Hậu phương nam định trong kháng chiến chống mỹ cứu nước (1954 1975) - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_____________________

CAO THỊ HUẾ

HẬU PHƯƠNG NAM ĐỊNH
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 602.203.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG VĂN

Vinh – 2015


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình, em đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ của các cá nhân, tập thể và các ban ngành.
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS.
NGUYỄN TRỌNG VĂN - người đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình
học tập và thời gian nghiên cứu đề tài.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử trường
Đại học Vinh.
Em xin trân trọng cảm ơn các quý cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong quá trình sưu tầm tư liệu như: Thư viện tỉnh Nam Định, Bộ chỉ huy

vào lãnh đạo các hợp tác xã đẩy mạnh sản xuất, tập trung khai thác mở rộng đồng muối.
Nghề cá cũng được chú trọng phát triển, hàng năm đánh bắt được khoảng 7.000 đến 8.000
tấn cá....................................................................................................................................38
1.2.2. Về chính trị.................................................................................................................38
1.2.3. Về quân sự..................................................................................................................42
1.2.4. Về văn hóa - giáo dục - y tế.......................................................................................46

Chương 2........................................................................................................51
XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG NAM ĐỊNH.........................51
TRONG NHỮNG NĂM 1965 - 1975...........................................................51
2.1. Hoàn cảnh lịch sử mới và nhiệm vụ đặt ra cho quân dân Nam Định........................51
2.2. Xây dựng hậu phương................................................................................................53
2.2.1. Về kinh tế...................................................................................................................53
2.2.2. Về chính trị.................................................................................................................57


2.2.3. Về quân sự..................................................................................................................63
2.2.4. Về văn hóa - giáo dục - y tế.......................................................................................67
2.3. Bảo vệ hậu phương....................................................................................................70
2.3.1. Quân dân Nam Định góp phần đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế
quốc Mỹ...............................................................................................................................70
2.3.2. Quân dân Nam Định góp phần đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc
Mỹ........................................................................................................................................83

Chương 3........................................................................................................91
NAM ĐỊNH THỰC HIỆN NGHĨA VỤ HẬU PHƯƠNG..........................91
3.1. Nam Định thực hiện nghĩa vụ hậu phương cùng quân dân miền Nam chống Mỹ giai
đoạn 1954 – 1965..............................................................................................................91
3.2. Hậu phương Nam Định góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế
quốc Mỹ............................................................................................................................95


TU

Tỉnh ủy

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

Nxb

Nhà xuất bản


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh đầy hy sinh và gian
khổ của dân tộc đã kết thúc thắng lợi, kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ
và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc (1945 – 1975).
Thắng lợi vĩ đại đó của toàn thể dân tộc đã và đang là một hướng nghiên cứu
hấp dẫn đối với sử học. Ngoài bình diện chung của cả nước thì ở góc độ của
mỗi địa phương cũng đã được chú ý nghiên cứu, bởi mỗi địa phương là một
bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc.
Do vị trí chiến lược trọng yếu và điều kiện tự nhiên riêng của mình,
Nam Định được xác định là một căn cứ, hậu phương vững chắc trong cuộc

năm tháng chống Mỹ. Và đương nhiên, hậu phương Nam Định cũng mang
những đặc điểm chung của hậu phương lớn miền Bắc, nhưng với vị trí và đặc
điểm riêng của mình, Nam Định lại có những đóng góp rất riêng trong việc
thực hiện nghĩa vụ hậu phương.
Đặc biệt, người viết còn tham khảo một số tài liệu có liên quan trực tiếp
đến đề tài như cuốn “Nam Định - lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ 1945- 1975” của Đảng ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nam Định
(1999). Trong cuốn này các tác giả liệt kê xen kẽ các sự kiện, các cuộc chiến
đấu của bộ đội địa phương, chủ lực và dân quân tự vệ trong hai cuộc chiến
tranh chống Pháp và Mỹ ở địa phương… Tuy nhiên, các tác giả có phần
nghiêng về trình bày thành tích các trận đánh hơn là dựng lại một bức tranh
toàn diện lịch sử của cuộc chiến đấu. Gần đây nhất, năm 2001, Ban chấp hành
Đảng bộ Nam Định xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định 1930 1975” cuốn sách cũng thiên về việc ghi lại những chặng đường lịch sử vẻ


