Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
SẢN XUẤT HOA LAN HỒ ĐIỆP TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thuý Hà Thái Nguyên, 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thúy Hà đã tận tình
giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong
quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám đốc Trung tâm dạy nghề huyện
Đồng Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các đồng chí cán bộ
nơi tôi tiến hành thực hiện đề tài đã luôn động viên, giúp đỡ rất nhiều cả về tinh
thần và vật chất cho tôi hoàn thành chương trình học tập và luận văn tốt nghiệp.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Bích Ngọc Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
2.1. Vật liệu nghiên cứu 25
2.1.1. Các giống hoa 25
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
2.1.2. Các loại giá thể 25
2.1.3. Các loại phân bón 25
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1. Nội dung nghiên cứu 26
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 26
2.3. Đặc điểm và thời gian nghiên cứu 28
2.3.1. Địa điểm 28
2.3.2.Thời gian 28
2.3.3.Các chỉ tiêu theo dõi 28
2.4. Phương pháp và xử lý số liệu 30
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng của một số
giống hoa lan Hồ Điệp trồng tại Thái Nguyên 31
3.2. Ảnh hưởng của phân bón lá đến hoa lan Hồ Điệp 42
3.3. Ảnh hưởng của giá thể đến lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
1. Kết luận 60
2. Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Động thái ra lá của một số giống lan Hồ Điệp 31
Bảng 3.2: Diện tích lá của một số giống lan Hồ Điệp 33
Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái và mầu sắc lá, thân, hoa của một số giống lan
Hồ Điệp 34
Bảng 3.4: Động thái tăng trưởng đường kính thân của một số giống lan Hồ Điệp 34
Bảng 3.5a: Sự ra hoa và sinh trưởng phát triển hoa của một số giống lan Hồ Điệp 36
Bảng 3.5b: Sự ra hoa và chất lượng hoa của một số giống lan Hồ Điệp 37
Bảng 3.6a: Thành phần bệnh hại chủ yếu trên một số giống lan Hồ Điệp 39
Bảng 3.6b: Thành phần sâu bệnh hại chủ yếu trên một số giống lan Hồ Điệp 39
Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế của một số giống hoa lan Hồ Điệp 41
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra lá của cây lan Hồ
Điệp giống Chấm trắng 42
Bảng 3.9 a: Ảnh hưởng của phân bón lá đến diện tích lá của cây lan Hồ Điệp
giống Chấm trắng 43
Bảng 3.9b: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng dường
kính thân của cây lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 44
Bảng 3.10a: Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa và sinh trưởng phát
triển hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 45
Bảng 3.10b: Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa và chất lượng hoa lan
Hồ Điệp giống Chấm trắng 47
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của phân bón lá đến diễn biến thành phần sâu bệnh hại
chủ yếu trên cây hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 48
Hình 3.5: Biểu đồ ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa và sinh trưởng
phát triển hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 46
Hình 3.6: Biểu đồ ảnh hưởng của giá thể đến động thái ra lá của cây hoa lan
Hồ Điệp giống Chấm trắng 51
Hình 3.7: Biểu đồ ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng đường
kính thân của cây hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 53
Hình 3.8: Biểu đồ ảnh hưởng của giá thể đến sự ra hoa và sinh trưởng phát
triển hoa lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 55
Hình 3.9: Biểu đồ ảnh hưởng của giá thể đến sự ra hoa và chất lượng hoa hoa
lan Hồ Điệp giống Chấm trắng 56
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong muôn ngàn loài hoa đua hương khoe sắc mà thượng đế đã ban cho
loài người chúng ta, hoa lan được người Á Châu liệt vào hàng “vương giả”, có
vẻ đẹp quyến rũ đến mê hồn được thể hiện từ cấu trúc kiêu kỳ, phức tạp, những
trạm trổ hết sức tinh vi của cánh hoa đến những đường nét “phong độ” mà “quý
phái” của bộ rễ, thân và lá, đặc biệt là hương thơm tao nhã. Mặt khác, hoa lan
còn có đặc tính bền, tươi lâu, dễ bảo quản. Chính vì vậy, hoa lan không chỉ
chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần của con người mà chúng còn trở thành
một mặt hàng mang lại nguồn thu lớn cho ngành nông nghiệp.
