hậu phương hà tĩnh trong kháng chiến chống mỹ, cứu nước giai đoạn 1964 – 1968 - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VÕ THỊ THANH TÂM
HẬU PHƯƠNG HÀ TĨNH
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
GIAI ĐOẠN 1964 - 1968
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60 22 03 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. LÊ CUNG
HUẾ, 2014
P1
1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một
công trình khác.
Huế, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Võ Thị Thanh Tâm
P2
2
2
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Lịch
sử, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Sư phạm
Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành
luận văn này.

Quân khu IV, vừa là tiền tuyến của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa
là hậu phương gần kề của tiền tuyến lớn miền Nam, nơi đây giữ một vị trí chiến
lược quan trọng đối với chiến trường cả nước và Đông Dương. Hơn nữa, Hà Tĩnh
nằmở vị trí trung tuyến trong giao thông vận tải từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn,
là khúc giữa của đoạn cuối tuyến hành lang chiến lược có vị trí “cổ họng”,“yết
hầu”, hậu phương gần kề của chiến trường phía Tây và Nam của Quân khu IV; là
nơi sức người, sức của của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trực tiếp chi viện cho miền
Nam, Trung Hạ Lào. Vì thế, đây được xem là nơi trung tuyến, là khâu chuyển tiếp
rất quan trọng của tuyến vận tải chiến lược quân sự trong chiến tranh. Chính tầm
quan trọng đó mà trong chiến tranh phá hoại, Hà Tĩnh là một trong những địa
phương bị không quân và hải quân Mĩ đánh phá ác liệt.
Thấm nhuần lí luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, quan điểm của Đảng, Nhà
nước và thấy được tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng nên
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 - 1975), Đảng bộ, quân và dân
Hà Tĩnh đã xây dựng tỉnh nhà thành một hậu phương vững chắc, xứng tầm là một
trong những tỉnh xung yếu nằm trên tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là một
nhịp trên chiếc cầu nối miền Bắc xã hội chủ nghĩa với miền Nam và nước bạn Lào
anh em. Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, Ban Chỉ huy quân sự
tỉnh, quân và dân Hà Tĩnh đã phát huy cao độ truyền thống cách mạng, bằng ý chí
5
và sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, huy động toàn lực với đủ mọi tầng lớp
nhân dân tỉnh nhà, dốc lòng, dốc sức xây dựng hậu phương vững mạnh, vừa chiến
đấu bảo vệ quê hương, sản xuất để xây dựng hậu phương và chi viện cho tiền tuyến
miền Nam và nước bạn Lào.
Ngày nay, Hà Tĩnh đang từng ngày thay da đổi thịt, với những dự án trọng
điểm của quốc gia, chất lượng cuộc sống và con người Hà Tĩnh đã có nhiều biến đổi
so với trước và đã có những đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước trên
nhiều lĩnh vực, nhưng phải thừa nhận một sự đóng góp hết sức to lớn của Hà Tĩnh
trong cuộc chiến tranh bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc,
trong đó, sự đóng góp của Hà Tĩnh với tư cách là một hậu phương trong cuộc kháng

Lê Duẩn (1996), “Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước”, NXB
Quân đội nhân dân, Hà Nội và Trường Chinh (1975), “Cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân Việt Nam”, NXB Sự thật, Hà Nội. Cả hai cuốn sách này đều nêu bật vai
trò quyết định của nhân tố hậu phương đối với sự thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1997), “Hậu phương chiến tranh nhân dân
Việt Nam 1945 - 1975”, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội đã khái quát chung về lí luận
công tác xây dựng hậu phương trong chiến tranh và giành một phần viết về những
thành tựu của việc xây dựng hậu phương ở Quân khu IV, trong đó có tỉnh Hà Tĩnh.
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1997), “Lịch sử cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước 1954 - 1975”, tập 2, 3 và 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã trình
bày khái quát các mặt hoạt động của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
trong đó có một phần đề cập về địa phương Hà Tĩnh. Tuy nhiên, vấn đề hậu phương
trong bộ sách này chỉ nêu một cách khái quát.
Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh Hà Tĩnh (2000), “Lịch sử
Đảng bộ Hà Tĩnh”, tập II (1954 - 1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, cùng với
lịch sử Đảng bộ 9 huyện: Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi
Xuân, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang và 2 Thị xã: Thị xã Hà Tĩnh, Thị xã
Hồng Lĩnh. Ở những mức độ khác nhau các cuốn sách này đã đề cập đến hậu
phương Hà Tĩnh trong kháng chiến chống Mỹ nhưng không tập trung và chưa có
tính chất chuyên khảo.
Ngoài các cuốn sách kể trên còn có các công trình như: Đảng ủy - Ban Chỉ
huy Quân sự Hà Tĩnh(1998), “Hà Tĩnh 30 năm kháng chiến (1945 -1975)”, Ban
7
Chính trị Tỉnh đội Hà Tĩnh (1967), “Hà Tĩnh chiến đấu”, Bộ Chỉ huy quân sự Hà
Tĩnh (1994), “Hà Tĩnh kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, đã đề cập đến một phần
về công tác hậu phương. Tuy nhiên, cũng như các công trình trên những công trình
này chưa đề cập đến tất cả các mặt của công tác hậu phương ở Hà Tĩnh trong kháng
chiến chống Mỹ (1954 - 1975) cũng như là giai đoạn 1964 – 1968.
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ đã đề cập đến địa phương Hà Tĩnh ở những
nội dung khác nhau nhưng ít nhiều liên quan đến hậu phương Hà Tĩnh như: Trần

