn đề nên tôi đã chọn đề tài: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong quản lý nhà nước ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giai
đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Chính trị học.
Đề tài góp phần làm rõ lý luận về công tác tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong quản lý nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
trong giai đoạn hiện nay.
Thông qua khảo sát, phân tích thực trạng tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong quản lý nhà nước tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa phát hiện
những ưu điểm và những vấn đề tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước giai đoạn hiện nay.
10
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý nói
chung và cán bộ quản lý tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn kết cấu thành 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong quản lý Nhà nước
Chương 2. Thực trang tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản
lý Nhà nước ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3. Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong quản lý nhà nước ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giai
đoạn hiện nay
11
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
1.1. Một số khái niệm cơ bản
những quan hệ xã hội dựa trên cơ sở vững chắc của pháp chế. Ngược lại, pháp
chế chỉ có thể được củng cố, tăng cường khi có một hệ thống pháp luật đầy đủ,
đồng bộ, phù hợp với cơ sở kinh tế - xã hội.
Pháp chế cần được đề cao thành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước. Nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phải
được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; mọi công chức, viên chức,
người lao động và mọi công dân phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp
luật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, mọi vi phạm pháp luật đều
phải xử lý nghiêm minh. Các tổ chức, chính trị, xã hội cũng có nghĩa vụ tuân thủ
pháp luật của Nhà nước. Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế là cơ sở bảo đảm
cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy đầy đủ hiệu lực
của mình và bảo đảm công bằng xã hội, tính thống nhất của pháp chế, tính tối
thượng của Hiến pháp và luật.
1.1.1.2. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Khái niệm pháp chế XHCN có từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga.
V.I.Lênin là người đưa ra định nghĩa pháp chế và các nguyên tắc của nó đã làm
giàu thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật. Theo
Tiến sĩ Đỗ Ngọc Hải: “Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống
chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên nhà nước và mọi công dân đều
phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt
13
để, chính xác. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích của
tập thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” [16, tr.54].
Xuất phát từ ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của pháp chế XHCN,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần đề cập trong các nghị quyết, chỉ rõ
phương hướng và biện pháp cần thiết để tăng cường pháp chế XHCN. Nghị
quyết Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: “Phải dùng sức mạnh của pháp chế
xuyên, liên tục, không có ngoại lệ.
- Một số nguyên tắc của pháp chế XHCN
Một là, pháp chế XHCN đảm bảo tính thống nhất. Nguyên tắc này gồm
hai nội dung: Thứ nhất là, tính thống nhất của pháp luật trên toàn bộ lãnh thổ
chủ nhà nước; thứ hai là, áp dụng thống nhất pháp luật, mặc dù tại mỗi địa
phương có sự khác nhau về trình độ phát triển nhưng việc áp dụng pháp luật
phải thống nhất trong phạm vi cả nước. V.I.Lênin viết: “Pháp chế không thể là
pháp chế của tỉnh Caluga hoặc tỉnh Ca-dan được mà phải là pháp chế duy nhất
cho toàn nước Nga và cho cả toàn thể Liên bang các nước cộng hòa Xô-viết
nữa" [28, tr.232]. Nguyên tắc pháp chế nhằm xóa bỏ tư tưởng cục bộ, địa
phương, làm cho các địa phương liên hệ, phát triển, hồi sinh, hợp tác. Quan
niệm thống nhất về các mệnh lệnh và đòi hỏi của pháp luật đóng vai trò quan
trọng trong việc đạt được tính thống nhất của pháp chế. V.I.Lênin đã chỉ ra sự
cần thiết phải áp dụng các biện pháp để thiết lập quan điểm thống nhất về pháp
chế. Tính thống nhất của pháp chế được thể hiện trong sự bình đẳng của tất cả
mọi người trước pháp luật. Trước pháp luật mọi người đều bình đẳng và đều
phải tuân theo. Bất kỳ sự vi phạm pháp luật nào đều không thoát khỏi trách
nhiệm pháp lý
Hai là, pháp chế XHCN đảm bảo tính hợp lý. Trong môi trường pháp luật,
tính hợp lý được biểu hiện là sự phù hợp với luật, đối với các mục đích đặt ra,
các chủ thể lựa chọn phương án tối ưu về việc thực hiện pháp luật. Cơ sở của
tính hợp lý của pháp luật là sự phản ánh đúng đắn trong pháp luật các đòi hỏi
15
của sự phát triển xã hội. Nếu pháp luật quy định đúng đắn ý chí của đông đảo
quần chúng nhân dân lao động, các giá trị xã hội, thì chắc chắn pháp luật là hợp
lý. Khi nhấn mạnh giá trị của pháp luật cần phải chú ý đến việc tính toán nhân tố
hợp lý trong hoạt động áp dụng pháp luật. Pháp chế xã hội chủ nghĩa không phủ
nhận mà cho phép tính toán đến điều đó. Tính hợp lý trong khi áp dụng một quy
tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thử nghiệm những hình thức ấy
trong thực tiễn" [29, tr.97]. Dân chủ là chế độ chính trị của nhà nước XHCN với
sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân lao động vào công việc nhà
nước. Dân chủ có mối quan hệ không tách rời với pháp chế XHCN. Không thể
có dân chủ chân chính bên ngoài pháp chế XHCN. Ngược lại, trạng thái pháp
chế lại phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện dân chủ XHCN trong đời sống nhà
nước và xã hội. Dân chủ là một trong những tiền đề bảo đảm của pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Năm là, pháp chế XHCN đảm bảo mối quan hệ với văn hoá. V.I.Lênin coi
đây là điều kiện quan trọng để thực hiện pháp chế XHCN. Người viết: “Nếu
chúng ta không áp dụng cho bằng được điều kiện cơ bản ấy để thiết lập pháp chế
thống nhất trong toàn Liên bang, thì không thể nào nói đến vấn đề bảo vệ và xây
dựng bất cứ một nền văn hoá nào được” [29, tr.233]. Trình độ văn hoá của nhân
dân lao động và những cá nhân có trách nhiệm càng cao thì việc thực hiện pháp
luật càng tự giác và thống nhất, ngược lại, sự tăng cường pháp chế lại mở ra khả
năng lớn để phát triển văn hoá XHCN.
