Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Mở đầu
Rau là loại cây trồng có nhiều chất dinh dưỡng và là thực phẩm cần thiết không thể
thiếu trong đời sống nhân dân. Đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã
được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một nhân tố tích cực trong
cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Ngành sản xuất rau cung cấp cho chúng ta sản
phẩm của các loại cây rau hằng năm, hai năm là một bộ phận quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp.
Dưa chuột Cucumis sativus L thuộc họ bầu bí, trong họ bầu bí thì dưa chuột là loại
được trồng nhiều hơn cả. Ở nước ta dưa chuột đã được trồng từ rất lâu, không chỉ để giải
quyết vấn đề thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày mà còn mang tính thương mại quan trọng.
Những năm gần đây, thị trường tiêu thụ rau xanh trong nước và thế giới ổn định,
kinh tế đối ngoại có nhiều cơ hội phát triển đó là điều kiện thuận lợi tiềm năng cho ngành
rau phát triển. Tuy ngành trồng rau trong đó có dưa chuột có nhiều khởi sắc nhưng trên
thực tế vẫn chưa theo kịp nhiều ngành khác trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là ở các
tỉnh miền Trung, diện tích trồng rau nói chung và dưa chuột nói riêng có nhiều biến động
qua các năm. Năng suất chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình của cả nước. Có
nhiều nguyên nhân làm cho năng suất dưa chuột ở các tỉnh miền Trung còn thấp đó là do
điều kiện thời tiết quá khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra mưa lũ, hạn hán, đất đai nghèo
dinh dưỡng, chưa có bộ giống dưa chuột chuẩn và tốt. Đặc biệt là giống dùng cho chế biến
công nghiệp và xuất khẩu còn quá ít không đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất do vậy phải
nhập ngoại, giá thành cao và không chủ động trong sản xuất. Bên cạnh đó giống dùng cho
ăn tươi, tiêu thụ nội địa năng suất còn thấp, kém hiệu quả. Phần lớn hạt giống rau do dân tự
để giống hoặc nhập nội không qua khảo nghiệm kỹ. Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến
năng suất và chất lượng của dưa chuột. Vấn đề đặt ra là phải tìm được những giống dưa
chuột có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, thích ứng với điều kiện thời tiết ở miền
Trung cho năng suất cao, ổn định đặc biệt là chất lượng dinh dưỡng mà giá thành sản xuất
thấp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh
giá khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của một số giống dưa chuột có
cây rau quan trọng trong sản xuất, có ý nghĩa lớn về hiệu quả kinh tế và giải quyết vấn đề
về thực phẩm [Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, Cây rau, Trường
ĐHNN HN, NXBNN, tr 206].
2.2 Vai trò của dưa chuột
2.2.1 Về dinh dưỡng
Các loại rau nói chung và dưa chuột nói riêng là loại thực phẩm cần thiết trong đời
sống hằng ngày và không thể thay thế. Rau được coi là nhân tố quan trọng đối với sức
khỏe và đóng vai trò chống chịu với bệnh tật. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà dinh
dưỡng học trong và ngoài nước thì khẩu phần ăn của người Việt Nam cần khoảng 2300 -
2500 Calo năng lượng hằng ngày để sống và hoạt động. Ngoài nguồn năng lượng cung cấp
từ lương thực, rau góp phần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể con người. Rau không
chỉ đảm bảo cung cấp chỉ số Calo trong khẩu phần ăn mà còn cung cấp cho cơ thể con
người các loại vitamin và các loại đa, vi lượng không thể thiếu được cho sự sống của mỗi
cơ thể. Hàm lượng vitamin trong rau khá cao lại dễ kiếm.
Dưa chuột là một thức ăn rất thông dụng và còn là một vị thuốc có giá trị. Thành
phần dinh dưỡng gồm Protein (đạm) 0,8g; glucid (đường) 3,0g; xenlulo (xơ) 0,7g; năng
lượng 15 kcalo; Canxi 23mg; Phospho 27mg; Sắt 1mg; Natri 13mg; Kali 169mg; Caroten
90mcg; Vitamin B1 0,03mg; Vitamin C 5,0mg.