Hoa lan thực sự đã trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao,
thúc đẩy ngành sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt là các nước
thuộc châu Á nhiệt đới như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia…
Trong đó, Thái Lan có kim ngạch xuất khẩu hoa lan cắt cành năm 1987 là 21
triệu USD, năm 1990 là 26 triệu USD, năm 1991 là 30 triệu USD. Singapore
nhập giống từ nước ngoài. Vì vậy, sản xuất bị động, giá thành sản xuất cao.
Hơn nữa sản phẩm chưa có nhãn mác, thương hiệu, vì thế hoa chưa có thị
trường xuất khẩu.
Lan Hồ Điệp là một loài lan quý có giá trị thương mại cao, có khả năng
thích ứng tốt với khí hậu miền Bắc - Việt Nam. Để có cơ sở chắc chắn trước
khi phát triển giống lan Hồ Điệp, tiến tới mở rộng vùng sản xuất và tạo thương
hiệu riêng cho hoa lan của Thái Nguyên. Vì vậy, việc nghiên cứu xác định
giống tốt đạt chất lượng và kỹ thuật canh tác phù hợp là việc làm cần thiết và
cấp bách.
Xuất phát từ thực tế trên cũng như góp phần phát triển ngành nuôi trồng
hoa lan ở Thái Nguyên, giúp cho người trồng lan có được quy trình, kỹ thuật
chăm sóc lan nhằm phát triển ngành trồng hoa lan theo hướng công nghiệp,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đáng giá khả năng sinh trưởng, phát
triển và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa lan Hồ Điệp tại Thái Nguyên”.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
2. Mục đích của đề tài
- Xác định giống lan Hồ Điệp sinh trưởng, phát triển phù hợp với điều
kiện sinh trưởng tại Thái Nguyên.
- Xác định loại giá thể và phân bón lá phù hợp đối với sinh trưởng, phát
triển lan Hồ Điệp tại Thái Nguyên.
3. Yêu cầu của đề tài
+ Đánh giá khả năng sinh trưởng.
+ Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại.
+ Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng hoa.
1.2. Sơ lược về cây hoa lan
1.2.1. Nguồn gốc, vị trí, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây hoa lan lan
1.2.1.1. Nguồn gốc lịch sử
Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [11], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2],
Võ Văn Chi - Dương Đức Tiến (1978) [3], Phạm Hoàng Hộ (2000) [9],
Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [4] cây lan Orchida thuộc họ
phong lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm
Monoctyledoneae. Cây lan được biết đến đầu tiên ở Phương Đông. Hoa lan
được biết đến vào khoảng 2500 năm về trước (Thời đại của Đức Khổng Tử,
551- 479 trước công nguyên). Ở Phương Đông, lan được chú ý đến vì vẻ đẹp
duyên dáng của lá, hương thơm tuyệt vời của hoa. Khổng Tử đề cao lan là
Vua của những loài cỏ cây có hương thơm.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
Hoa lan thường mọc ở các vùng nhiệt đới, đã được các thuỷ thủ, các lái
buôn, nhà truyền giáo mang về nên người châu Âu biết đến rất muộn, lan
được chú ý trước hết để làm thuốc chữa bệnh. Ở đây người ta đã tiến hành
nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ về lan. Có thể nói Theophara stus là cha đẻ
ngành học về lan và ông cũng là người đầu tiên dùng từ Orchid để chỉ một
loài lan có củ tròn. Sau đó Robut Bron (1773 - 1858) là người đầu tiên đã
phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác [10]. Người đặt nền tảng hiện đại
cho môn học về lan là John Lindley (1799 - 1865). Năm 1836 ông công bố, sắp
xếp các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler). Tên của họ lan
do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay [10].
Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ đầu không rõ rệt, có lẽ
người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà
truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên
vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong
Renanthera, ở Châu Nam Mỹ như Costarica, Venezuela, Colombia có các
giống Cattleya, Odontoglosum, Miltonia.
Theo Briger (1971), vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài,
vùng trung sinh Nam bán cầu có 40 chi và 500 loài, Châu Âu có 120 loài, Bắc
Mỹ có 170 loài. Họ lan (Orchidaceac) thuộc vào một loài hoa đông đảo với
khoảng chừng 750 chi và 30.000 loài nguyên thủy và khoảng một triệu loài
lan; loài hoa có số lượng lớn đứng thứ 2 sau họ cúc (Asteraceac).
Theo Presley (1981) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6.800 loài
trong đó chi Dendrobium có 1.400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi
Phalaenopsis có 35 loài, chi Vanda có 60 loài, vùng châu Mỹ nhiệt đới có 306
chi và 8.266 loài, chi Cattleya có 60 loài, chi Epidendrum có 500 loài, chi
Odontoglossum có 200 loài. Vùng Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.266
loài. Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài hoa như Colombia có
1.300 loài và Tân Ghinê có 1.450 loài, (Phan Thúc Huân, 1989) [13].
Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam, chi Dendrobium có khoảng 89 loài,
Paphiopedilum có 25 loài, Aerides có 5 loài, chi Cymbidium có 20 loài, chi
Phalaenopsis có 7- 8 loài.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
1.2.1.3. Phân loại hoa lan
Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [11], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2], Vô
Văn Chi - Dương Đức Tiến 1978 [3], Phạm Hoàng Hộ (1992) [9], Nguyễn
Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [4] và Koopowitz (1986) [34], cây hoa
lan thuộc họ lan (Orchidaceae), ở trong lớp đơn tử diệp, lớp 1 lá mầm
(Monocotyledoneae), thuộc ngành ngọc lan - thực vật hạt kín Magnolio phyta,
phân lớp hành Lilidae, bộ lan Orchidales.
Theo tác giả Takhtajan (1980), họ lan bao gồm cả họ Apostasicideae và
họ Cypripedicideae chia thành 3 họ phụ gồm:
khác nhau, điều kiện môi trường rất khác nhau như các sườn núi cao giá lạnh,
trên cây cao gió thốc hoặc ẩm ướt tối tăm ven suối trong rừng rậm , cấu trúc
loài lan cũng đa dạng để thích nghi. Thân các loài lan có 2 kiểu tiêu biểu nhất là:
Lan đa thân: Các chi lan Kiếm (Cymbidium), lan Hài
(Paphiopedilum), lan Vũ nữ (Oncidium), Cát lan (Cattleya), lan Hoàng
thảo (Dendrobium) thuộc vào kiểu lan đa thân.
Thông thường, phần của cây lan nhìn thấy được chỉ có lá, hoa và
cuống. Chúng được mọc nên từ một đoạn phình to, giống như củ hành nên
người ta gọi là giả hành.
Giả hành có thể nhỏ như lan Kiếm hoặc khá to như lan Bầu rượu
(Catlanthe), ngắn hình thoi như lan Hoàng thảo vẩy rồng, nhưng có loài khá
dài như lan Hoàng thảo phi điệp (dài tới 1m).
Việc tách bụi của lan đa thân là việc cắt thân rễ (căn hành), cắt ở vị trí
nào ta cần tính toán sao cho mỗi bụi đều có đủ sức để phát triển mạnh, thường
nên để mỗi có khoảng 3 giả hành.
