BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ LINH NHÂM
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
2
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ LINH NHÂM
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN HỮU ĐẠT
đề tài “Việc làm cho người lao động ở tỉnh Hà Tĩnh”.
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
rèn luyện ở Trường Đại học Vinh.
Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt
đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.
Mặc dù có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất.
Song do bước đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như
hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu
sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Tôi rất mong được sự góp ý của
quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, ngày
tháng
năm 2015
Học viên
Võ Thị Linh Nhâm
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC BẢNG.....................................................................................................v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT...................................................................................vi
2.2.4. Giải quyết việc làm ở Hà Tĩnh trong thời gian qua.................................41
2.3. Những vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làm ở Hà Tĩnh........................................55
2.3.1. Mâu thuẫn giữa giải quyết việc làm với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.......55
iv
2.3.2. Mâu thuẫn giữa giải quyết việc làm với đào tạo nguồn nhân lực............58
2.3.3. Mâu thuẫn giữa giải quyết việc làm với việc gia tăng dân số..................60
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở HÀ TĨNH
GIAI ĐOẠN 2015 - 2020.....................................................................................................62
3.1. Phương hướng cơ bản giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Hà Tĩnh . .62
3.1.1. Phát triển kinh tế, tạo mở việc làm..........................................................62
3.1.2. Phát triển nguồn nhân lực........................................................................63
3.1.3. Phát triển thị trường lao động..................................................................64
3.1.4. Phát triển và mở rộng hợp tác quốc tế về lao động..................................64
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ở Hà Tĩnh65
3.2.1. Giải quyết việc làm gắn với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH, HĐH............................................................................................65
3.2.2. Phát triển và đa dạng hóa các hình thức kinh doanh tạo nhiều việc làm
mới cho lao động của tỉnh......................................................................69
3.2.3. Phát triển thị trường lao động..................................................................73
3.2.4. Hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số....................................................................75
3.2.5. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn lao động.77
3.2.6. Tiến hành hợp tác lao động quốc tế ........................................................81
KẾT LUẬN..........................................................................................................................83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................85
:
Doanh nghiệp nhà nước
GDP
:
Thu nhập quốc dân
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
HTX
:
Hợp tác xã
LLLĐ
:
Lực lượng lao động
THCS
biệt trong điều kiện nước ta tài nguyên, đất đai không nhiều, nguồn lực tài
chính và cơ sở vật chất còn nghèo, đang trong quá trình hội nhập quốc tế
trong xu thế toàn cầu hóa. Việc đầu tư phát triển và sử dụng có hiệu quả
nguồn lực con người là đầu tư có hiệu quả nhất để tăng trưởng và phát triển
kinh tế, là đi tắt, đón đầu, chống nguy cơ tụt hậu và chủ động tham gia vào
quá trình phân công lao động quốc tế.
Hà Tĩnh là một tỉnh mới được tái lập năm 1991, với diện tích tự nhiên
5.998 km2, dân số gần 1.300.000 người, thu nhập bình quân đầu người còn
thấp, kết cấu hạ tầng thấp kém, đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phát triển mạnh các khu kinh tế, cụm công nghiệp. Lao
động qua đào tạo chiếm tỷ lệ còn thấp, chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu
cầu, vấn đề bảo đảm việc làm còn là một thách thức lớn trong quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở tỉnh Hà Tĩnh. Mặt khác, dân số đông, lực lượng
lao động dồi dào, ngành nghề và dịch vụ kém phát triển đã và đang là nguồn
gốc tạo nên sự bức xúc ngày càng lớn về việc làm ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
2
Nghiên cứu đề xuất phương hướng và tìm ra những giải pháp hữu hiệu để
sử dụng hợp lý nguồn lao động trên địa bàn tỉnh đang là một đòi hỏi cấp bách, có ý
nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn, vì vậy, tôi chọn đề tài: "Việc làm cho
người lao động ở tỉnh Hà Tĩnh" làm luận văn tốt nghiệp, một mặt để hỗ trợ nâng
cao kiến thức chuyên môn của mình và mặt khác, quan trọng hơn là mong muốn
được đóng góp vào nhiệm vụ nêu trên của tỉnh nhà.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, có một số tác giả đã đề cập đến các khía
cạnh mà đề tài nghiên cứu quan tâm. Trong số đó có:
- PGS.TS. Trần Việt Tiến, "Chính sách Việc làm ở Việt Nam, thực
trạng và định hướng hoàn thiện", tạp chí Kinh tế phát triển số 181 tháng 7
năm 2012. Bài viết làm rõ thực trạng chính sách việc làm ở nước ta hiện nay,
làm trên địa bàn Hà Tĩnh, đưa ra các giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu giải
quyết việc làm cho lao động Hà Tĩnh giai đoạn tiếp theo.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết việc
làm trong nền kinh tế thị trường; vận dụng để đánh giá thực trạng và đề xuất
quan điểm, định hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động ở
tỉnh Hà Tĩnh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề cơ bản về lao động, việc làm và thất nghiệp;
làm rõ những yếu tố tác động đến giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị
trường, để làm cơ sở cho việc phân tích tình hình giải quyết việc làm ở tỉnh
Hà Tĩnh;
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Hà Tĩnh từ
2010 - 2014, làm rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế;
- Đề xuất quan điểm, những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu
nhằm giải quyết việc làm ở tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2015-2020.