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng trong 100g rau ăn được
[ Mai Thị Phương Anh, Rau và trồng rau, Giáo trình cao học nông nghiệp, HNN 1996; 9]
Chỉ tiêu
Loại rau
Thành phần hóa học (g%)
Calo/
100g
Vitamin ( mg%)
Nước Protit Glu Tro B1 B2 PP C
Bầu 95,1 0,6 2,9 0,4 14 0,02 0,03 0,40 12
Dưa chuột 95,0 0,8 3,0 0,5 16 0,03 0,04 0,10 5
3
6.447,8
834
6.028,3
556
5.157,1
695
2.417
222
5.050
194,4
Tổng thu nhập (1.000đ/ha) 23.552,2 11.749,3 14.302,9 3.333 3.830
4
Thu nhập / công ( đ/công) 28,2 21,1 20,6 15,0 19,7
Trong quả dưa chuột có các loại chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như protein,
các loại vitamin A, C, B1, B2 Trước đây dưa chuột được sử dụng như loại quả tươi để
giải khát. Đến khi thị trường trong nước cũng như thế giới mở rộng, nhu cầu của người tiêu
dùng phong phú thì việc đa dạng hóa cách sử dụng là tất yếu. Ngày nay dưa chuột được sử
dụng dưới nhiều dạng khác nhau như quả tươi, trộn salat, cắt lát, đóng hộp xuất khẩu
Bên cạnh đó dưa chuột còn là cây rau quả quan trọng cho nhiều vùng chuyên canh
mang lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, chi phí đầu tư thấp có
thể mở rộng trên nhiều vùng kinh tế khác nhau.
2.3 Tình hình phát triển dưa chuột trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Trên thế giới
* Tình hình sản xuất
Theo số liệu thống kê từ FAO, năm 2007 diện tích trồng dưa chuột trên thế giới
khoảng 2.583,3 ha, năng suất đạt 17,27 tấn/ha, sản lượng đạt 44160,94 nghìn tấn. Số liệu
từ bảng thống kê cho thấy Trung Quốc là nước có diện tích trồng dưa chuột lớn nhất với
1.653,8 ha chiếm 64,02% so với thế giới. Về sản lượng Trung Quốc vẫn là nước dẫn đầu
với 28062 nghìn tấn, chiếm 62,09% tổng sản lượng dưa chuột của thế giới. Sau Trung
Quốc là Nhật Bản với sản lượng 634 nghìn tấn chiếm 1,42% của thế giới. Như vậy chỉ
Nguồn FAO.org
Nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng dưa chuột của các nước trên thế giới
đều tăng qua các năm. Do nhu cầu về rau xanh nói chung và dưa chuột nói riêng của người
tiêu dùng ngày càng cao khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm được đảm bảo. Đặc
biệt là ở các nước phát triển như Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Canada, Đức
* Tình hình tiêu thụ
Theo tính toán thì mức tiêu dùng rau tối thiểu cho mỗi người cần 90 - 110
kg/người/năm tức khoảng 250 -300 g/người/ngày. Đối với các nước phát triển có đời sống
cao đã vượt quá xa mức quy định này: Nam Triều Tiên 141,1 kg/người/năm; Newzealand
136,7 kg/người/năm, Hà Lan lên tới 202 kg/người/năm, ở Canada mức tiêu thụ rau bình
quân hiện nay là 227 kg/người/năm.
Trước nhu cầu về rau ngày càng tăng, một số nước trên thế giới đã có những chính
sách nhập khẩu rau khác nhau. Năm 2005, nước nhập khẩu rau nhiều nhất thế giới là Pháp
đạt 145,224 nghìn tấn; sau Pháp là các nước như: Canada (143,332 nghìn tấn); Anh
(140,839 nghìn tấn); Đức (116,866 nghìn tấn). Trong khi đó, 5 nước chi tiêu cho nhập khẩu
rau lớn trên thế giới là: Đức (149.140 nghìn USD); Pháp (132.942 nghìn USD); Canada
(84.496 nghìn USD); Trung Quốc (80.325 nghìn USD); Nhật Bản (75.236 nghìn USD).