1.1.2. Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước
1.1.2.1. Khái niệm quản lý
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin “Bất kỳ lao động xã hội trực
tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương
đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt
động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của
toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan
độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc
phải có nhạc trưởng” [5, tr.23].
17
Có thể hiểu quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý, để chỉ
huy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con
trình quản lý.
Chức năng tổ chức:
- Đây là quá trình tổ chức và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách
thức nhất định để đảm bảo việc thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra.
- Chức năng tổ chức là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý, nó có
vai trò thực hiện hóa các mục tiêu của tổ chức và đặc biệt là chức năng tổ chức;
có khả năng tạo ra sức mạnh mới của tổ chức, cơ quan, đơn vị, thậm chí của cả
hệ thống nếu việc phân phối sắp xếp nguồn nhân lực khoa học hợp lý. Sức mạnh
mới của tổ chức có thể mạnh hơn nhiều lần so với khả năng vốn có của nó nên
người ta còn nhấn mạnh vai trò này bằng tên gọi “hiệu ứng tổ chức”.
Chức năng chỉ đạo:
- Là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi thái độ của những người
khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao.
- Là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý, nó có vai trò cùng với
chức năng tổ chức để hiện thực hóa các mục tiêu. Chức năng chỉ đạo được xác
định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu
có chất lượng và hiệu quả. Do vậy, chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các
động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất
lượng và hiệu quả cao của các hoạt động.
Chức năng kiểm tra:
- Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động
đạt tới mục tiêu của tổ chức.
- Là chức năng cuối cùng của một chu trình quản lý, có vai trò giúp cho
chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ như thế
nào, tốt, vừa, xấu, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lý ban hành
có phù hợp với thực tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động, giúp
đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, tập thể đạt được các mục tiêu đề ra.
19
20
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quản lý nhà nước được
hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà
nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp.
Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà
nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong
quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.
Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà
nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban
hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp
hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý
cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được
thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà
nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định
của pháp luật.
* Đặc điểm quản lý nhà nước
Từ khái niệm trên về quản lý nhà nước ta rút ra các đặc điểm của quản lý
nhà nước như sau:
Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính
mệnh lệnh đơn phương của nhà nước. Quản lý nhà nước được thiết lập trên cơ
sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”.
Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh. Tổ chức ở đây được
hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với
con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội. Tính điều chỉnh được hiểu là
21
22
và đến với xã hội; phải là sự quy định phân minh, rõ ràng, công khai về quyền,
nghĩa vụ của các chủ thể; là sự xác định rõ, dứt khoát về các chế tài bảo đảm
thực thi pháp luật.
Tính ổn định và minh bạch của pháp luật là sự bảo đảm cho công dân có
thể chủ động, tính cực tham gia vào các quan hệ pháp luật và kiểm soát được
hoạt động của bộ máy công quyền thông qua những quy trình, thủ tục xác định;
là sự bảo đảm cho các chủ thể dự báo trước các hành vi pháp lý, có thể tránh
được những tranh chấp, xung đột, tạo nên niềm tin đối với quản lý nhà nước.
Trong nhà nước pháp quyền, minh bạch và ổn định pháp luật phải được thể hiện
trong cả quá trình lập pháp và hành pháp.
1.2.2. Pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm bảo yếu tố kỹ thuật pháp lý
Bảo đảm kỹ thuật pháp lý là một trong những yếu tố quan trọng trong xây
dựng, hoàn thiện pháp luật. Chất lượng và hiệu quả pháp luật phụ thuộc rất
nhiều vào kỹ thuật pháp lý. Hơn nữa, trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay,
yêu cầu về kỹ thuật pháp lý cần phải được coi trọng và xác định được nội dung
cụ thể để vận dụng vào quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và
từng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật. Để bảo đảm kỹ
thuật pháp lý trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật, cần chú trọng các nội
dung sau:
- Xác định quy trình chuẩn mực, tối ưu, là cơ sở cho quá trình xây dựng
pháp luật. Chẳng hạn, việc soạn thảo dự án luật phải bắt đầu từ việc khảo sát,
điều tra ban đầu đến đánh giá, tổng kết, phân tích kết quả; từ dự thảo đến hoàn
chỉnh, thẩm tra và thông qua.
- Lựa chọn cơ cấu thể hiện quy phạm và khả năng sử dụng đúng, chính
xác quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội. Để điều chỉnh các quan hệ
xã hội mạng lại hiệu quả, đảm bảo đúng định hướng của giai cấp, thì việc soạn
thảo văn bản luật cần phải lựa chọn cơ cấu thể hiện quy phạm cho phù hợp, sử
dụng đúng, chính xác các quy phạm luật dảm bảo tính khả thi của văn bản luật.