4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao
động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp giải quyết việc
làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
5.2.1. Phạm vi về không gian
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, có đúc rút kinh
nghiệm tại một số tỉnh như: Đà Nẵng, Vĩnh Phúc.
5.2.2. Phạm vi về thời gian
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. Cơ sở lý luận về việc làm cho người lao động
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động
vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành các sản phẩm
phục vụ các nhu cầu của đời sống. Do đó, lao động là hoạt động đặc thù của
con người, phân biệt con người và xã hội loài người với các loài động vật và
xã hội loài vật khác. Trong quá trình lao động, con người không những tạo ra
của cải, mà còn cải tạo bản thân mình làm cho con người phát triển cả về thể
lực và trí lực. Đặc trưng chủ yếu của lao động là sáng tạo ra giá trị và của cải
đáp ứng nhu cầu của con người. Song, những nhu cầu không chỉ thuộc lĩnh
vực kinh tế, vật chất, mà còn bao gồm tất cả những lĩnh vực kết tinh thành
văn hóa, xã hội, đời sống cộng đồng. Trong thực tiễn, không thiếu lao động,
mà là thiếu việc làm. Việc làm chỉ là cái vỏ xã hội, là cái khung pháp lý trong
đó lao động được diễn ra. Trong xã hội có giai cấp thì việc làm chịu chi phối
bởi lợi ích của giai cấp thống trị và hệ thống luật pháp dựa trên cơ sở lợi ích
của giai cấp đó hoạch định. Do đó, lao động thuộc về nhu cầu vô hạn của con
người như là một cơ sở đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội, còn việc làm
là phạm trù giới hạn và bị lợi ích giai cấp chi phối. Trong thực tiễn, vì lợi ích
kinh tế những giai cấp nắm trong tay các điều kiện vật chất của lao động có
thể thu hút nhanh chóng những khối lượng lớn sức lao động vào quá trình sản
xuất và cũng vì lợi ích kinh tế họ sẵn sàng sa thải hàng loạt người lao động, nên
việc làm của xã hội bị thu hẹp lại. Mặt khác, quá trình lao động không chỉ diễn
ra đơn độc giữa một cá thể và tự nhiên, mà trong quá trình đó, con người tác
8
xếp dân cư vào nguồn lao động là độ tuổi và tình trạng sức khỏe. Ở nước ta,
nguồn lao động bao gồm số người trong độ tuổi lao động (nam từ 15-60 tuổi,
nữ từ 15-55 tuổi), có khả năng lao động (trừ những người tàn tật mất sức lao
động loại nặng). Ngoài ra, nguồn lao động còn bao gồm số người ngoài độ
tuổi lao động (trên độ tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động từ 13-15 tuổi).