Lan đơn thân: Các chi lan Vanda, Hồ điệp, Phượng vĩ, Ngọc điểm
(Rhychostylis) thuộc kiểu lan đơn thân. Thân các loài lan đơn thân luôn mọc
cao nên phía ngọn, phát triển theo chiều thẳng đứng. Sự phát triển chỉ ngừng
khi đỉnh ngọn bị thương tổn, chồi bên sẽ xé rách bọc lá để mọc thành thân
nhánh và cũng vươn cao nên phía đỉnh.
Khi thân các loài lan đơn thân vươn cao dễ bị đổ nghiêng ngả, có loài rễ
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9
gió (rễ khí) mọc theo thân bám chặt vào các cành cây hay bất cứ vật nào
chúng gặp phải để giữ cho cây luôn được thẳng đứng.
Rễ lan: đa số rễ của các loài lan có lớp mô xốp bao quanh rễ thật. Rễ của
phong lan có lớp mô xốp màu trắng ngà với nhiều công dụng khác nhau: bảo vệ
nguồn dẫn nước bên trong của rễ; hút nước và các muối khoáng bám trên mặt rễ
thước màu sắc và hình dáng nhưng chúng được cấu tạo theo cùng một khuôn
mẫu: Hoa lan có 7 bộ phận gồm: 3 cánh đài bên ngoài, 3 cánh hoa và trụ của
bông hoa. Đoạn cuống tiếp giáp bông hoa, lá bầu hoa có 3 tâm bì chính là 3 ô
của quả lan chứa đầy các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn.
Cánh đài: bộ phận bên ngoài của hoa là 3 cánh đài, bảo vệ hoa khi còn là
nụ. Đây là nét độc đáo của hoa lan. Đại đa số hoa lan có 3 cánh đài hoàn toàn
giống nhau. Hoa lan Vanda có 3 cánh đài to và đẹp hơn cánh hoa, ngược lại ở
một số loài lan như lan Hài có 2 cánh kém phát triển và dính liền vào nhau.
Cánh hoa: cánh hoa là bộ phận quan trọng nhất để tạo ra vẻ đẹp quyến rũ
của hoa lan. Hai cánh hoa trên giống nhau hoàn toàn về màu sắc và kích thước.
Một số loài hoa lan có 3 cánh đài và 2 cánh hoa trên có màu sắc và kích
thước gần giống nhau nên đã làm cho nhiều người hiểu nhầm loài hoa này có
5 cánh hoa. Một số loài lan đặc biệt như lan hài có 2 cánh hoa dài ra thành
hình dải, có khi chúc xuống, có khi lướt sóng thành đường viền nhăn nheo kỳ lạ.
Cánh hoa phía dưới có màu sắc, hình dạng rất đặc sắc khác hẳn với 2
cánh hoa trên được gọi là cánh môi hay lưỡi. Cánh môi của hoa quyết định
phần lớn giá trị thẩm mỹ của hoa. Thiên nhiên đã cho lưỡi hoa vẻ đẹp về màu
sắc và kiểu dáng mà con người khó hình dung được. Cánh môi thường lớn
lộng lẫy với nhiều màu sắc rực rỡ, hình dáng có thể đơn giản nhưng kỳ lạ, có
thùy, rìa, tua, sóng
Trụ hoa: giữa bông hoa có một cái trụ. Trụ hoa có chứa cả nhụy hoa và
nhị hoa, có loài lan hài có 2 nhị. Đầu trụ là một nắp chứa phấn hoa. Khác với
các loài hoa khác, hạt phấn hoa được kết với nhau bằng một chất sáp tạo
thành những viên gọi là phấn khối. Do đặc tính phấn hoa lan nên ở một số
nước như Hàn Quốc người ta cho trồng hoa lan trong bệnh viện và cho mang
hoa lan vào thăm bệnh nhân. Số lượng phấn khối có thể là 2, 4, 6, 8 tùy loài
hoa. Cát lan và Laelia rất giống nhau về tất cả các mặt nhưng khác nhau về số
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Có dạng từ quả cải dài đến dạng hình trụ ngắn, phình ở giữa. Khi chín, quả nở
ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc. ở một số loài khi
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
quả chín nứt theo 1 - 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra mà hạt chỉ ra khỏi vỏ
khi vỏ này bị mục nát [2].
