Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng gạo của một số giống lúa lai trồng trong vụ xuân 2015 tại hà tĩnh - Pdf 33

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
…—&–…

PHẠM THANH BIÊN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ CHẤT LƯỢNG GẠO CỦA MỘT
SỐ GIỐNG LÚA LAI TRỒNG TRONG VỤ XUÂN
2015 TẠI HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

NGHỆ AN, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH


ii

…—&–…

PHẠM THANH BIÊN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ CHẤT LƯỢNG GẠO CỦA MỘT
SỐ GIỐNG LÚA LAI TRỒNG TRONG VỤ XUÂN
2015 TẠI HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Khoa Nông Lâm Ngư - Trường
Đại học Vinh và để hoàn thành được đề tài và bản luận văn này, ngoài sự cố gắng
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng
góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học, gia đình và anh em,
bạn bè, đồng nghiệp.
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học
Vinh; các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Nông Lâm Ngư đã tạo điều kiện cho tôi
học tập và nghiên cứu về chuyên ngành Khoa học cây trồng. Đặc biệt, tôi xin tỏ
lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Nguyễn Thị Thanh, thầy giáo TS. Trương
Xuân Sinh và thầy giáo TS. Lê Văn Điệp - những người đã tận tình hướng dẫn
tôi trong suốt quá trình thực tập và viết luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn gia đình; tập thể Lãnh đạo; các đồng chí,
đồng nghiệp đang cùng công tác tại Chi cục Phát triển nông thôn - Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Tĩnh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn
thành khoá học này.
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản
luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, anh em, bạn bè, đồng
nghiệp để luận văn thạc sĩ nông nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn

Phạm Thanh Biên


v

MỤC LỤC



SL :

Sản lượng

ĐVT:

Đơn vị tính

TB:

Trung bình

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn

Đ/c :

Đối chứng

STT:

Số thứ tự

BĐĐN:

Bắt đầu đẻ nhánh

KTĐN :

QCVN:

Quy chuẩn Việt Nam

LA:

Diện tích lá

LAI:

Chỉ số diện tích lá

Cs:

Cộng sự

RCBD:

Randomized Complet Block Design
Khối ngẫu nhiên hoàn toàn

CV:

Coefficienct of variance
Hệ số biến động

LSD:

Least Significant Difference
Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa

Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu về chất lượng hạt gạo của các giống lúa thí nghiệm....76
Bảng 3.15. Một số chỉ tiêu về chất lượng cơm của các giống lúa thí nghiệm......78


ix

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm......................53
Hình 3.2. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm...........................57
Hình 3.3. Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm..........................59
Hình 3.4. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa thí nghiệm.......62
Hình 3.5. Động thái tăng trưởng số lá của các giống lúa thí nghiệm.............64
Hình 3.6. Diện tích lá (LA) của các giống lúa thí nghiệm..............................66
Hình 3.7. Chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống lúa thí nghiệm................67
Hình 3.8. Khả năng tích lũy chất khô của các giống lúa thí nghiệm.............69
Hình 3.9. Tình hình sâu bệnh hại trên các giống lúa thí nghiệm....................72
Hình 3.10. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống lúa thí

nghiệm...................................................................................................................75


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp phát triển lâu đời với khoảng 70%
dân số sống bằng nghề nông, sản xuất nông nghiệp chiếm 44,8% tổng sản phẩm
xã hội, trong dó canh tác lúa nước vẫn là ngành truyền thống quan trọng bậc nhất
trong sản xuất nông nghiệp. Từ một nước sản xuất chỉ mang tính tự cung tự cấp,
thì đến nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo trên thế giới. Đạt

