1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HỒNG NGA
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
“BÀN NẶN BỘT” TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HỒNG NGA
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
“BÀN NẶN BỘT” TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA
HỌC
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC HỌC
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Lê Thị Hồng Nga
5
MỤC LỤC
Trang
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ĐC
:
Đối chứng.
GV
:
Giáo viên.
HS
:
Học sinh.
KH
:
6
DANH MỤC BẢNG
Trang
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay ở nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học diễn ra một
cách sôi động trên bình diện cả về lý luận cũng như về thực tiễn. Định hướng
đổi mới phương pháp dạy học được nghị quyết TW lần 2 Ban chấp hành
Trung ương khoá VIII khẳng định : "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng
tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, các phương
tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo thời gian tự học, tự
nghiên cứu của học sinh" [44,tr.41].
Theo định hướng trên, nhiều phương pháp dạy học tiên tiến, hiện tại
trên thế giới như "phương pháp tự phát hiện tri thức", "phương pháp dạy học
tích cực", "phương pháp cùng tham gia", "phương pháp tương tác" và gần đây
là "phương pháp bàn tay nặn bột" từng bước được vận dụng vào quá trình dạy
học ở tiểu học - cấp học được coi là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.
Khoa học là môn chiếm vị trí quan trọng trong các môn học ở tiểu học.
Đây là phân môn tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học thực nghiệm
như: Vật lý, hoá học, sinh học. Vì vậy, môn học này có nhiều thuận lợi để vận
dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học để
bước đầu hình thành cho học sinh phương pháp học tập mang tính chất tìm tòi
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp; phân loại - hệ thống hóa và
cụ thể hóa các vấn đề lý luận có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài và tổ chức thăm dò tính cần
thiết và khả thi của quy trình được đề xuất. Bao gồm: Phương pháp quan sát;
10
điều tra; phỏng vấn chuyên gia; tổng kết kinh nghiệm giáo dục; thực nghiệm
sư phạm.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lí kết quả điều tra thực trạng và kết quả thực nghiệm sư phạm.
8. Đóng góp của đề tài
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về sử dụng phương pháp “Bàn tay
nặn bột” trong dạy học môn Khoa học.
- Làm rõ thực trạng sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy
học môn Khoa học.
- Đề xuất được một số biện pháp sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn
bột” trong dạy học môn Khoa học.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”
trong dạy học môn Khoa học.
Chương 2: Thực trạng sử dụngphương pháp “Bàn tay nặn bột” trong
dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp
“Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học.
12
Từ tháng 09/1999 đến tháng 03/2000, người Việt Nam đầu tiên - một
nữ sinh thực tập Việt Nam là giáo viên Vật lý tại một trường trung học dạy
song ngữ tiếng Pháp ở thành phố Hồ Chí Minh đã được tổ chức “Bàn tay nặn
bột” Pháp (LAMAP France) tiếp nhận và tập huấn về phương pháp “Bàn tay
nặn bột”.
Tháng 01/2000, “Bàn tay nặn bột - Khoa học trong trường Tiểu học” cuốn sách đầu tiên về phương pháp “Bàn tay nặn bột” tại Việt Nam được xuất
bản. Đây là cuốn sách viết về phương pháp “Bàn tay nặn bột” của giáo sư
Goerges Charpak xuất bản năm 1996 được dịch bởi tác giả Đinh Ngọc Lân.
Tháng 06/2000, lần đầu tiên kênh truyền hình VTV1 của Việt Nam
đã phát sóng chương trình phóng sự về phương pháp “Bàn tay nặn bột” tại
Việt Nam.
Tháng 11/2000 đại biểu của Việt Nam được sự giúp đỡ của ông Léon
Lederman - Phụ trách tổ chức “Bàn tay nặn bột” Pháp, đã sang trường Tiểu
học Bắc Kinh - Trung Quốc để tham dự hội thảo quốc tế về giảng dạy Khoa
học ở trường Tiểu học.
