Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện thạch hà, tỉnh hà tĩnh - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN ĐÌNH THANH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG
ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN ĐÌNH THANH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG
ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN QUỐC LÂM

Nghệ An, năm 2015
NGUYỄN ĐÌNH THANH


MỤC LỤC
Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

TT

Diễn giải

1

BGH

Ban giám hiệu

2

CB

Cán bộ

3

CBGV

CSVC-KT

Cơ sở vật chất-kỹ thuật

9

DH

Dạy học

10

GD-ĐT

Giáo dục và Đào tạo

11

GV

Giáo viên

12

HS

Học sinh

13


PPGD

Phương pháp giảng dạy

19

QL

Quản lý

20

SGK

Sách giáo khoa

21

TB

Thiết bị

22

THPT

Trung học phổ thông

23


giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho sự phát triển”. Do đó yêu cầu đặt ra cho Giáo dục Việt
Nam phải từng bước đổi mới theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
của xã hội, của sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển con người, phát triển đất
nước trong giai đoạn hiện nay và giai đoạn tiếp theo.
"Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2020" và Nghị quyết
“về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" đã xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2020,
nền GD được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Chất lượng giáo dục được nâng cao
một cách toàn diện.
Nhận thức được vai trò quan trọng của tiếng Anh, phương tiện giao tiếp


8
không thể thay thế được để hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam cùng
Nhà nước ta đã tập trung đầu tư nhiều chương trình trọng điểm nhằm phát triển
và nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh cho cán bộ, giáo
viên và học sinh, sinh viên (Quyết định số 1400 của Thủ tướng chính phủ về đề
án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 2020”).
Cho tới nay, trình độ ngoại ngữ của học sinh, sinh viên Việt Nam nói
chung và Hà Tĩnh nói riêng còn thấp, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ và kỹ năng
giao tiếp còn hạn chế, khả năng nghiên cứu, làm việc độc lập trong môi trường
hội nhập quốc tế còn yếu. Nguyên nhân là do việc tổ chức dạy và học ngoại ngữ
ở các cấp học còn nhiều hạn chế, chưa thực sự được chú trọng, một số giáo viên
dạy ngoại ngữ còn yếu về năng lực chuyên môn, lạc hậu về phương pháp, cơ sở
vật chất, phương tiện phục vụ cho việc dạy và học ngoại ngữ còn nghèo nàn, lạc
hậu, …Vì vậy nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là làm thế nào để nâng cao được chất
lượng dạy học tiếng Anh trong các nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay.

huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THPT
huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nếu đề xuất và thực hiện được một số giải pháp
quản lý có cơ sở khoa học và có tính khả thi.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở
các trường THPT
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các
trường THPT huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất và thăm dò tính cần thiết, khả thi của một số giải pháp quản lý
hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Thạch Hà, tỉnh


10
Hà Tĩnh
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các
trường THPT huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh:
Trường THPT Lý Tự Trọng;
Trường THPT Nguyễn Trung Thiên;
Trường THPT Lê Quý Đôn.
- Thời gian khảo sát: Từ tháng 04 - 2014 đến tháng 03 năm 2015
- Thời gian áp dụng các giải pháp được đề xuất: từ năm 2015 đến năm
2017.
6. Các phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp; phân loại - hệ
thống hóa các tài liệu lý luận có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG
ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG


12
1.1.

Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài quản lý và quản lý hoạt động dạy học đã được đề
cập từ lâu. Lúc đầu cơ sở lý luận về dạy học, quản lý hoạt động dạy học chỉ thể
hiện dưới dạng một số ý tưởng của những nhà triết học ( đồng thời cũng là nhà
giáo dục), sau đó dần dần phát triển và hoàn thiện hơn.
Trong lĩnh vực giáo dục, thời gian gần đây các tài liệu nghiên cứu về giáo
dục và dạy học ở nước ngoài và trong nước thường nói tới việc cần thiết chuyển
từ “dạy học lấy giáo viên làm trung tâm” sang “dạy học lấy học sinh làm trung
tâm”. Có thể xem “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” là một tư tưởng, một
quan điểm, một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học hiện nay.
Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm khuyến khích học sinh
tự học hỏi, tự phát huy sáng tạo, giáo viên đóng vai trò hướng dẫn. Phương pháp
dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã bắt nguồn từ thế kỷ thứ 18 với nhà giáo
dục, triết gia Pháp nổi tiếng Jean Jacques Rousseau. Tiếp đến là sự đóng góp của
các nhà giáo dục Pestalozzi, Francis, Parker, Ovide, Decroly và Maria
Montessori.
Phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm với Joham Pestalozzi;
ông là nhà giáo dục Thụy Sỹ. Pestalozzi đã đóng góp một cách lớn lao vào việc
phát triển quan điểm giáo dục hiện đại “Phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm
trung tâm” điều này có nghĩa là tất cả các điều học hỏi phải được hướng về học

không chỉ chuyển tải thông tin cho học sinh mà còn phải tổ chức, điều khiển,
hướng dẫn học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức.Vì vậy, vấn đề nâng cao chất
lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định
chất lượng đào tạo. Trong điều kiện của yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, đổi
mới hoạt động giảng dạy đòi hỏi phải đổi mới hoạt động quản lý.
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã
có nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam nghiên cứu về quản lý nhà
trường, quản lý hoạt động dạy học như Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chúng,


14
Hà Sĩ Hồ, Nguyễn Văn Lê, Hoàng Tâm Sơn, Nguyễn Văn Tường... Mặc dù mỗi
tác giả đi sâu vào những vấn đề khác nhau của hoạt động dạy học nhưng tất cả
đều hướng đến việc giải quyết mối quan hệ giữa giáo viên và nhà quản lý để
thực hiện những nội dung quản lý hoạt động dạy học. Tác giả Nguyễn Ngọc
Quang xác định “Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung
tâm của nhà trường, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động
sư phạm của người thầy”.
Tác giả Lê Nguyên Long, Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu
quả. NXB Giáo dục, 1998.
Tác giả Bùi Hiền nghiên cứu về phương pháp hiện đại dạy - học ngoại
ngữ, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1999.
Tác giả Hoàng Cơ Chinh nghiên cứu về đổi mới quản lý quá trình dạy học
nhằm thực hiện công tác đổi mới phương pháp dạy học. Tạp chí Nghiên cứu
giáo dục, 2000.
Tác giả Phạm Hùng Quang, Một số điều kiện đổi mới phương pháp dạy
học, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, 2000.
Tác giả Hà Sỹ Hồ - Lê Tuấn (chủ biên) - Những bài giảng về quản lý
trường học- tập III (Nghiệp vụ quản lý trường học) - NXB Giáo dục, 1978.
“Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ” - NXB Đại học quốc gia,

nhiều thứ ba trên thế giới, sau Tiếng Hoa và Tiếng Tây Ban Nha. Đây là ngôn
ngữ thứ hai được sử dụng rộng rãi và là ngôn ngữ chính thức trong các tổ chức
lớn bao gồm Liên minh châu Âu, Khối Thịnh vượng chung Anh và đặc biệt
là Liên hiệp Quốc.
Tiếng

Anh

được

sử

dụng

phổ

biến

nhờ

vào

ảnh

hưởng

của Mỹ và Anh trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, khoa học, tin học, chính
trị và văn hóa. Ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, người ta bắt buộc hoặc mặc
định phải học tiếng Anh để đi làm, nghiên cứu, kinh doanh, quan hệ quốc
tế….vv.

cầu”(viết tắt của Global English). Điều này được khẳng định bằng vị thế của
tiếng Anh trên thế giới ở hai phương diện quan trọng: vai trò của tiếng Anh