3
vang của Đảng bộ Nam Định mà ít nêu được mối quan hệ giữa hậu phương
Nam Định đối với tiền tuyến miền Nam. Tuy vậy, các cuốn sách trên cũng
cung cấp nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy về các sự kiện, con số cụ thể
để người viết sử dụng nghiên cứu luận văn của mình, ngoài những công trình
kể trên hầu hết các huyện, các xã cũng đã viết lịch sử Đảng bộ của mình.
Một số chuyên đề, hội thảo đã được tổ chức như: Hội thảo Lịch sử
kháng chiến tỉnh Nam Định (1945 – 1975), chuyên đề Báo cáo về điều kiện tự
nhiên xã hội, lịch sử, văn hóa của mảnh đất và con người Nam Định, triển
lãm hội thảo hưởng ứng ngày Truyền thống thi đua yêu nước với chủ đề Bác
Hồ với quê hương Nam Hà... Đó là những tài liệu có liên quan đến địa
phương Nam Định trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Ngoài ra, còn có những bản hồi ức và những bản viết tay, những ghi
nhớ của những người trong cuộc tuy tản mạn nhưng có giá trị tham khảo góp
thêm nhiều sự kiện làm cho lịch sử sinh động hơn, tính nhân dân rõ nét hơn.

4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Để phục vụ mục đích nghiên cứu và yêu cầu của đề tài, người viết đã
nghiên cứu, tham khảo nhiều nguồn tư liệu:
- Tài liệu gốc: Gồm có các công văn, chỉ thị, báo cáo, nghị quyết của
Đảng bộ, Chính quyền có liên quan đến đề tài được lưu trữ tại các cơ quan
của Trung ương và địa phương…
- Tài liệu nghiên cứu: Các sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu viết
về hậu phương trong chiến tranh cách mạng, các sách nghiên cứu viết về lịch
sử địa phương Nam Định.
- Tài liệu hồi cố: Các hồi ký, ghi chép của các nhà lãnh đạo trực tiếp
cách mạng Nam Định, của các nhân chứng lịch sử đã từng hoạt động cách
mạng ở địa phương.


5
- Ngoài các nguồn tài liệu thành văn còn có các tư liệu thu thập được
thông qua việc điền dã khảo sát từ các chứng tích lịch sử, các tài liệu hiện vật
và thực địa.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tuân thủ theo các phương pháp chuyên ngành: phương pháp
lịch sử, phương pháp lôgic. Ngoài ra đề tài còn có sự kết hợp của các phương
pháp như: phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp, phỏng vấn,
điều tra làm sáng tỏ vấn đề trình bày.
5. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ hơn công cuộc xây dựng và sự đóng góp của nhân dân Nam
Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nó chứng minh địa
phương Nam Định ngoài mang những đặc điểm chung của hậu phương lớn
miền Bắc, Nam Định còn có những đặc điểm riêng thể hiện sự phong phú, sâu
sắc của cách mạng địa phương và đóng góp cho tiền tuyến. Luận văn dựng lại