sở đó rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của công tác
hậu phương trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Muốn đạt được những mục đích đề ra ở trên, nhiệm vụ chủ yếu của luận văn
là sưu tầm, tập hợp và nghiên cứu các nguồn tài liệu có liên quan đến hậu phương ở
Hà Tĩnh trong giai đoạn 1964 – 1968 nhằm làm rõ được công tác xây dựng, chiến
đấu bảo vệ hậu phương Hà Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng thời làm
sáng tỏ sự chi viện to lớn của Hà Tĩnh đối với tiền tuyến miền Nam và Lào trong
giai đoạn 1964 – 1968. Thông qua đó, luận văn rút ra đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và
bài học kinh nghiệm của hậu phương Hà Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước giai đoạn 1964 – 1968.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgíc. Ngoài ra, chúng tôi còn kết hợp một số phương pháp chuyên
ngành khác như các phương pháp: tổng hợp, thống kê, phân tích, mô tả, so sách, đối
chiếu, liên hệ, nhằm đảm bảo tính khoa học, đánh giá chính xác và đầy đủ những
sự kiện lịch sử, những con số, số liệu cần làm rõ để làm sáng tỏ nội dung và mục
đích đề ra.
6. NGUỒN TƯ LIỆU
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này chúng tôi đã sử dụng các nguồn tư
liệu sau đây:
Nguồn tư liệu thành văn đã được công bố có liên quan đến đề tài gồm các tác
phẩm của Mác, Lê-nin, các tác phẩm và bài viết của Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo
Đảng và Nhà nước như: Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí
Thanh, bàn về chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng trong đó có vấn đề
hậu phương trong chiến tranh. Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam từ trung
9
ương đến địa phương gồm các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân
khu IV, của Đảng bộ Hà Tĩnh, Nghị quyết của Bộ Chính trị về việc tăng cường
công tác phòng không, sẵn sàng chiến đấu, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng lần thứ 11 (03/1965), lần thứ 12 (12/1965) về việc chuyển toàn bộ hoạt

trang) và phụ lục (21 trang), nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Hà Tĩnh trước chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ
(1954 - 1964) (20 trang)
- Chương 2: Hậu phương Hà Tĩnh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1965 - 1968) (42 trang)
- Chương 3: Đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm (16 trang)
12
Chương 1
HÀ TĨNH TRƯỚC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT
CỦA ĐẾ QUỐC MỸ(1954 - 1964)
1.1. Khái quát vùng đất và con người Hà Tĩnh
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hà Tĩnh cùng với các tỉnh Bắc Trung Bộ nối đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn với
dải đất miền Trung dài và hẹp. Hà Tĩnh nằm từ 17
0
53’50” đến 18
0
45’40’’ vĩ độ Bắc
và từ 105
0
5’50” đến 106
0
29’40” kinh độ Đông. Phía Đông giáp biển Đông, phía Tây
giáp 02 tỉnh Khammouan và Bolikhamxai của Lào, phía Bắc giáp Nghệ An, phía
Nam giáp Quảng Bình.
Đất đai Hà Tĩnh không rộng, diện tích toàn tỉnh có trên 6.054 km
2
, chiếm
khoảng 1,8% diện tích toàn quốc, đứng thứ 20 về diện tích trong cả nước. Hình thể
giống như một hình thang lệch, bề rộng phía Bắc là 88 km, phía Nam là 130 km,