Từ năm 2000 đến 2002, ở Việt Nam phương pháp “Bàn tay nặn bột” đã
phổ biến và được áp dụng thử nghiệm tại các trường Tiểu học thuộc Đại học
Sư phạm Hà Nội.
Từ năm 2002, nhóm nghiên cứu đã tăng thêm các lớp áp dụng phương
pháp “Bàn tay nặn bột” ở Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh. Các
chương trình tập huấn cũng được diễn ra ngày càng rộng rãi cho các giáo viên
cốt cán và các cán bộ quản lý tại nhiều địa phương trong toàn quốc.
Tháng 12/2009, trong chuyến công tác về Việt Nam giáo sư Trần
Thanh Vân đã gặp gỡ và trao đổi về chương trình “Bàn tay nặn bột” với Thứ
trưởng Nguyễn Vinh Hiển và Vụ trưởng Vụ Tiểu học Lê Tiến Thành.
13
* Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh, nhằm đạt
được mục đích đề ra.
* Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhà trường
quy định.
* Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò.
* Phản ánh cách thức điều khiển nhận thức, kích thích và xây dựng
động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả.
Từ sự phân tích các quan điểm trên, chúng tôi hiểu về phương pháp dạy
học như sau: Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương tác giữa
giáo viên và học sinh, trong đó, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn
trong phương pháp dạy, học sinh là "người thợ chính" trong phương pháp
học, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
Hệ thống các phương pháp dạy học ở tiểu học:
Trong lý luận dạy học, có nhiều cách phân loại các phương pháp dạy
học, mỗi cách phân loại có một cơ sở riêng.
S.I.Petrốp-xki, E.I' Goloc phân loại phương pháp dạy học theo nguồn
tri thức và đặc điểm tri giác thông tin. Skalin, I.I. Lecne phân loại theo hoạt
động nhận thức của học sinh [39].
Iu.K.Babanxki đề xuất một hệ thống phương pháp dạy học gồm: Các
phương pháp tổ chức và hoạt động nhận thức, các phương pháp kích thích và
xây dựng động cơ học tập, các phương pháp kiểm tra, các phương pháp này
bao gồm các phương pháp dạy học cụ thể [39].
N.V Savin đã đưa ra các phương pháp dạy học ở tiểu học, hệ thống đó
gồm các phương pháp :
* Phương pháp dùng lời nói: kể chuyện, giải thích, đàm thoại, làm
việc với sách giáo khoa.
* Phương pháp trực quan: quan sát, trình bày tài liệu trực quan, phim
đèn chiếu.
17
chất lượng dạy học phân môn này và góp phần tích cực vào quá trình đổi mới
phương pháp dạy học trong nhà trường tiểu học.
1.2.2. Phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Phương pháp "Bàn tay nặn bột" (Tiếng Anh gọi là "Hands on", tiếng
Pháp là La Main à la Pâte, dịch sang tiếng Việt Nam là "Bàn tay nặn bột") là
cách thức tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu tìm ra cách lý giải thuyết phục
cho những kiến thức trong chương trình học, thông qua các hình thức thảo
luận, đề xuất và thực hiện phương án thí nghiệm .
Ta cũng có thể hình dung phương pháp "Bàn tay nặn bột" cũng giống
như cách người ta làm bánh, phải tự tay nặn bột làm ra cái bánh. Nhưng khác
ở chỗ, người làm bánh chỉ làm ra những cái bánh theo một khuôn mẫu. Còn ở
phương pháp này, người học sinh phải tự làm ra cái bánh theo ý nghĩa của
riêng mình. Nghĩa là cho học sinh các dụng cụ thí nghiệm, đồ dùng học tập,
học sinh tiến hành vạch kế hoạch thực nghiệm để đi tìm tri thức, chân lý khoa
học. Như vậy, phương pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà khoa học,
các em có thể tự mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức bài học thông qua việc
độc lập tiến hành các thí nghiệm khoa học - dưới sự giúp đỡ của giáo viên. Vì
vậy, việc tiên đoán hiện tượng và thiết kế phương án thí nghiệm để kiểm tra tiên
đoán được coi trọng và được lặp đi lặp lại trong nhiều tình huống. Đó là cách để
các em bộc lộ quan điểm của mình. Vì vậy, trong giờ học cần tạo những cơ hội
để các em đưa ra tiên đoán và bộc lộ các lỗi của mình để sửa chữa. Đó là sự
vận động trí tuệ thường xuyên cho phép trẻ đưa ra các quan niệm từ kinh
nghiệm hàng ngày.