1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Nam Định là tỉnh nằm ở phần nam đồng bằng Bắc Bộ, phía Bắc giáp
tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông giáp tỉnh Thái Bình,
phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ. Toàn bộ đất đai của tỉnh nằm trong khoảng từ
19,57 đến 20,12 độ vĩ bắc và từ 105,32 đến 106,05 độ kinh đông, rộng chừng
1.671,6 ki-lô-mét vuông, có độ cao tương ứng giảm dần từ tây bắc xuống
đông nam.
Nam Định là mảnh đất nằm giữa hạ lưu hai con sông lớn: sông Hồng và
sông Đáy. Sông Hồng phía đông bắc của tỉnh làm thành ranh giới tự nhiên
ngăn chia địa giới giữa Nam Định và Thái Bình. Đây là dòng sông chiếm giữ
vai trò rất quan trọng cả về kinh tế và quân sự ở miền Bắc nói chung và đối
với Nam Định nói riêng. Sông Đáy chạy qua phía tây của tỉnh, làm thành ranh
giới tự nhiên ngăn chia địa giới giữa Nam Định và Ninh Bình. Sông Đào ngăn
chia hai vùng nam bắc trong tỉnh. Sông Ninh Cơ, sông Sò là giới hạn giữa các
huyện trong tỉnh. Phía Nam tỉnh Nam Định có bờ biển dài. Mấy nghìn năm
trước đây, vùng đất này còn chìm dưới nước biển. Lượng phù sa lớn theo
dòng chảy các con sông Hồng, sông Đáy bị các dãy đồi núi thuộc Ý Yên và
Vụ Bản chắn giữa làm cho lắng đọng và dồn tụ ngày càng nhiều. Theo tài liệu
khảo cổ học và sử học thì cuối thời Vua Hùng thứ 18, các bộ tộc Văn Lang
đẩy nhanh việc khai thác vùng đất mới bồi ven sông Hồng. Các di chỉ khảo cổ
học tìm được ở núi Lê, xã Tam Thanh và núi Hổ, xã Liên Minh huyện Vụ
Bản cho thấy vùng đất xung quanh các dãy núi này đã có người Việt cổ đến


8
khai thác từ sơ kỳ thời đại kim khí. Cho đến đầu công nguyên, nhiều nhóm cư
dân Việt cổ từ vùng trung du thuộc các tỉnh phía tây và phía bắc kéo xuống
phía nam, là vùng đất thấp đã được tổ chức khai khẩn, đào đất đắp đê, khắc
phục trở ngại của thiên nhiên, hình thành nên các cánh đồng và xóm làng….
Nhiều thế kỷ tiếp theo, người dân nơi đây vừa chống chọi với thiên

phủ, 18 huyện (bao gồm cả phần đất tỉnh Thái Bình). Năm 1890, Toàn quyền
Ðông Dương đã ra Nghị định tách vùng đất phía tả ngạn sông Hồng ra thành
lập tỉnh Thái Bình. Vùng đất còn lại ở hữu ngạn sông Hồng đến giáp sông
Đáy chạy xuôi ra phía biển và hàng năm được bồi lấn thêm ra biển hàng trăm
héc- ta đất, được đặt tên là tỉnh Nam Định.
Nam Định là tỉnh cửa ngõ đồng bằng Bắc Bộ. Đây là vùng đất có sông
biển bao bọc, có địa hình đa dạng với nhiều đường giao thông thủy bộ quan
trọng.
Nhìn tổng thể, đại bộ phận miền đất phía bắc của tỉnh là vùng đồng
chiêm trũng. Bên cạnh những cánh đồng ngập nước vào mùa nước lại nổi lên
các dãy đồi núi cao như: Phương Nhi, Ngô Xá, Già, Ngăm, Tiên Hương,
Báng, Lê Xá, Gôi, Hổ Sơn. Những dãy đồi núi này có độ cao trung bình từ 40
mét đến 75 mét. Xung quanh các dãy núi đồi kể trên là làng xóm xen với
những cánh đồng lúa, đồng màu tương đối bằng phẳng. Đồi núi ở phía trên,
phía dưới có dòng chảy của khe ngòi liền kề tạo nên cảnh non nước hữu tình.
Non Côi - sông Vị bao đời nay đã trở thành biểu tượng của Nam Định mà cả
nước đều biết đến.
Tại phần đất phía nam của tỉnh được phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi
đắp nên địa hình tương đối bằng phẳng, phì nhiêu. Phần lớn làng mạc xen kẽ
đồng lúa. Nhiều sông ngòi kênh mương ngang dọc phục vụ cho sản xuất và đi
lại. Được thiên nhiên ưu đãi nhưng đó cũng là công sức, mồ hôi, nước mắt và