Riêng đối với dưa chuột đã trở thành mặt hàng xuất nhập khẩu quan trọng ở một số nước
trên thế giới.
Bảng 2.4 Tình hình xuất nhập khẩu dưa chuột một số nước trên thế giới 2005
Nhập khẩu Xuất khẩu
6
Quốc gia Khối lượng (tấn) Quốc gia Khối lượng (tấn)
Hoa Kỳ 423.431 Tây Ban Nha 399.256
Đức 410.084 Mexico 398.971
Anh 104.054 Newtherland 360.054
Newtherland 66.901 Jordan 64.308
Pháp 59.019 Canada 54.967
Liên Bang Nga 44.112 Hoa Kỳ 48.460
Canada 42.470 Iran 36.948
triệu tấn, đạt giá trị 144.000 tỷ đồng (tương đương 900 triệu USD), chiếm 9% GDP của
nông nghiệp Việt Nam, trong khi diện tích chỉ chiếm 6%. Với khối lượng trên, bình quân
sản lượng rau sản xuất trên đầu người đạt 115 kg/người/năm, tương đương mức bình quân
toàn thế giới và đạt loại cao trong khu vực, gấp đôi trung bình của các nước ASEAN (57
kg/người/năm). Kim ngạch xuất khẩu rau, quả và hoa cây cảnh trong 5 năm (2000 - 2004)
đạt 1.222 triệu USD (bình quân mỗi năm đạt 224,4 triệu USD), trong đó khoảng 60% kim
ngạch xuất khẩu rau
Riêng đối với dưa chuột được xem là một trong những loại rau chủ lực, có diện tích
19.874 ha, năng suất 16,88 tấn/ha, sản lượng 33.537 tấn chỉ đứng sau cà chua.
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại rau chủ lực năm 2004 [ ]
Loại rau Diện tích
(ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(tấn)
Cà chua 20.648 17,34 357.210
Dưa chuột 19.874 16,88 33.537
Dưa hấu 18.140 17,82 322.890
Đậu rau 7.681 6,87 52.760
Cải các loại 26.184 22,64 592.805
Hành tỏi 14.678 15,84 232.500
Các vùng trồng dưa chuột lớn của cả nước bao gồm các tỉnh phía Bắc thuộc vùng
đồng bằng sông Hồng. Phía Nam, các huyện ngoại thành TP. Hồ Chí Minh, đồng bằng
sông Cữu Long như Tân Hiệp - Tiền Giang, Châu Thành - Cần Thơ, Vĩnh Châu - Sóc
Trăng. Miền Trung và Tây Nguyên gồm vùng rau truyền thống như Đà Lạt, Đơn Dương,
Đức Trọng (Lâm Đồng), các tỉnh duyên hải miền Trung ( Thừa Thiên Huế ).
* Tình hình tiêu thụ
Sản phẩm làm ra từ dưa chuột không chỉ để tiêu thụ tại chỗ mà một lượng khá lớn
được chế biến và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Mặc dù công nghệ sau thu hoạch
Đài Loan
Dưa chuột muối, dưa bao tử
muối, dưa gang muối
47.726,9
Cộng hòa Sec Dưa chuột đóng lọ 34.627,5
9
Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu rau các loại cả nước trong tháng
8/2008 đạt 18 triệu USD, tăng 46% so với tháng 7/08 và nâng tổng kim ngạch xuất khẩu
rau trong 8 tháng đầu năm 2008 lên trên 112 triệu USD.
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của nước ta trong 8 tháng đầu năm
2008 đều tăng ổn định so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, kim ngạch xuất sang hầu hết
các thị trường chủ lực đều tăng khá mạnh, 3 thị trường đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu
hàng rau quả của nước ta trong 8 tháng đầu năm là Nhật Bản, Đài Loan và Indonesia. Dưa
chuột vẫn là chủng loại đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu trong tất cả các loại rau.