1.2.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương
pháp “Bàn tay nặn bột”
Theo “Từ điển Việt Nam”:
- Biện pháp: Là cách xử lí công việc hoặc giải quyết vấn đề.
nào đó, cùng thảo luận với bạn bè để đối chiếu quan điểm, tìm ra kiến thức
Khoa học đúng đắn thông qua việc tiến hành làm thí nghiệm kiểm chứng.
- Phương pháp “Bàn tay nặn bột” cho phép học sinh thoải mái đưa ra
quan điểm của mình về sự vật, hiện tượng đó là những hiểu biết ban đầu của
học sinh. Những hiểu biết này có thể đúng, có thể không đúng, chưa đầy đủ,
ngây ngô,… nhưng vẫn được tôn trọng và khích lệ, giúp tạo niềm tin học tập
cho các em. Và với những hiểu biết đó học sinh sẽ tự mình nhận thức, sửa
chữa tính chính xác hay không sau khi tiến hành làm thí nghiệm kiểm chứng.
- Thường các buổi học ở lớp vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”
chủ đề thường xoay quanh những vấn đề gần gũi với học sinh để giúp học
sinh tiếp thu kiến thức, nắm được cách tiến hành và rèn luyện ngôn ngữ.
- Dụng cụ để học tập thực hành phương pháp “Bàn tay nặn bột” cũng
vô cùng đơn giản, gần gũi, dễ tìm với các em học sinh ví dụ như: con dao, cái
cốc, chai nước, hạt đậu, nụ hoa, đất, nước, cát, que diêm, tấm ni lông,…
- Các thao tác trên thí nghiệm cũng vô cùng đơn giản ví dụ như học sinh
có thể mổ đùi một con ếch để quan sát cơ quan và chức năng bên trong, quan
sát quá trình sinh sản và hành vi của các con vật trong ao hồ hay chuồng thú.
Tìm hiểu nhu cầu của thực vật bằng cách thay đổi môi trường, nhiệt đô, ánh
sáng, nước,...các em sẽ phát hiện ra rằng chỉ cần thay đổi một trong những đặc
điểm ấy thì sẽ có những kết quả khác nhau và trong các quá trình ấy học sinh sẽ
tự đặt ra những câu hỏi, những thắc mắc như tại sao hạt có thể nảy mầm ngay
cả trên giấy, trên tấm nhựa? Như vậy trong hạt có gì?. Tại sao lại phải bón
phân cho cây?...
- Phương pháp "Bàn tay nặn bột" đưa ra một tiến trình ưu tiên cho việc
xây dựng tri thức bằng hoạt động, thí nghiệm và thảo luận.
- Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực
nghiệm, xây dựng một tập thể học tập tốt và thu được kiến thức cơ bản để
hiểu biết thế giới tự nhiên và kĩ thuật.
21
mục đích của giáo viên để tìm cách xử lý thích hợp như: xác định một cách
thực tế về trình độ bắt buộc phải đạt được, lựa chọn những tình huống sư
phạm, các kiểu can thiệp và những công cụ didacque (có nghĩa là so với kiến
thức khoa học được coi là chuẩn) thích đáng nhất. Và cuối cùng để có sự đánh
giá chuẩn nhất.
- Các buổi học ở lớp được tổ chức xung quanh các chủ đề để học sinh
tiếp thu kiến thức, hiểu được phương pháp tiến hành, nắm bắt ngôn ngữ.
- Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử
dụng những dụng cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở
đây không quá tốn kém, đa số là các vật dụng dễ kiếm và dễ sử dụng : vài nụ
hoa cả cây cam, cây bưởi, con dao mỏng, cốc thủy tinh, chai thạch bích, ống
hút nước, miếng đất trồng, tấm ni lông, que diêm, hạt vừng,… Những thứ ấy
chúng ta có thể thấy ở góc sân trường, trên sân vận động, trên cánh đồng hay
nơi hè phố,…
Các thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn giản. Trẻ
có thể mổ một đùi con ếch để biết cơ, bắp, gân, dây chằng và vai trò của
những thứ ấy. Trong ao hồ hay chuồng thú, trẻ có thể quan sát được sự đẻ
trứng, sinh con và các hành vi khác của con vật (ăn mồi, chạy trốn, chăm sóc
con,…). Các em thử nghiệm nhu cầu cầu của cây trồng bằng cách thay đổi
các thông số: đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí bằng cách so sánh và
phân tích kết quả thực nghiệm. Trẻ sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần thay đổi mỗi
lần một thông số là có thể kết luận khác nhau. Và trong quá trình ấy, học sinh
sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại cây sống bám trên
cây khác mà không cần đến yếu tố đất ? Tại sao sự nẩy mầm không chỉ xẩy ra
trong đất mà còn cả trên nhựa, tờ giấy? Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có
ăn đất không? Tại sao lại bón phân cho cây?...
1.3.3. Ưu điểm của phương pháp “Bàn tay nặn bột”
học sinh từ chỗ dựa vào trực quan cụ thể lên tưởng tượng dựa vào ngôn ngữ,
thông qua ngôn ngữ.
Trong quá trình học sinh thao tác với dụng cụ thí nghiệm, hình ảnh sự
vật hiện tượng được thể hiện có tính chất đầy đủ hơn và trọn vẹn hơn. Sự sắp
xếp các hiện tượng khá chặt chẽ, đồng thời các em có khả năng gọt dũa những
biểu tượng cũ và sử dụng chúng để tạo biểu tượng mới. Trí tưởng tượng dựa
trên ngôn ngữ của học sinh đã được phát triển.
c) Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành, thói quen tự tìm tòi và phát
triển ngôn ngữ khoa học cho học sinh:
Ở bậc học tiểu học, việc rèn luyện tốt kỹ năng, kỹ xảo, sử dụng khéo
léo những dụng cụ thí nghiệm đơn giản là một nhiệm vụ quan trọng. Điều này
cũng có nghĩa, đi đôi với việc cung cấp kiến thức, cần phải hình thành cho
học sinh phương pháp học. Chẳng hạn, việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm
khéo léo chính xác, hiệu quả là điều không thể thiểu được trong việc học tập
các môn khoa học thực nghiệm như: Vật lý, hoá học, sinh học… Trong dạy
học, để rèn luyện cho học sinh những kỹ năng này, tránh tình trạng đưa các
em vào thế bị động, máy móc cần phải để các em chủ động nhận thức thế giới
xung quanh. Sự tích cực sẽ làm cho tư duy của các em phát triển nhanh hơn.
Khi học tập theo phương pháp này, những thao tác vụng về, bỡ ngỡ, thiếu linh
hoạt, chưa có thói quen ghi các hiện tượng, các quá trình làm thí nghiệm vào
vở của mình sẽ được học sinh nhanh chóng khắc phục bằng sự nhiệt tình tham
gia công việc, thích thú sáng tạo và phát hiện ra các bài thí nghiệm mới.
Học sinh tiểu học tiếp cận với các hiện tượng, sự kiện khoa học qua sự
biến đổi các đặc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng và ngay cả các hoạt
động hằng ngày của các em như: khi học, khi ăn, khi vui chơi giải trí,… Vì
vậy, các em tiếp thu các hiện tượng khoa học theo cách nhìn đơn giản và giải
24
thích các hiện tượng đó bằng ngôn ngữ đời thường. Chẳng hạn, khi các em