10
cả xương máu của các thế hệ con người Nam Định trong việc quai đê, ngăn
mặn, khai phá sông ngòi, tiêu, tưới nước, vượt thổ tạo nên vùng đồng quê trù
phú, mở ấp, lập làng. Cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên ở đây là bản anh
hùng ca của nhiều thế hệ con người kế tiếp nhau. Mảnh đất này ngày càng mở
rộng bao nhiêu thì càng thu hút con người nơi khác đến đây lập nghiệp bấy
nhiêu. Họ đã hình thành một cộng đồng có chung mục đích và ý chí, đó là

những nơi hiểm yếu.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược, nhiều nhà xứ và tòa giám mục ở Nam Định bị bọn
phản động đội lốt hoặc lợi dụng tôn giáo trú náu để vạch kế hoạch thành lập
cái gọi là “tỉnh Công giáo tự trị”, phục vụ cho đế quốc thực hành chính sách
“dùng người Việt đánh người Việt”, “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”…
Như thế, tình hình tôn giáo ở Nam Định từng có thời rất phức tạp do
âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù hòng chia rẽ lương – giáo, phục vụ cho mục
đích xâm lược của chúng.
Nhân dân Nam Định có 90 phần trăm dân số làm nghề nông. Đất đai
trồng trọt ở đây phần lớn phì nhiêu dễ canh tác. Hàng năm Nam Định có thể
sản xuất một khối lượng lương thực chiếm hơn 1 phần 10 tổng sản lượng
lương thực của toàn miền Bắc với nhiều giống lúa quý cho sản lượng và chất
lượng cao…
Nam Định có nguồn lợi thiên nhiên lớn về cá biển và muối. Hàng năm,
các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng có thể đánh bắt trung bình gần
10.000 tấn cá, tôm và hàng nghìn tấn thủy hải sản khác, sản xuất hơn 70.000
tấn muối.
Nam Định có nhiều nghề truyền thống và thủ công tinh xảo, nổi tiếng
như nghề nước mắm ở Sa Châu (Giao Thủy), dệt tơ lụa ở Báo Đáp (Nam
Trực), Dịch Diệp, Phương Để (Trực Ninh), nghề rèn ở Vân Tràng (Nam


12
Trực), nghề đúc ở Tống Xá (Ý Yên), nghề mộc và chạm khắc gỗ ở La Xuyên
(Ý Yên)…
Thành phố Nam Định, trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của tỉnh,
rộng 53,3 ki-lô-mét vuông với dân số năm 1946 là 60 nghìn người, đến năm
2010 có trên 200 nghìn. Từ năm 1898, dưới tác động của chính sách khai thác
thuộc địa của thực dân Pháp, thành phố Nam Định trở thành thành phố công

Thiên Trường (nay là xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Ông
thi đỗ trạng nguyên khi mới 12 tuổi, trở thành trạng nguyên trẻ nhất trong lịch
sử khoa cử Việt Nam, tại khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16
(1247) thời vua Trần Thái Tông.
Thời nhà Lê có trạng nguyên Lương Thế Vinh (1441–1496), còn gọi
là Trạng Lường sinh tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam
(nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Là
một nhà toán học, Phật học, nhà thơ Việt Nam thời Lê sơ. Ông đỗ trạng
nguyên dưới triều Lê Thánh Tông và làm quan tại viện Hàn Lâm.
Trong các khoa thi thế kỷ XIX, làng Hành Thiện là nơi có nhiều người
đỗ đạt cao. Tính riêng con số những người thi đỗ đạt, thậm chí ở đây còn
nhiều hơn cả tổng số các tỉnh Nam Kỳ cộng lại. Dưới thời Nguyễn, nho sư –
tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh quê ở Ý Yên còn được cử làm Tế tửu Quốc Tử
Giám.
1.1.1.3. Truyền thống đấu tranh
Nam Định chứa đựng trong mình dòng máu lịch sử kiên cường, là đất
có truyền thống thượng võ. Từ những năm đầu công nguyên, nhân dân nhiều
nơi trong tỉnh đã đứng dưới cờ nghĩa Hai Bà Trưng đánh quân xâm lược. Đền
thờ ghi công Thục Côn công chúa ở xã Lộc Vượng thành phố Nam Định còn
lại đến ngày nay đã là một trong số những dẫn dụ về sự tham gia của nhân
dân Nam Định vào phong trào khởi nghĩa Hai Bà Trưng.