Kết quả điều tra cho thấy, số người trên độ tuổi lao động thực tế có việc
làm chiếm 2/3 trong tổng số người trên độ tuổi lao động [19, tr. 114] và số trẻ
em từ 13-15 tuổi ở nông thôn phải làm những việc giúp đỡ gia đình như: chăn
trâu cắt cỏ, tham gia hoạt động sản xuất… chiếm tỷ lệ khá cao. Bộ phận chính
của nguồn lao động là lực lượng lao động, bao gồm những người đang làm
việc và những người thất nghiệp.
Đặc trưng của nguồn lao động là các chỉ tiêu về số lượng và chất
lượng. Trong đó những chỉ tiêu quan trọng là: số lượng, độ tuổi, giới tính,
trình độ học vấn, số người đang đi học, số người đang làm việc trong nền kinh
tế quốc dân và sự phân bố theo lĩnh vực, theo ngành, theo lãnh thổ… Mức
tăng nguồn lao động là sự chênh lệch giữa số dân cư đến độ tuổi lao động và
số dân cư hết tuổi lao động. Trong quá trình phát triển của sản xuất và đời
sống xã hội, chất lượng nguồn lao động cũng không ngừng được tăng lên. Các
chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá chất lượng nguồn lao động: trình độ
văn hóa, khả năng tiếp thu của người lao động; trình độ chuyên môn kỹ thuật,
mức độ lành nghề; kinh nghiệm thực tiễn; trình độ quản lý, kỹ năng làm việc;
sức khỏe.
Nếu lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động, thì quá trình đó chỉ
có thể diễn ra khi đã được dựa trên giả định những tiền đề vật chất cho quá
trình đó đã đầy đủ. Trên bình diện một quốc gia cụ thể, thì quá trình lao động
sản xuất (việc làm) của bộ phận dân cư có sức lao động lại được giả định trên
cơ sở số lượng việc làm. Do đó việc làm không chỉ diễn ra trong mối quan hệ
10
hội của quan niệm này là nó xóa bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các
thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao
động. Mặt khác, khái niệm trên còn làm rõ đặc trưng của Nhà nước pháp
quyền, thể hiện ở chỗ cho phép công dân Việt Nam được làm những việc mà
pháp luật không cấm. Ví dụ, nghề giúp việc gia đình là nghề mà trước đây
chưa được xã hội tôn trọng, thì nay đã trở thành việc làm đáng khuyến
khích và được pháp luật bảo vệ. Ngược lại, mọi công dân đều không được
làm những việc mà pháp luật nghiêm cấm như: mại dâm, buôn bán ma túy,
sản xuất và buôn bán thuốc nổ…
Với quan niệm việc làm như Bộ luật Lao động quy định sẽ làm cho nội
dung của việc làm được mở rộng, tạo tiền đề để giải phóng tiềm năng lao
động, giải quyết việc làm cho nhiều người thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau, đồng thời ngăn chặn những việc làm phi pháp dễ nảy sinh trong điều
kiện kinh tế thị trường mở cửa.
Để hiểu rõ hơn khái niệm việc làm, cần làm sáng rõ khái niệm việc làm
đầy đủ và việc làm hợp lý.
Việc làm đầy đủ được hiểu là sự thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm
cho mọi thành viên có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Cũng có
thể nói việc làm đầy đủ là mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì
có thể tìm được việc làm trong một thời gian tương đối ngắn. Tuy nhiên, để
đạt tới mức độ đảm bảo việc làm đầy đủ phải có một quá trình nhất định. Quá
trình đó ngắn hay dài là tùy thuộc vào trình độ, hoàn cảnh khách quan, chủ
quan của từng quốc gia. Một quốc gia có điểm xuất phát càng thấp thì quá
trình phát triển vấn đề đảm bảo việc làm đầy đủ cho người lao động càng khó
khăn và cấp thiết. Ở nước ta hiện nay, tình trạng phổ biến là thiếu việc làm đầy
đủ dưới cả hai dạng: thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình.