Hạt lan: hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti. Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân
hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí, sau 2 - 18 tháng hạt mới
chín. Phần lớn hạt thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm do
đó hạt nhiều, nhẹ có thể theo gió bay phát tán rất rộng nhưng hạt nảy mầm thành
cây rất hiếm. Chỉ trong những khu rừng già ẩm ướt vùng nhiệt đới mới đủ điều kiện
cho hạt lan nảy mầm. Khối lượng toàn bộ hạt trong 1 quả chỉ bằng 1/10 - 1/000 mg,
trong đó không khí chiếm xấp xỉ 76 - 96% thể tích hạt.
1.2.2. Yêu cầu về điều kiện môi trường sinh thái của cây hoa lan
1.2.2.1. Yêu cầu về nhiệt độ
Nếu như ẩm độ quyết định sự xuất hiện của các loài lan thì nhiệt độ
quyết định sự phân bố các loài lan ấy trên thế giới. Căn cứ vào điều kiện địa
lý, người ta chia lan làm 3 nhóm khác nhau:
Lan vùng lạnh: phân bố từ vĩ tuyến 28 - 40
0
, các loại lan này không cần
nuôi dưỡng trong nhà kính.
Lan vùng nóng: phân bồ từ vĩ tuyến 12 - 15
0
, nhiệt độ trung bình từ 24 -
25
0
, biến động từ 18 - 40
đới, ôn đới và các khu vực núi cao vùng nhiệt đới.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động quang hợp và hô hấp của cây. Ở điều
kiện nhiệt độ tối thích, hoạt động quang hợp và hô hấp của lan diễn ra thuận
lợi, cây sinh trưởng, phát triển bình thường. Ví dụ lan Hồ điệp, nhiệt độ lý
tưởng vào ban ngày là 22 - 25
0
C, vào ban đêm 18
0
C (Soebijanto; Widiastoety,
- D; Suwanda 1988 [39]). Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự ra hoa của một số
loài lan. ở loài Paphiopedilum insigne và Dendrobium nobile chỉ ra hoa khi
nhiệt độ hạ xuống 13
0
C hoặc thấp hơn. Nếu nhiệt độ cao nó chỉ sinh trưởng
sinh dưỡng. Lan Hồ điệp chỉ ra hoa khi nhiệt độ ban đêm giảm xuống dưới
21
0
C (http://www.chiosan.vn [40]).
1.2.2.2. Yêu cầu về ánh sáng
Ánh sáng là điều kiện rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thông
qua quá trình quang hợp và hô hấp. Nhu cầu về ánh sáng của các loài lan là
rất khác nhau. Vanda lá tròn, Arachinis, Renanthera yêu cầu 100% ánh sáng
tự nhiên, tức là khoảng 40000 lux. Dendrobium yêu cầu 70% ánh sáng tự
nhiên, khoảng 15000 - 30000 lux. Trong khi đó lan Hồ điệp (Phalaenopsis)
nhu cầu chỉ là 30% ánh sáng tự nhiên, khoảng 5000 - 14000 lux (Nguyễn
Xuân Trường 2001 [27]). Cường độ quang hợp gia tăng cùng với cường độ
che, tưới nước.
Ẩm độ trong chậu: là độ ẩm cục bộ do cấu tạo của giá thể, thể tích
chậu, số lần tưới quy định. ẩm độ này hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật của
người trồng lan.
Trong thực tế ẩm độ của vùng cao thì tốt hơn ẩm độ cục bộ trong chậu
cao, do đó cần lưu ý hạn chế tưới nước trong mùa mưa và thời tiết có mưa
phùn, mưa giầm khi ẩm độ không khí cao.