14
Những năm 776 – 779, Phùng Hưng đã lấy các huyện Đại An, Ý Yên
làm căn cứ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Đường (Trung Quốc).
Thời vua Đinh Tiên Hoàng, tướng quân Trần Lãm – bố nuôi của Đinh
Bộ Lĩnh là người đất Giao Thủy đã giữ vững cửa biển Kỳ Bố và lập nhiều
chiến công giữ nước, được triều đình phong tặng “Phụ lục quốc chính Thượng
Công”.

bại nửa triệu quân Nguyên vào tháng 6 năm 1285.
Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên lại chia làm ba đạo đánh vào nước
ta. Nhưng ngay trận đầu, bọn xâm lược đã bị tiêu diệt lớn ở Vân Đồn. Khi
tiến vào chiếm thành Thăng Long, chúng lại gặp cảnh vườn không nhà trống
và liên tục bị vây hãm. Tháng 3 năm 1288, Thoát Hoan ra lệnh rút lui. Đầu
tháng 5 năm 1288, toàn bộ quân địch rút theo đường thủy bị chôn vùi tại sông
Bạch Đằng. Toán quân bộ rút theo đường Lạng Sơn cũng bị thất bại nặng nề.
Thoát Hoan phải mở đường máu mới thoát chết. Thắng lợi vĩ đại của cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên của nước Đại Việt vào thế kỷ XIII có công
lao to lớn của con em nhân dân tỉnh Nam Định.
Quân Minh xâm lược nước ta, chúng kéo đến vùng đất Nam Định,
người đàn bà làng Ngọc Chuế, xã Yên Nghĩa, huyện Ý Yên đã có nhiều mưu
kế giúp nghĩa quân Lam Sơn tập kích thành Cổ Lộng thuộc xã Yên Thọ, diệt
nhiều tên xâm lược. Bà được vua Lê phong là Kiến quốc Phu nhân.
Khi thực dân Pháp vào xâm chiếm Việt Nam, Đốc học Nam Định là
Phạm Văn Nghị đã dâng tấu “Trà Sơn kháng sở”, xin tổ chức một đội quân
tình nguyện vào Nam chống quân Pháp xâm lược.
Năm 1860, đoàn quân 65 người do Phạm Văn Nghị chỉ huy tuy chưa
trực tiếp đánh địch nhưng đã biểu lộ khí phách kiên cường của người Nam
Định trước họa xâm lăng.
Năm 1873, giặc Pháp đem quân đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất. Đốc
học Phạm Văn Nghị trong khi phòng giữ bờ biển đã chỉ huy quân sĩ nã phát
súng thần công đầu tiên vào tàu giặc khi chúng đang theo sông Đáy vào đến
ngã ba Độc Bộ. Lúc thành phố Nam Định thất thủ, Phạm Văn Nghị chiêu mộ


16
được 7 nghìn nghĩa sĩ xây dựng căn cứ ở vùng Ý Yên, Phong Doanh, Thanh
Liêm, tiếp tục chiến đấu.
Giặc Pháp chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai, chính sách đô hộ của chúng đã