yếu tố có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất lúa gạo.
Hà Tĩnh là một tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ, vị trí địa lý thuộc khu vực khí
hậu nhiệt đới gió mùa, với gió Đông Bắc vào mùa đông và Tây Nam vào mùa hè.
Tuy vậy, với sự tồn tại của dãy Trường Sơn chắn gió khiến khí hậu Hà Tĩnh trở
nên khắc nghiệt và cực đoan quanh năm. Những hiện tượng thời tiết bất lợi bao
gồm: hạn hán, mưa kéo dài, bão, lũ lụt, những đợt lạnh của gió mùa Đông bắc và
gió Lào khô nóng thổi từ phía Tây Nam... thường xẩy ra. Do đó ảnh hưởng lớn
đến sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất lúa.
Tính đến năm 2013, diện tích trồng lúa của Hà Tĩnh là 98.700 ha, trong đó
diện tích lúa lai chiếm khoảng 8-10%. Chủ yếu nguồn giống lúa lai được nhập
nội từ Trung Quốc và một số giống lúa lai chọn tạo trong nước. Tuy nhiên việc
nhập khẩu hạt giống thường gặp khó khăn như: nguồn giống không ổn
định, nhiều năm bị sâu bệnh hại nặng, dẫn đến năng suất và chất lượng không đạt
yêu cầu mong muốn. Để khắc phục những hạn chế này, yêu cầu đặt ra là cần
nghiên cứu, đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu của các giống
lúa trước khi đưa vào cơ cấu sản xuất. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và chất
lượng gạo của một số giống lúa lai trồng trong vụ Xuân 2015 tại Hà Tĩnh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được các chỉ tiêu về sinh lý, sinh trưởng, phát triển của các
giống lúa thí nghiệm để từ đó lựa chọn được những giống lúa lai có ưu thế về
năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu với sâu bệnh hại, đồng thời phù
hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác của người nông dân Hà Tĩnh
trong sản xuất lúa vụ Xuân.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học


3


nôi của cây lúa trồng. De Candolle, Rojevich lại quan niệm rằng Ấn Độ mới là
nơi xuất phát chính của lúa trồng. Đinh Dĩnh (Trung Quốc) dựa vào lịch sử phát
triển lúa hoang ở trong nước cho rằng lúa trồng có xuất xứ ở Trung Quốc. Một số
nhà nghiên cứu Việt Nam lại cho rằng nguồn gốc cây lúa là ở Miền Nam nước ta
và Camphuchia. Các tài liệu khảo cổ học Thái Lan cũng chỉ ra rằng: Cây lúa đã
được trồng ở vùng này vào cuối thời kỳ đồ đá mới đến đầu thời kỳ đồ đồng (4000
năm trước công nguyên) [7].
Tuy có nhiều ý kiến nhưng chưa thống nhất, nhưng căn cứ vào các tài liệu
lịch sử, di tích khảo cổ, đặc điểm sinh thái học của cây lúa trồng và sự hiện diện
rỗng rãi của các loài lúa hoang dại trong khu vực, nhiều người đồng ý rằng
nguồn gốc của cây lúa là ở vùng đàm lầy Đông Nam Á, rồi từ đó lan dần đi các
nơi. Thêm vào đó, sự kiện thực tế là cây lúa và nghề trồng lúa đã có từ rất lâu ở
vùng này, lịch sử và đời sống của các dân tộc Đông Nam Á lại gắn liện với lúa
gạo đã minh chứng về nguồn gốc của lúa trồng [6].


5

Ở Việt Nam cây lúa được coi là cây trồng “bản địa” vì nó không phải là
loại cây trồng từ nơi khác đưa vào, lúa được trồng từ hàng nghìn năm trước đây
và được coi là biểu tượng của nền văn minh lúa nước. Vùng đồng bằng Bắc Bộ là
một trong những vùng sinh thái của cả nước có các nguồn gen đa dạng và phong
phú nhất [4].
Về tổ tiên lúa trồng, hai loài lúa trồng hiện nay là Oryza sativa L. ở Châu
Á và Oryza glaberrima Steud. ở Châu Phi, mà xuất xứ của nó còn có nhiều nghi
vấn.
Porteres (1956) cho rằng tổ tiên chung của lúa trồng là một loại hình lúa
nổi có thể sinh sản bằng thân ngầm nhưng không cho biết tên nó là gì. Sampath
(1962) và Oka (1964) xem Oryza perennis Moench, là tổ tiên chung của cả 2 loài
lúa trồng ở Châu Á và Châu Phi. Sharma và Shastry (1965) thì cho rằng Oryza