17
trong giao tiếp trên toàn cầu và sự xâm nhập của các yếu tố tiếng Anh vào các
ngôn ngữ trên thế giới. Theo thống kê sơ bộ, tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức
của trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có khoảng 337
triệu người sử dụng tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ thứ nhất, 235 triệu người
sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai; 85% thông tin trên thế giới được chuyển
tải bằng tiếng Anh (trực tiếp hoặc từ ngôn ngữ khác chuyển sang).
Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc và đa ngôn ngữ. Với 54
dân tộc và tương ứng là 54 ngôn ngữ chính danh, các ngôn ngữ ở Việt Nam
được khẳng định về vị thế và chức năng bằng pháp luật. Bảo vệ, phát triển và
hiện đại hoá tiếng Việt, bảo tồn và phát huy ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam là nhiệm vụ xuyên suốt trong lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển
đất nước Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam về ngôn ngữ
được nêu rõ trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, được xác định bằng điều
khoản trong Hiến pháp, được quy định rõ tại các văn bản của Chính phủ. Đối
với ngôn ngữ trong giáo dục, Luật Giáo dục (2005) của Nước CHXHCN Việt
Nam quy định rõ:
“Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và
học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ.
+ Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục
khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ
tướng Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà
trường và cơ sở giáo dục khác.
+ Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ
viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp
cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong

nói riêng “xuyên các lớp học, xuyên các cấp học” đối với trường phổ thông đã
được thể hiện khá rõ ở chương trình và giáo trình. Nếu chỉ nhìn vào chương
trình và giáo trình tiếng Anh hiện nay thì có thể tạm yên tâm rằng, học sinh sau


19
khi học xong phổ thông đã có thể có được một vốn tiếng Anh khá cơ bản.
Nhưng thực tế lại không phải như vậy. Điều này thể hiện rất rõ ở việc tiếp tục
học và khả năng sử dụng tiếng Anh tại bậc đại học của sinh viên. Số sinh viên
có thể phát huy vốn tiếng Anh học được từ phổ thông là không nhiều. Rõ ràng,
việc dạy - học tiếng Anh ở phổ thông cần phải được khảo sát, điều tra để nâng
cao hiệu quả và tính liên thông trong việc dạy học tiếng Anh “ xuyên suốt từ phổ
thông đến đại học”.
* Giáo dục ngoại ngữ ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hơn bao giờ hết
cần được xây dựng trên cơ sở của đời sống xã hội Việt Nam và trong mối quan
hệ với đời sống của cả thế giới. Dù có toàn cầu hoá đến mức độ nào với sự bùng
nổ của tiếng Anh thì tiếng Anh ở Việt Nam chỉ là tiếng Anh chuyên môn mà
thôi. Sử dụng tốt tiếng Việt ở tất cả các kĩ năng là nhiệm vụ hàng đầu của giáo
dục ngôn ngữ trong nhà trường. Sau đó mới là nhiệm vụ giáo dục tiếng Anh.
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa giáo dục môn tiếng Việt với môn tiếng Anh sẽ
giúp cho học sinh vừa hiểu sâu, nắm chắc và sử dụng tốt tiếng Việt , đồng thời
có được một ngôn ngữ công cụ là tiếng Anh để vươn ra thế giới. Tuy nhiên, cho
dù không thể phủ nhận vai trò của tiếng Anh hiện nay nhưng cũng không vì thế
mà coi tiếng Anh là ngoại ngữ duy nhất, một môn học bắt buộc cho mọi đối
tượng học sinh ( bao gồm cả sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh), cũng
như là một trong những điều kiện bắt buộc đối mọi công chức. Sự cổ suý cực
đoan cho giáo dục ngôn ngữ (ngoại ngữ) chỉ mỗi tiếng Anh (English-only) ở
mọi hoàn cảnh, dù nhìn ở góc độ nào, cũng sẽ tạo nên sự lệch lạc trong tương lai
và nhãn tiền là một chứng chỉ tiếng Anh mang tính đối phó. Hay chăng, nên coi
việc biết tiếng Anh là nhu cầu tự thân của mọi người, còn giáo dục ngôn ngữ nào

người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ
môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tụê và chân tay nhằm hình thành
cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn
thiện. Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội


21
và tự điều khiển. Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái
niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó,
với phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến
tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân. Muốn vậy, người học phải xác
định rõ mục đích, động cơ học tập có sự say mê, tích cực, tiếp thu một cách tự
giác, sáng tạo những thông tin và biết sử dụng những thông tin đó với kinh
nghiệm riêng của bản thân.
Nhưng để học đạt được hiệu quả và tránh được những sai lầm thì học
càng cần phải có sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của thầy. Học cần phải diễn ra
trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thầy, mối quan
hệ này có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ theo mức độ tự lực của người
học, để đạt được mục đích cuối cùng của người học, đó là:
- Nắm vững tri thức khoa học
- Phát triển tư duy và năng lực hoạt động
- Hình thành thái độ, đạo đức và nhân cách, lý tưởng sống
Như vậy, bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng
của dạy và học, được thể hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng
đồng và hợp tác giữa dạy và học tuân theo logic khách quan của nội dung dạy
học. “Chỉ trong sự tác động qua lại giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân
quá trình dạy học. Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ
làm mất đi sự toàn vẹn đó” [13, 33].
1.2.3. Hoạt động và hoạt động dạy học môn tiếng Anh


phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói cách khác đi tâm lý nhân cách
được bộc lộ và hình thành trong hoạt động.
1.2.3.2.

Hoạt động dạy học môn tiếng Anh

Thuật ngữ “hoạt động” theo nghĩa thông thường dùng để chỉ những cách
thức, hành động nhất định, được chủ thể hành động để thực hiện mục đích đã
vạch ra. Cũng theo nghĩa chặt chẽ và khoa học, phương pháp hoạt động là hệ


23
thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để
điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định.
Hoạt động dạy học môn tiếng Anh là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt
động dạy học để làm cho việc học tập của học sinh theo hướng phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo qua đó bồi dưỡng cho học sinh hoạt động tự
học, tự rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Hoạt động dạy học đòi hỏi phải tìm kiếm các phương pháp dạy học mới
và cải tạo các phương pháp cổ truyền cho phù hợp với nội dung hiện đại, theo
hướng nâng cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo, nâng cao năng lực nội sinh của
người học, đổi mới cách điều khiển quá trình hoạt động dạy học và đưa công
nghệ hiện đại vào nhà trường.
Dạy học là một hoạt động đa dạng. Vì vậy việc dạy bất cứ môn học
nào cũng đều phải tuân theo một trình tự nhất định đó là “lựa chọn”, “phân
cấp” và “trình bày”.

Trước hết ta phải lựa chọn, vì không thể dạy cả kho tàng

kiến thức của nhân loại. Sau đó ta phải phân cấp để dạy (cái gì trước, cái gì

quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bị
quản lý) về các mặt chính trị văn hoá xã hội, kinh tế.. bằng một hệ thống các luật
lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm
tạo ta môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [26, 29].
Đối với nhà trường quản lý là quá trình tác động của bộ máy quản lý nhà
trường (Người quản lý) đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác
nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Quản lý là một hoạt động lao động tất yếu trong quá trình phát triển của
xã hội loài người, nó được bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác
lao động. Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực
hiện những mục tiêu dự kiến” [27,35].
Nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau đối với công tác quản lý.
Vậy đối với tác giả quản lý nhà trường là quá trình tác động của bộ máy quản lý
nhà trường (Người quản lý) đến tập thể GV, HS và các lực lượng khác nhằm


25
thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục của nhà trường đề ra.
Như vậy: Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, của
CBQL đến cách thức làm việc của thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học.
Phương pháp dạy học luôn luôn hoạt động trong mối quan hệ chặt chẽ với các
thành tố khác của quá trình dạy học như: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp Phương tiện - Hình thức - Kết quả, nên quản lý phương pháp dạy học cũng cần
tiến hành đồng bộ với các thành tố đó, đặc biệt cần tác động vào mối quan hệ
Thầy - Trò.
1.2.4.2. Các chức năng cơ bản của quản lý
Theo nghiên cứu lý luận về quản lý học hiện đại cho thấy: quản lý bao
gồm 4 chức năng cơ bản là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
- Kế hoạch hoá hoạt động quản lý là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý
phương pháp dạy học vào kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, các giải pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status