niên trong tỉnh đã lên tới hàng trăm người.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thống nhất
lại thành Đảng Cộng sản Viêt Nam, sau gọi là Đảng Cộng sản Đông Dương
và Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên Nam Định cũng được đổi
thành Tỉnh Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Nam Định.
Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng ở địa phương, phong trào đấu
tranh chống Pháp của các tầng lớp nhân dân dâng lên không ngừng. Từ ngày
17 tháng 8 đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Nam Định, các lực lượng chính trị, vũ trang tuyên truyền của tỉnh từ thành
phố đến các huyện, xã đã kịp thời nắm bắt thời cơ, chủ động, tổ chức tốt lực
lượng lòng cốt, vận động lôi cuốn hàng nghìn quần chúng nhân dân đứng lên
khởi nghĩa giành chính quyền. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm
1945 giành chính quyền trên quê hương Nam Định khẳng định truyền thống
yêu nước bất khuất của người dân Nam Định luôn luôn được giữ gìn và phát
huy trong mọi hoàn cảnh.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1946 1954), Nam Định là địa bàn đông người nhiều của, bị giặc chiếm đóng, chia
rẽ lương – giáo, nhưng trong mọi hoàn cảnh, các tầng lớp nhân dân Nam Định
luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng từng bước phát triển lực lượng, đoàn
kết nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược. Thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp tạo nên nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ quân và dân Nam
Định tiếp tục tiến lên giành nhiều chiến công to lớn, khi đất nước đấu tranh
chống xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân Nam Định lại kế tục truyền thống
yêu nước và cách mạng của cha ông trong lịch sử, ra sức xây dựng và bảo vệ


18
quê hương để Nam Định trở thành hậu phương vững chắc của cuộc kháng
chiến, đảm bảo chi viện tối đa sức người sức của cho tiền tuyến đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược.
1.1.2. Nam Định trở thành hậu phương của cuộc kháng chiến

phương chiến lược. Khẳng định vai trò to lớn của hậu phương, J.V.Xtalin
viết: “Không có quân đội nào trên thế giới không có hậu phương vững chắc
mà chiến thắng được (cố nhiên là chúng ta nói một cuộc chiến thắng bền vững
lâu dài). Hậu phương có một tầm quan trọng bậc nhất với tiền tuyến. Chính
hậu phương và chỉ có hậu phương mới cung cấp cho tiền tuyến chẳng những
nhu cầu đủ mọi loại, mà còn cả binh lính, cả tình cảm lẫn tư tưởng nữa. Hậu
phương không vững chắc, nhất định sẽ biến những đội quân ưu tú nhất và cố
kết nhất thành một đám quần chúng không vững vàng và hèn yếu”. [65; 369].
Có hậu phương vững mạnh tức là có nguồn cung cấp sức người, sức
của cho tiền tuyến; có hậu phương vững mạnh tức là có nguồn sức mạnh
tinh thần cho người chiến sĩ ngoài mặt trận. Ngược lại, nếu hậu phương
không vững chắc sẽ ảnh hưởng đến tinh thần và khả năng chiến đấu của
quân đội. J.V.Xtalin khi viết về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên
Xô đã từng khẳng định: “Một quân đội không có hậu phương vững chắc thì
thế nào? Chẳng đáng kể gì hết. Những đội quân lớn nhất, những đội quân
được trang bị tốt nhất thường tan rã và tiêu tan chỉ vì không có hậu phương
vững chắc, không có sự đồng tình, ủng hộ của hậu phương, của nhân dân
lao động”.
Việt Nam, một đất nước phải trải qua nhiều cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược. Hơn ai hết chúng ta hiểu rõ vai trò của hậu phương trong
chiến tranh. Đặc biệt từ khi Đảng ra đời, tiếp thu lý luận Mác- Lênin, chúng ta
đã biết rằng: muốn chiến thắng, nhất là chiến thắng những kẻ thù lớn mạnh
hơn chúng ta rất nhiều lần, trước hết chúng ta phải có một hậu phương vững


20
chắc, chúng ta không thể tay không mà đánh giặc, nhịn đói mặc rét chống
giặc trong sự thiếu thốn vũ khí. Vấn đề xây dựng hậu phương lớn, căn cứ địa
vững chắc phục vụ cho tiền tuyến lớn luôn luôn được sự quan tâm, chú ý của
Đảng ta. Cũng chính vì ý thức được vị trí của một hậu phương lớn, nên sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status