loài lúa trồng O. sativa L. và O. glaberrima Steud. Ông xem dạng lúa Châu Phi
(O. perennis Moench) như là một loài riêng, O. barthii A. Chev., và dạng lúa
Châu Á và Châu Mỹ thuộc về loài O. rufipogon Griff. Ông cũng bổ sung 2 loài
mới: O. longiglumis Jansen và O. angustifolia Hubbard [6].
2.1.2.2. Theo sinh thái địa lý
Từ 200 năm trước công nguyên, các giống lúa ở Trung Quốc được phân
thành 3 nhóm: “Hsien”, “Keng” và nếp. Năm 1928 – 1930, các nhà nghiên cứu
Nhật Bản đã đưa lúa trồng thành 2 loại phụ: “indica” và “japonica” trên cơ sở
phân bố địa lý, hình thái cây và hạt, độ bất dục khi lai tạo và phản ứng huyết
thanh (Serological reaction) và sau đó đã thêm một nhóm thứ 3 “javanica” để
đặt tên cho giống lúa cổ truyền của Indonesia là “bulu” và “gundil”.
1.1.2.3. Theo đặc tính sinh lý
Lúa, nói chung, là loại cây ngày ngắn, tức là loại thực vật chỉ cảm ứng ra
hoa trong điều kiện quang kỳ ngắn. Phản ứng đối với quang kỳ (độ dài chiếu
sáng trong ngày) thay đổi tuỳ theo giống lúa. Dựa vào mức độ cảm ứng đối với
quang kỳ của từng giống lúa, người ta phân biệt 2 nhóm lúa chính: nhóm cảm
quang và nhóm không cảm quang.
- Nhóm lúa cảm quang: Là nhóm giống lúa có cảm ứng với quang kỳ , chỉ
ra hoa trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn thích hợp, nên gọi là lúa mùa, tức lúa
chỉ trổ và chín theo mùa. Tùy mức độ mẫn cảm với quang kỳ nhiều hay ít, mạnh
hay yếu người ta phân biệt: lúa mùa sớm, mùa lỡ hoặc mùa muộn. Phần lớn các
giống lúa cổ truyền của ta đều là giống lúa cảm quang.
- Nhóm lúa không cảm quang: Hầu như các giống lúa mới lai tạo phục vụ
cho việc thâm canh tăng vụ hiện nay đều không cảm quang. Các giống lúa này lại


7

ngắn ngày (90-120 ngày) hoặc trung mùa (120-150 ngày) có thời gian sinh
trưởng hầu như không thay đổi khi trồng trong các thời vụ khác nhau nên có thể


8

- Hạt gạo: Gạo trắng hay đỏ hoặc nâu, tím (màu của lớp vỏ ngoài hạt gạo);
có bạc bụng hay không; dạng hạt dài hay tròn. Các đặc tính này rất quan trọng ảnh hưởng
tới giá trị thương phẩm của gạo trên thị trường trong và ngoài nước. [6]
1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới
1.2.1. Tình hình nghiên cứu lúa lai trên thế giới
Trung Quốc đã thành công trong sản xuất lúa lai trong hơn 30 năm qua
đối với một loài cây trồng tự thụ phấn là một minh chứng cho tiềm năng to lớn
của ưu thế lai. Trung Quốc trở thành nước đầu tiên trên thế giới trồng lúa lai trên
diện rộng vào năm 1976, chiếm hơn 50% diện tích trồng lúa hiện nay. Sau đó Việt Nam
và Ấn Độ cũng phát triển thành công lúa lai với diện tích 0,5 – 0,6 triệu ha/năm.
Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều tổ chức và cơ sở nghiên cứu
quốc tế đảm nhiệm việc thu thập tập đoàn giống và cung cấp nguồn gen để cải
tạo và chọn lọc giống lúa.
Năm 1960 Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI đã được thành lập tại
Losbunos – Philippin. Viện là Trung tâm quốc tế về thu thập bảo tồn và nghiên
cứu để cung cấp hạt giống lúa.
Vào năm 1974, các nhà Khoa học của Trung Quốc đã cho ra đời những tổ
hợp ưu thế lai cao, đồng thời quy trình sản xuất hạt lai hệ "3 dòng" được hoàn
thiện và đưa vào sản xuất 1975, đánh dấu bước ngoặt to lớn trong lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp nói riêng và thế giới nói chung. Các giống lúa lai của Trung
Quốc được tạo ra trong thời gian gần đây đều có tính ưu việt hơn hẵn về năng
suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh [20].
Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa đứng đầu thế giới, là nước nghiên
cứu lúa lai khá sớm; đồng thời cũng là nước đi đầu trong cuộc "cách mạng xanh"
về việc đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào sản xuất, làm
nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo của Ấn Độ. Các giống lúa chất lượng
cao nổi tiếng thế giới như giống: Basmati, Brimphun có giá trị rất cao trên thị