Bảng 2.7 Tham khảo một số loại rau xuất khẩu tháng 8 và 8 tháng đầu năm
2008 [ ]
Chủng loại Thị trường
Kim ngạch xuất
khẩu tháng 8/08
( USD)
Kim ngạch xuât
khẩu 8 tháng đầu
năm 2008 (USD)
Dưa chuột Đài Loan, Nhật Bản
961.386,49 16.666.185,69
Hành
Nhật Bản, Đài
Loan, Singapore,
Đức
172.351,04 11.182.157,05
6 quả. Sản lượng từ ngày cho trái đến khi kết thúc thu hoạch đạt trên 3 tấn quả mỗi sào.
- Giống dưa chuột CV5 và CV11 (Viện nghiên cứu Rau quả). Qua nghiên cứu và các mô
hình thử nghiệm tại các tỉnh như Hưng Yên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc… cho thấy hai giống
dưa chuột CV5 và CV11 sinh trưởng phát triển khoẻ, thân lá màu xanh đậm, phân cành
khá, nhiều hoa cái, tỷ lệ đậu quả cao.
- Giống dưa chuột Hữu Nghị: là giống lai giữa giống Việt Nam (Quế Võ) và Nhật Bản
(Nasu Fuxinari) do Viện Cây lương thực và thực phẩm chọn tạo cho năng suất cao, phẩm
chất tốt, chín sớm, chống bệnh, thích hợp trồng trong vụ Đông ở đồng bằng sông Hồng.
- Giống PC1, Sao xanh 1 do GS.VS Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự lai tạo.
Thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, cho năng suất cao, ổn định, được người
tiêu dùng ưa thích [ Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, Giáo
trình Cây rau, Trường ĐHNN Hà Nội, Nxb Nông nghiệp, 2002].
- Dưa chuột bao tử: giống được đưa vào thử nghiệm là giống lai F1:
MirinbeII và Marinda, mật độ 14.000 cây/ha tại 3 xã Phú Mậu (Phú Vang),
Thuỷ Thanh (Hương Thuỷ) và Hương Long (Thành phố Huế). Mỗi điểm thử
nghiệm trên 1 vùng diện tích 500 m
2
. Dưa chuột bao tử giống MirabeII đạt 12
- 17 tấn/ha, Marinda đạt 10,0 - 17,2 tấn/ha. Nhìn chung tỷ lệ đậu bông, quả
đạt cao, kháng bệnh tốt, cho lãi cao khoảng 57 triệu đồng/ha/vụ.
Ngoài ra còn có các loại giống nhập nội cũng đã được đưa vào trồng thí
nghiệm như:
- Mummy 331: Nhập nội từ Thái Lan, sinh trưởng khá, ra nhánh mạnh, bắt
đầu cho thu hoạch 35 - 37 NSKG, trái suông đẹp, to trung bình (dài 16 - 20
cm, nặng 160 - 200 g), vỏ màu xanh trung bình, gai trắng, thịt chắc, phẩm
chất ngon, dòn, không bị đắng, năng suất trung bình 30 - 50 tấn/ha.
11
- Giống 759: Nhập nội từ Thái lan, sinh trưởng mạnh, cho thu hoạch 35 - 37
NSKG, trái thẳng, to trung bình, gai trắng, màu trái hơi nhạt hơn nhưng năng
suất và tính chống chịu tương đương Mummy 331.
12
quả chùm hoặc giống Levina quả đơn, v.v , giá hạt giống cao. Đó là một yếu
tố quan trọng dẫn đến chi phí sản xuất trên đơn vị diện tích tăng.
Về công tác giống dưa chuột tại Thừa Thiên Huế, bước đầu đã có
những thử nghiệm các loại giống F1 từ công ty giống cây trồng: Công ty
Trang Nông (giống TN 404, TN 362, TN 442, TN 765, TN 169 ); các giống
nhập nội từ Thái Lan (giống Thunderberd, Queen, Amata 765, Cham 937 ),
giống từ Pháp (L-04); nghiên cứu tập đoàn giống nhập nội từ Trung tâm
nghiên cứu và phát triển Rau Châu Á (CS 085, CS 084, Chili 303 Ks.