Thiếu việc làm là phân bố không cân đối giữa lao động và các yếu tố
sản xuất khác. Thiếu việc làm vô hình do sự bố trí và sử dụng lao động bất
hợp lý nên thường xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
12
điều kiện vật chất của lao động vì lợi ích của mình hoặc vì bị giới hạn bởi khả
năng tổ chức và pháp lý mà buộc phải loại bỏ một bộ phận những người có
khả năng lao động ra khỏi quá trình sản xuất xã hội, đặt họ và gia đình phải
đối mặt trước những giới hạn chật hẹp và nguy cơ bị mất những nguồn nuôi
dưỡng chủ yếu. Ở Việt Nam tuy chưa có văn bản pháp quy về thất nghiệp
cũng như các vấn đề liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình
nghiên cứu nhất định và bước đầu khẳng định: Thất nghiệp là những người
trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang
không có việc làm, đang đi tìm việc làm hiện chưa có việc làm và đang tích
cực tìm việc làm. Theo khái niệm này, ở nước ta những người trong độ tuổi
lao động (nữ từ 15-55 tuổi, nam từ 15-60 tuổi) không có việc làm hoặc đang
tìm việc làm là những người thất nghiệp.
Tuy nhiên những người trong độ tuổi lao động nhưng thuộc các đối
tượng sau đây không thuộc những người thất nghiệp và không nằm trong lực
lượng lao động:
Người đang đi học; người làm công việc nội trợ cho gia đình mình; người
không có khả năng lao động; người không có nhu cầu tìm kiếm việc làm.
Theo lý thuyết của các nhà kinh tế học hiện đại, thì trong nền kinh tế thị
trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách quan gắn liền với một tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên xác định. Người ta chỉ có thể hạn chế tỷ lệ thất nghiệp tới
mức thất nghiệp tự nhiên, chứ không loại bỏ được nó. Tỷ lệ thất nghiệp là một
trong các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng của một nền kinh tế, là
mối quan tâm của mọi Chính phủ và của mọi thành viên trong xã hội.
1.1.2. Những yếu tố tác động đến giải quyết việc làm trong nền kinh
tế thị trường
1.1.2.1. Máy móc thiết bị là tư liệu sản xuất - yếu tố cơ bản của quá
trình sản xuất
14
lực. Hiện nay, ở Mỹ vẫn còn thừa khoảng 10 triệu chỗ làm việc và chỉ có hơn
2 triệu người thất nghiệp toàn phần nhưng không thể bố trí được việc làm vì
không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật [7, tr. 18]. Vì vậy, xu hướng chắc chắn
xảy ra khi phát triển khoa học và công nghệ là sự gia tăng thất nghiệp của đội
ngũ công nhân không lành nghề. Ngay ở Việt nam, nhiều doanh nghiệp, đặc
biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp sử dụng công
nghệ tiên tiến không tuyển dụng đủ lao động vì tỷ lệ lao động được qua đào
tạo còn thấp, hoặc đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Thực tế
cho thấy trang bị máy móc thiết bị càng hiện đại thì nguy cơ thất nghiệp càng
cao. Do đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung là giải pháp cơ
bản để hạn chế thất nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu này, trước hết cần có
những biện pháp nhằm tăng cường năng lực thể chế của các cơ quan hoạt
động trong lĩnh vực lao động - việc làm. Thực hiện có hiệu quả chương trình
việc làm quốc gia thông qua nhiều hoạt động: Đào tạo nghề cho lao động
nông thôn, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng
và dịch vụ xã hội…
1.1.2.2. Dân số và vấn đề tỷ lệ tăng dân số hợp lý cũng là điều kiện để
giải quyết việc làm cho người lao động
Khi nhắc đến dân số, người ta thường nghĩ đến việc ngăn ngừa nhịp độ
tăng sinh sản, quan tâm đến giảm tỷ lệ sinh đến mức thấp nhất. Trên thực tế
không hẳn như vậy. Chẳng hạn, trên một số vùng miền núi xa xôi có những
dân tộc, số dân hiện nay chỉ còn tính hàng trăm. Như vậy, ở những vùng này
chúng ta có đặt vấn đề giảm tỷ lệ sinh đẻ không? Sự thực dân số là một vấn
đề nằm trong yếu tố tự nhiên nhưng lại liên quan rất lớn đến quá trình phát
triển xã hội. Nó là quá trình thường xuyên, liên tục tái sản xuất ra con người
và cuộc sống con người với tính cách là những cá thể xã hội mang những nhu
cầu và đòi hỏi vốn có, là quá trình trân trọng, giữ gìn và nâng cao nòi giống.