hợp β-carotene. Giáo sư Ingo Potrykus của Thụy Sỹ và Tiến sĩ Peter Beyer của
Đức đã sử dụng gen PSy (Phytocone Syntheses) từ Narciscus và gen Pds
(Phytocone disaturase) từ vi khuẩn mã hóa cho những enzim bị thiếu và họ đã
thành công trong chuyển đổi cây lúa để sản xuất chất β-carotene. Kết quả giống
lúa đầu tiên tạo được chất β-carotene trong hạt gạo đã được tạo ra. Đó là giống
Teipei309 thuộc nhóm Japonica được báo chí gọi là “cây lúa vàng” [1].
Ngoài ra nhóm nghiên cứu của Giáo sư Ingopotrykus và nhóm của
Toshihino Yoshishra ở Nhật Bản có hàm lượng sắt cao trong hạt gạo bằng cách
chuyển nạp gen tạo ra chất Ferintin, một loại protein giàu sắt dự trữ trong cây


10

đậu. Gen điều khiển tổng hợp Ferintin trong cây đậu được phân lập và chuyển
vào nhờ vi khuẩn.
Theo hướng này, mới đây Thái Lan đã tạo được giống lúa giàu sắt với
hàm lượng sắt gấp 30 lần các giống lúa thông thường khác. Ngoài ra các giống
này còn chứa protein, kẽm và các tác nhân chống oxi hóa. Với sự ra đời của các
giống này đã góp phần khắc phục bệnh thiếu máu ở người, đặc biệt là ở trẻ em và
phụ nữ mang thai. Đây là một tiến bộ vượt bậc trong công tác giống trên thế giới
đồng thời mở ra hướng chọn tạo giống mới nhờ tiến bộ của khoa học bằng công
nghệ chuyển nạp gen.
Lúa lai hai dòng luôn gắn liền với việc nghiên cứu phát hiện các dòng bất
dục đực nhân nhạy cảm với quang chu kỳ (PGMS) và dòng bất dục đực nhân
nhạy cảm với nhiệt độ (TGMS). Từ 2 nguồn vật liệu ban đầu là PGMS – Nông
ken 58 (phát hiện năm 1973) và TGMS – Anôngs (1988), các nhà khoa học
Trung Quốc đã tiến hành lai tạo để cho ra các dòng P(T)GMS mới có nền di
truyền khác nhau, Trên cơ sở đó phương pháp sản xuất lúa lai 2 dòng ra đời. Đây
được xem như là bước đột phá trong công nghệ sản xuất giống lúa lai [5]. Tổ hợp
lúa lai hai dòng đầu tiên đưa ra sản xuất từ dòng mẹ Peiai 64s và dòng bố TeQuing đã cho năng suất rất cao (170 tạ/ha) vào năm 1997 và được gieo cấy trên