Trương Thị Hồng Hải,Đại học Nông Lâm Huế, 2001); giống dưa chuột bao tử
MirinbeII và Marinda (Thạc sĩ Đồng Sĩ Toàn và cộng sự Phòng Kinh tế thành
phố Huế)
Ở một số nước có trình độ thâm canh cao (như Nhật Bản), người ta
thường ghép dưa chuột lên bí đỏ (vì bí đỏ không bao giờ bị bệnh Fusarium
phá hoại) để tăng cường sức chống bệnh cho dưa, lợi dụng bộ rễ ăn sâu và
khỏe của bí đỏ để làm cho dưa có khả năng tăng năng suất [ ]
2.5 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
2.5.1 Cơ sở lý luận
- Giống cây trồng là yếu tố quan trọng quyết định rất lớn trong việc tăng năng suất và cải
thiện chất lượng sản phẩm. Sản phẩm của các chương trình giống cây trồng không chỉ tạo
ra các giống mới có ưu thế hơn các giống hiện có, mà điều quan trọng là phải duy trì và
nhân ra nhiều lô giống có chất lượng tốt cung cấp cho nông dân. Chọn giống có hiệu quả là
giải quyết tốt mối quan hệ phức tạp giữa các tính trạng trong cơ thể cây trồng và mối quan
hệ cũng phức tạp giữa cây trồng và môi trường để đảm bảo cho giống có năng suất cao và
ổn định, chống chịu sâu bệnh tốt, phù hợp với yêu cầu thâm canh và điều kiện sản xuất của
địa phương.
Các đặc tính của giống cây trồng được quyết định không những bởi môi trường và
sự chọn lọc ( tự nhiên và nhân tạo) đã tác động lên thành phần di truyền, mà còn được
quyết định bởi tính chất phong phú hay nghèo nàn của thành phần di truyền giống đó.
Muốn khẳng định giống mới có ưu thế hơn các giống khác thì phải qua khảo nghiệm và
V L - 04 ( TROPICA) Pháp
3.2 Sơ đồ thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB), 4 lần
nhắc lại.
Bảo vệ
Va Ia IVa IIa IIIa
IIb IVb IIIb Vb Ib
Ic IIc Vc IIIc IVc
Vd Id IIId IId IVd
Bảo vệ
Chú thích: I, II, III, IV, V là các công thức thí nghiệm tương ứng
a, b, c, d là các lần nhắc lại.
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB), 4 lần
nhắc lại.
- Số ô thí nghiệm 20 ô
- Diện tích mỗi ô 3,6m
2
- Diện tích thực hiện thí nghiệm 78 m
2
- Diện tích bảo vệ 30 m
2
15
- Diện tích toàn khu thí nghiệm 108 m
2
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm giống cây trồng Tứ Hạ, huyện Hương
Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, vụ xuân 2009.
* Các biện pháp kỹ thuật áp dụng
- Làm đất: Do bộ rễ của dưa chuột phát triển yếu nên phải làm đất kỹ: Đất đảm bảo yêu cầu
3.4.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu
* Thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn của dưa chuột
Gieo - mọc mầm
Mọc mầm - 3 lá thật
16
Mọc mầm - ra tua cuốn
Mọc mầm - phân cành
Mọc mầm - ra hoa cái đầu
Mọc mầm - thu quả 1
Thu quả 1 - thu quả 2
Tổng thời gian sinh trưởng: tính từ khi gieo đến khi thu quả cuối cùng
* Các chỉ tiêu về sinh trưởng
- Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (cm):
- Tổng số cành cấp 1,cấp 2 trên cây.
- Động thái ra lá của các giống tham gia thí nghiệm.
* Quan sát đặc điểm hình thái của các giống
- Quan sát màu sắc lá,thân, hoa, vỏ quả, gai quả
- Chiều cao thân chính tối đa, số lá trên thân chính tối đa, số cành đếm được.