1.2.2.4. Yêu cầu về độ thông gió
Thích thoáng sợ gió đó là một đặc điểm khi nói về hoa lan (Nguyễn Định
1998 [8]). Không khí cũng là một món ăn của cây lan. Khi trồng ở các thành
phố thì các giàn lan thiếu gió vì bị các nhà cao tầng che khuất trừ các giàn lan ở
trên sân thượng. Lượng không khí di chuyển làm mát cây lan, không có gió sẽ
làm cho giàn lan bị hầm hơi, làm nóng cây lan. Cho nên giàn lan nào thiếu gió
thì cây lan đó không tốt, nhưng giàn lan nào có nhiều gió quá làm thoát nhiều
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
hơi nước, cây lan cũng không tốt. Trường hợp này phải che bớt gió. Điều
này cũng giải thích được là tại sao khi sống trong rừng không bao giờ chúng
ta tìm thấy được lan sống ở dưới thấp (trừ địa lan ở xứ lạnh). Lan thường
sống cheo leo trên các vách đá, hoặc bám chót vót trên các ngọn cây cao. Độ
thoáng gió là một trong những đặc tính quan trọng về sinh thái của cây lan
(Phan Thúc Huân, 1989 [13]).
1.3. Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất lan trên thế giới
Loddiges 1812 là người đầu tiên trên thế giới thiết lập vườn lan thương
mại. Trong những thập kỷ gần đây, cùng với phương tiện giao thông phát
triển mạnh mẽ, các thành tựu khoa học kỹ thuật và sự phát triển về công nghệ
sinh học được ứng dụng rộng rãi. Do vậy, việc xuất khẩu hoa lan ngày càng
Ấn Độ: Để phục vụ việc xuất khẩu hoa, Ấn Độ đã đưa tiến bộ kỹ thuật
cấy mô vào nghề trồng hoa lan để sản xuất mỗi năm 10 triệu cây lan các loại.
Mặt khác Ấn Độ được xem là một nước có nhiều giống lan nguyên thuỷ
khoảng 140 giống với hơn 1.300 loài, mặc dù bị khai thác triệt để trước đây,
nhưng tới nay Nhà nước đã hình thành các khu bảo tồn bảo vệ các loài lan
quý để phục vụ cho ngành trồng lan thương mại rất tốt.
Hà Lan: Đã đầu tư 20 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy
móc … tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hoa.
Nhật Bản: Đã đầu tư 6,6 triệu USD cho Thái Lan để mở rộng cơ sở sản
xuất với công suất 10 triệu cây hoa lan mỗi năm và hiện nay, Nhật cũng là
khách hàng lớn nhất của Singgapo với khả năng tiêu thụ 60% số cây lan của
nước này (Phan Thúc Huân, 1989) [13].
Sản xuất hoa của thế giới sẽ tiếp tục phát triển mạnh ở các nước châu Á,
châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Hiện nay một số loại hoa đang được ưa chuộng
trên thị trường thế giới đặc biệt ở Nhật, Đức, Pháp, Mỹ…là hoa hồng, cẩm
chướng, hoa lan, lay ơn, cúc, đồng tiền, loa kèn…
1.3.2. Tình hình sản xuất lan ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
17
cho nên chủng loại lan rừng rất phong phú, theo thống kê có khoảng 1.000
chủng loại và nhiều loài lan lai du nhập vào nhưng thống kê chưa đầy đủ.
Nhìn chung sản xuất lan ở Việt Nam mới chỉ phát triển mạnh mẽ ở các
tỉnh phía Nam, đặc biệt là ở Đà Lạt và thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 8/2004
Lâm Đồng đã thành lập Hiệp hội hoa lan với tên gọi giao dịch là Dalat orchid
Association với mục đích là tập hợp những người yêu mến và có kinh nghiệm
trồng lan tiến tới phát triển nhân rộng, sản xuất theo hướng hàng hoá. Năm
2010 sản lượng hoa của Đà Lạt đạt 1,5 tỷ cành.