đạt 2,7 tấn/ha. [16]
Chọn giống lúa theo phương pháp truyền thống dựa trên cơ sở chọn lọc
kiều hình trong quần thể con lai đang phân ly của một tổ hợp lai nào đó. Phương
pháp này thường gặp phải một số khó khăn về tương tác giữa kiểu gen và môi
trường (GxE) [1]. Mặt khác, nhiều quy trình chọn theo kiểu hình rất đắt tiền, tốn
thời gian, tiền của và công sức lao động. Chọn tạo giống bằng phương pháp dấu
chuẩn phân tử (MAS) có khả năng khắc phục những nhược điểm đó [2].
Hiệu quả của MAS để cải tiến năng suất lúa, nhưng nó chỉ rõ ràng hơn khi
kết hợp với phương pháp bản đồ QTL. Những alen QTL đối với thành phần năng
suất lúa, nguồn gốc từ lúa hoang Oryza rufipogon, được phát hiện thông qua
quần thể hồi giao cải tiến (AB-QTL). Nghiên cứu này mặc dù có hiệu suất thấp
nhưng nó có ảnh hưởng tốt đối với năng suất và thành phần năng suất trong
giống lúa trồng đóng vai trò vật liệu nhận. Một vài QTL đối với năng suất lúa
hoang không liên kết với bất cứ một QTL bất lợi nào. Trong nhiều trường hợp
khác nhau, các alen của Qryza rufipogon thể hiện cùng một ảnh hưởng trên một nền tảng
di truyền và môi trường khác nhau, tạo ra tính chất ổn định của QTL năng suất [1].
Những QTL đối với KL1000 hạt gần đây cũng được xác định trên nhiễm
sắt thể số 6. Thông qua sử dụng quẩn thể các dòng cận giao từ cặp lai giữa giống


12

lúa Japonica năng suất cao và giống lúa Indica năng suất thấp. Người ta áp dụng
MAS du nhập vào một dòng NIL của Nipponbare, QTL như vậy làm tăng KL
1000 hạt lên 10% và năng suất lúa lên 15% trên mỗi cây mà không gây một ảnh
hưởng bất lợi nào khác về dạng hình cây lúa cao sản. Vùng mục tiêu trong
genome nơi QTL định vị được đánh dấu bởi nhiều marker phân tử. Chúng có thể
được dùng trong việc du nhập QTL này nhằm làm gia tăng năng suất trong các
giống lúa cao sản.
Shen và ctv. (2001) cho rằng việc áp dụng marker phân tử trong chọn

tìm thấy AC được kiểm soát bởi gen chính định vị trên nhiễm sắc thể số 5 và 6
với gen Wx và các alen chính giải thích biến thiên di truyền 91,1%. Đó là 2 maker
RG573, C624 định vị trên nhiễm sắc thể số 5 và Wx trên nhiễm sắc thể số 6. [31]
Hàm lượng amylose được kiểm soát bởi 3 alen của một gen Waxy. Do đó
người ta khó đánh giá chính xác bằng bản đồ di truyền đơn gen, cần phối hợp
đánh giá bằng bản đồ di truyền QTL. Viện lúa Đồng bằng Sông cửu long sử dụng
Microsatellite maker liên kết với hàm lượng amylose là Wx-F-r định vị trên
nhiễm sắc thể số 6. Kết quả còn ghi nhận QTL mục tiêu liên kết với maker này
đã giải thích biến thiên kiểu hình AC trung bình là 17,8% cho cặp lai IR64/Hoa
Lài và 19,7% cho IR64/Khao Dawk Mali105.
Đánh giá trên quần thể của Nàng Nhen và OM3536 giá trị đoán mức chính
xác trong khi so sánh kiểu gen và kiểu hình là 97%. Thực hiện “Fine mapping”
trong quần thể BC2F2 của IR64/OM1706 để đánh giá ước đoán chính xác của
hàm lượng amylose.
Viện đã tiến hành chọn lọc 100 cá thể BC 2F2 được 11 dòng có dạng hình
và hàm lượng amylose trung bình đến ít hơn 25%. Kết quả phát triển giống lúa
OM4495 chất lượng gạo tốt, năng suất cao thích nghi vùng đất xám và một số
vùng khó khăn. Hàm lượng AC ổn đinh 24%.
Mùi thơm của gạo và cơm là tiêu chuẩn chọn lọc lý tưởng của các nhà
chọn giống trong hơn nửa thế kỷ qua. Lúa thơm có vị trí đặc biệt trong thị trường
gạo xuất khẩu với giá trị kinh tế cao. Người ta đã chứng minh rằng mủi thơm của
2 giống lúa Basmati 370 và Khao dawk mali 105 do hợp chất 2-Acetin-1pyrroline.
Gen điều khiển mùi thơm của gạo được nhiều tác giả nghiên cứu với
nhiều kết luận khác nhau.
- Một gen lặn. [37], [28]
- Một gen trội [33]
- Hai gen lặn, hoạt động bổ sung (tỷ lệ 7:9) ở F2. [1]