* Các chỉ tiêu về giới tính
- Tổng số hoa/ cây ( hoa)
- Tổng hoa cái/ cây ( hoa)
- Tổng hoa đực/ cây ( hoa)
Tổng số hoa cái
- Tỷ lệ hoa cái (%) = x 100
Tổng số hoa
Tổng số quả thu được
- Tỷ lệ đậu quả (%) = x 100
Tổng số hoa cái
Tổng số quả thương phẩm
- Tỷ lệ cây bị bệnh (%): Số cây bị bệnh/ tổng cây theo dõi
- Tỷ lệ quả bị bệnh (%): Số quả bị bệnh / tổng số quả theo dõi
- Tỷ lệ sâu hại (%): Số cây bị sâu hại / tổng cây theo dõi
- Tỷ lệ sâu hại quả (%): Số quả bị sâu hại / tổng số quả theo dõi
Tiến hành phân cấp bệnh trên lá như sau:
Cấp 1: < 1% diện tích lá
Cấp 3: 1 - 5% diện tích lá
Cấp 5: > 5 - 25% diện tích lá
Cấp 7: > 25 - 50% diện tích lá
Cấp 9: > 50% diện tích lá
[(N1 x 1) + (N3 x 3) + +(Nn x n)]
- Chỉ số bệnh = x 100
N x n
Trong đó: N1 là số lá bị bệnh ở cấp 1
N3 là số lá bị bệnh ở cấp 3
18
Nn là số lá bị bệnh ở cấp n
N là số lá điều tra
N là số cấp bệnh cao nhất
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu
Mỗi ô theo dõi 10 cây bất kỳ ở giữa luống cố định, các chỉ tiêu về quả theo dõi 10
quả ngẫu nhiên trên luống.
- Chỉ tiêu chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng của thân chính bằng thước dây
chia độ, 7 ngày / lần.
- Chỉ tiêu về số lá đếm trực tiếp, 7 ngày / lần.
- Chỉ tiêu về hoa đếm trực tiếp, 2 ngày / lần.
- Chỉ tiêu về diện tích lá đo bằng phương pháp cân nhanh.
- Kích thước quả đo bằng thước panme.
- Trọng lượng quả dùng cân bàn nhỏ lúc thu quả từng đợt .
- Chỉ tiêu về sâu bệnh theo dõi trên mỗi ô thí nghiệm bằng quan sát trực tiếp trong suốt quá
khi gieo muốn nãy mầm cần phải có đủ 3 điều kiện đó là nhiệt độ, ẩm độ và không khí, khi
hạt hút đủ khoảng 50% lượng nước so với trọng lượng hạt thì hạt sẽ nãy mầm. Thời kỳ nãy
mầm của dưa chuột yêu cầu nhiệt độ cao, nhiệt độ trên 12
0
C hạt mới có thể nãy mầm,nhiệt
độ tối thích ở phạm vi 25- 32
0
C dưới 10
0
C hạt không mọc [Đào Mạnh Khuyến, Kỹ thuật
trồng dưa, H.NXB Nông nghiệp, 1986, tr 9]. Độ ẩm đất cũng rất quan trọng đến quá trình
nãy mầm của hạt, độ ẩm quá cao hay quá thấp đều có thể gây ra hiện tượng thối hạt. Nhiệt
độ ở độ sâu 10 cm khoảng 12- 15
0
C là thích hợp nhất đối với hạt.
Hạt của dưa chuột tương đối lớn, chứa nhiều chất dự trữ nên khả năng nãy mần rất
mạnh, tỷ lệ mọc rất cao, nhất là đối với những giống F1. Hạt nãy mầm tốt có ảnh hưởng
đến mật độ cây trồng và khoảng cách cây trên đơn vị diện tích từ đó ảnh hưởng đến năng
suất và sản lượng sau này.
Đặc trưng của thời kỳ này là kết thúc bởi sự xuất hiện của 2 lá mầm. Sự sinh trưởng
của 2 lá mầm phụ thuộc nhiều vào giống, chất dự trữ, nhiệt độ và độ ẩm đất. Có ảnh hưởng
đến đời sống của cây đặc biệt là thời kỳ cây con.[ Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm
Thị Bích Hà, Cây rau, Trường ĐHNN Hà Nội,2002, tr 202; 203]. Nghiên cứu chỉ tiêu này
có ý nghĩa quan trọng trong xác định thời gian gieo hạt một cách hợp lý nhằm cung cấp
điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của 2 lá mầm dưa chuột.
Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy tất cả các giống tham gia thí nghiệm có thời gian
nãy mầm tính từ khi gieo là 4 - 5 ngày. Chưa có sự sai khác đáng kể giữa các giống tham
gia thí nghiệm. Các giống Chaiyo578, TN404, Champ937, Amata765 trải qua thời gian
này trong 4 ngày, giống L-04 là 5 ngày. Điều này được giải thích là điều kiện về thời tiết
trong giai đoạn này thuận lợi cho sự nãy mầm của hạt. Bên cạnh đó các giống thí nghiệm
4 14 21 24 27 41 65
L-04
5 13 18 21 30 42 67
* Thời kỳ mọc mầm - 3,4 lá thật
Sau khi mọc mầm cây bắt đầu chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh trên
mặt đất đến quá trình sinh trưởng. Giữa các giống bắt đầu có sự sai khác đáng kể về thời
gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng.
Số liệu từ bảng 4.1 cho chúng tôi nhận xét sau
Giống có thời gian xuất hiện 3 lá thật sớm nhất là TN 404 và L -04 (13 ngày sau mọc
mầm) sớm hơn so với thời gian xuất hiện 3 lá thật của đối chứng - Chaiyo 578 (16 ngày
sau mọc) là 3 ngày. Giống Amata bắt đầu xuất hiện 3 lá thật 15 ngày sau mọc mầm và L -
04 là 14 ngày.
* Thời kỳ mọc mầm - ra tua cuốn
Cũng như các loại cây khác trong họ bầu bí, dưa chuột thuộc loại thân leo, ở mỗi
nách lá trên thân chính mọc ta tua cuốn. Dưa chuột có tua cuốn dạng đơn. Tua cuốn giúp
thân leo bám vào giàn, hạn chế sự đổ ngã của cây. Những giống phát triển thân lá nhanh
nhưng thời gian ra tua cuốn chậm sẽ làm cho cây dễ bị đổ ngã. Đối với những giống xuất
hiện tua cuốn sớm là điều kiện thuận lợi cho cây vươn leo theo giàn dễ dàng hơn. Tua cuốn
xuất hiện trong suốt quá trình sinh trưởng của cây. Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy thời
gian bắt đầu xuất hiện tua cuốn của các giống biến động từ 17 đến 21 ngày, trong đó giống
21
xuất hiện tua cuốn muộn nhất là giống Chaiyo 578 đ/c, và giống sớm nhất là TN 404 17
ngày sau mọc.
* Thời kỳ mọc mầm - phân cành
Sau khi ra tua cuốn cây bước vào thời kỳ phân cành. Thời gian phân cành, số cành
và số cấp cành đều do đặc tính di truyền của giống quy định. Cành hình thành nhiều hay ít,
nhanh hay chậm phụ thuộc vào giống chín sớm hay chín muộn. Ngoài ra còn chịu ảnh
hưởng của điều kiện chăm sóc trong suốt thời gian sinh trưởng của cây. Số liệu từ bảng 4.1
cho thấy các giống tham gia thí nghiệm bước vào thời kỳ phân cành cách nhau từ 1 - 4
ngày. Trong đó có 2 giống cùng bước vào thời kỳ này 21 ngày sau khi mọc mầm đó là
Giống Champ 937 có thời gian từ khi mọc mầm đến thời gian ra hoa là 27 ngày và
bằng với đối chứng. Giống ra hoa muộn nhất là giống Amata 765 31 ngày (chậm hơn so
với đối chứng là 4 ngày), giống L - 04 là 30 ngày (chậm hơn so với đối chứng là 3 ngày).