14

Ngoài cái nôi là Trung Quốc, lúa lai cũng đã mở rộng ra các nước trồng
lúa châu Á khác như Ấn Độ, Philipines, Bangladesh, Myanmar, Indonesia, Ai


15

Cập và Việt Nam, nhờ sự giúp đỡ của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Quốc
tế FAO (Food and Agricuture Organization), Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế
IRRI (International Rice Research Institute), Chương trình Phát triển của Liên
Hiệp Quốc UNDP (United Nations Development Programme) và Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB - Asian Development Bank). Trong những năm 2001 – 2002 diện
tích trồng lúa lai của các nước trên khoảng 800.000 ha [26]; năm 2006 chỉ tính
riêng diện tích lúa lai của Việt Nam và Bangladesh đã đạt 786.429 ha. [12], [13]
Theo số liệu thống kê của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực - Liên hợp
quốc (FAO) thì đến thời điểm năm 2013, cây lúa có mặt tại 117 quốc gia, vùng
lãnh thổ và phân bố ở tất cả các châu lục trên thế giới. Là cây có nguồn gốc nhiệt
đới, dễ trồng, thích ứng rộng nên ngoài những vùng đất có điều kiện thổ nhưỡng,
khí hậu, thời tiết thuận lợi, lúa còn được trồng ở vùng thấp hơn mực nước biển
như Kerala (Ấn Độ) hay được trồng ở độ cao 2.000 mét so với mặt nước biển
như ở Kasmia (Ấn Độ) và Nêpan. Lúa có thể trồng trên cạn, điều kiện nước sâu
trung bình, hoặc nước sâu khoảng 1,5 – 5,0 mét [21]. Tuy nhiên, do điều kiện sinh thái,
điều kiện kinh tế - xã hội và tập quán canh tác khác nhau nên diện tích, năng suất
và sản lượng lúa gạo ở các nước, ở các khu vực trên thế giới không giống nhau.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa thế giới những năm gần đây

2004

Diện tích
(triệu ha)
150,58


2007

155,09

42,35

656,78

5

2008

160,04

42,99

688,04

6

2009

158,10

43,45

686,93

7


2013

165,16

44,86

740,90

TT

Năm

1

Nguồn: FAOSTAT, 2004-2013


16

Về diện tích, theo số liệu thống kê của FAO, từ năm 2004 đến 2013 diện
tích trồng lúa thế giới liên tục tăng từ 150,58 triệu ha lên 165,16 triệu ha. Châu Á
vẫn là khu vực sản xuất lúa lớn nhất thế giới với tổng diện tích 146,95 triệu ha
(chiếm 90,44% tổng diện tích lúa thế giới), trong đó dẫn đầu là các nước Ấn Độ
(43,94 triệu ha), Trung Quốc (30,31 triệu ha), Indonesia (13,84 triệu ha), Thái
Lan (12,37 triệu ha), Bangladesh (11,77 triệu ha), Việt Nam (7,90 triệu ha), Mianmar
(7,50 triệu ha), Philippines (4,75 triệu ha), Campuchia (3,10 triệu ha) và Pakistan
(2,79 triệu ha). Tiếp sau Châu Á là Châu Phi (10,89 triệu ha), Châu Mỹ (6,56
triệu ha), Châu Âu (0,65 triệu ha) và ít nhất là Châu Đại dương với 0,12 triệu ha.
Về năng suất, do áp dụng được các tiến bộ về khoa học kỹ thuật như: Đầu


1

Châu Á

146,95

45,66

2

Châu Mỹ

6,56

55,01

36,08

4,87

3

Châu Phi

10,89

26,38

28,74


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status