* Thời kỳ mọc mầm - thu quả đợt 1
Thu hoạch dưa chuột đúng độ chín thương phẩm có ảnh hưởng tốt đến năng suất và
phẩm chất hàng hóa. Thời kỳ thu hái dưa chuột chủ yếu phụ thuộc vào đặc tính của giống
và mục đích sử dụng. Dưa chuột quả lớn dùng làm quả tươi, cắt lát phụ thuộc vào thời gian
sinh trưởng. Giống sớm sau gieo 35 - 40 ngày thì được thu hái quả, giống trung và giống
muộn sau gieo 50 - 60 ngày thì có thể thu hái quả đợt đầu tiên. Sau khi thu hái quả nhanh
chóng chuyển màu vàng, đây là nhược điểm của một số loại giống, không phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng. Khi thu hái cần chọn thời gian và thời điểm thích hợp. Vì vậy nghiên
cứu thời gian cho quả đợt 1 giúp chúng ta có cơ sở chuẩn bị cho công tác thu hoạch, chế
biến cũng như tiêu thụ. Các công thức có thời gian thu quả đợt 1 chênh lệch nhau từ 1 - 3
ngày. Giống đối chứng có khoảng cách giữa thời gian ra hoa cái đầu và thu quả 1 là 13
ngày, giống Amata 765 và L - 04 có khoảng thời gian này là 12 ngày, giống Champ 937 là
14 ngày.
* Tổng thời gian sinh trưởng
Cũng như các loại cây trồng khác, dưa chuột trải qua chu kỳ sống từ lúc mọc mầm
cho đến khi thu quả đợt cuối cùng trong một khoảng thời gian nhất định. Khoảng thời gian
đó tùy thuộc vào giống ngắn ngày, trung ngày hay dài ngày. Tổng thời gian sinh trưởng là
cơ sở giúp người sản xuất bố trí thời vụ hợp lý cũng như các biện pháp luân canh, xen canh
giữa các loại cây trồng khác với dưa chuột.
Các giống dưa chuột mà chúng tôi sử dụng trong thí nghiệm đều là những giống
ngắn ngày, có tổng thời gian sinh trưởng, phát triển từ 65 ngày (Chaiyo 578, Champ 937,
TN 404) đến 67 ngày (giống Amata 765 và L - 04).
4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống dưa chuột
Thân cây phát triển mạnh khỏe là cơ sở cho các bộ phận khác phát triển một cách
hợp lý, tạo điều kiện cho quá trình quang hợp của cây tiến hành một cách thuận lợi. Chiều
cao thân chính là một đặc tính di truyền nó phụ thuộc vào từng loại giống và các yếu tố
ngoại tác động như chăm sóc, điều kiện dinh dưỡng. Thông thường những giống chín sớm
Thu hoạch
đợt cuối
Chaiyo578 (Đ/c)
4,64 22,22
b
55,86
b
98,50
b
120,37
b
127,26
b
Amata765
5,87 26,07
ab
58,29
b
109,06
ab
129,23
b
136,50
b
TN 404
5,35 28,20
a
73,05
a
122,65
0,05
5.6882 11.481 14.933 15.807 16.235
Số liệu từ bảng 4.2 mà chúng tôi thu được trong suốt quá trình theo dõi thí nghiệm
cho chúng tôi nhận xét:
* Thời kỳ 13 ngày sau mọc
Đặc điểm của thời kỳ này là bộ phận trên mặt đất - thân lá phát triển chậm, lá nhỏ,
lóng cây nhỏ và ngắn. Thân ở trạng thái đứng, thân thẳng chưa phân cành. Đây cũng là thời
kỳ cây bắt đầu xuất hiện 3 - 4 lá thật, khả năng quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ còn
thấp, chủ yếu là nhờ 2 lá mầm. Bộ phận dưới mặt đất phát triển tương đối nhanh cả về độ
sâu và chiều rộng, khả năng ra rễ phụ mạnh. Cây bắt đầu chuyển từ dinh dưỡng nhờ hạt
sang dinh dưỡng nhờ rễ. Cây sinh trưởng yếu, mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh, khả năng
chống chịu với sâu bệnh hại rất kém [Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà,
Cây rau, Trường ĐHNN Hà Nội,2002, tr 203]. Mặt khác trong thời gian này gặp điều kiện
khí hậu tương đối nắng nóng, độ ẩm không khí thấp nên tốc độ tăng trưởng về chiều cao
thân ở hầu hết các giống đều rất chậm. Chiều cao các giống giao động từ 4,64 cm ở giống
Chaiyo 578 đến 5,87 cm ở giống Amata 765. Các giống TN 404 đạt 5,35 cm, Champ 937
đạt 5,16 cm và L- 04 đạt 5,41 cm.
0
20
40
60
80
100
120
140
160
180
13
ngày
20