tỉnh và các địa phương trong cả nước, các chiến trường miền Nam.
Vùng biển Hà Tĩnh rộng hơn 20.000 km2, có vị trí đặc biệt quan trọng cả về
kinh tế và quốc phòng an ninh. Bờ biển có độ dốc thấp, phần lớn là bãi cát dài thoai
thoải, đáy biển tương đối bằng phẳng, ven bờ nước có độ sâu từ 4m đến 10m, dọc
bờ biển có 4 cửa biển tạo thành nhiều vùng lõm, nhiều cửa biển có giá trị rất lớn
như cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng, cửa Khẩu. Ngoài ra, còn có các cảng biển lớn
như Xuân Hải (Nghi Xuân), Vũng Áng (Kỳ Anh – Hà Tĩnh). Khí hậu Hà Tĩnh có
hai mùa rõ rệt, mùa nắng rất thuận tiện cho việc đánh bắt hải sản và quân sự thì trái
lại mùa mưa sương mù dày đặc, bão lụt nên các hoạt động quân sự cũng gặp không
ít khó khăn.
Đồng bằng Hà Tĩnh chiếm 20% diện tích, nhỏ hẹp, kém phì nhiêu, lại bị xé
lẻ ra từng mảnh nhỏ, ngăn cách khá rõ rệt. Tuy chiếm 1/5 tổng diện tích toàn tỉnh
nhưng lại là địa bàn quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và cây công nghiệp.
Trong hòa bình cũng như lúc chiến tranh, vùng đồng bằng chính là nguồn lực chủ
yếu để huy động sức người, sức của. Vùng đồng bằng bị chia cắt bởi sông suối và
núi đồi đã tạo nên một hệ thống phòng ngự nhiều tầng, nhiều lớp. Các đồi núi thấp
xen kẽ với vùng đồng bằng là những cao điểm độc lập lợi hại trong tác chiến.
14
Hà Tĩnh có mạng lưới giao thông dày đặc bao gồm đường bộ, đường sắt,
đường thủy. Các con đường giao thông quan trọng như: Quốc lộ 1A, 15A, 8A,
đường Hồ Chí Minh, đường sắt, đường biển đều đi qua địa phận Hà Tĩnh, nối liền
hai miền Bắc, Nam của Tổ quốc. Quốc lộ 8A, qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo nối
liền các tỉnh trong địa bàn Quân khu IV với nước bạn Lào có tầm quan trọng về
kinh tế và quốc phòng.
Tài nguyên Hà Tĩnh tương đối phong phú. Rừng núi bạt ngàn là kho báu vô
giá với đủ các loại gỗ quý như lim, gụ, sến, táu, và hàng trăm loại lâm sản quý
khác, cùng với đó là các loài thú quý hiếm như voi, tê giác, hổ, báo, gấu, Xung
quanh rừng dọc theo vùng bán sơn địa ở Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương
Sơn, với những đồng cỏ trải rộng rất thuận lợi cho chăn nuôi gia súc. Dưới lòng đất
có nhiều khoáng sản như sắt, than, thiếc, titan, măng gan, phốt pho, Đây là những

thuộc huyện Hương Khê [65, tr.2-3].
Cư dân Hà Tĩnh phân bố không đều, vùng đồng bằng dọc ven sông, ven biển
tuy diện tích chỉ chiếm 20% nhưng tập trung đến 70% dân số toàn tỉnh. Ở đây có
hai tôn giáo là Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Về Thiên Chúa giáo, toàn tỉnh có 49
giáo xứ với hơn 19.000 giáo dân. Nhưng dù là người theo đạo hay không theo đạo
thì người Hà Tĩnh cũng đoàn kết, gắn bó yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong cuộc
sống và đóng góp công sức của mình trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Cư dân ở đây làm ăn sinh sống chủ yếu bằng nghề nông và một số nghề phụ
để tạo ra những sản phẩm trao đổi trong vùng và các vùng lận cận. “Trong quá
trình đấu tranh xây dựng quê hương Hà Tĩnh về các mặt, các thế hệ cư dân Hà
Tĩnh đã biến Hà Tĩnh thành một vùng văn hóa phát triển, có sự đóng góp tích cực
và độc đáo vào sự phát hiện của văn hóa dân tộc” [19, tr.2).
Hà Tĩnh là vùng đất có một nền văn hóa phát triển rực rỡ qua các thời kỳ lịch
sử. Là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, ở thời kỳ lịch sử nào cũng xuất hiện những
nhân tài như: Đại thi hào Nguyễn Du với truyền Kiều nổi tiếng, một vị danh tướng,
kiêm nhà thơ và nhà kinh tế Nguyễn Công Trứ, danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê
Hữu Trác, Phan Đình Phùng, Đặc biệt, trong thời đại Hồ Chí Minh có những nhà
cách mạng: Trần Phú, Hà Huy Tập và những nhân vật tiêu biểu như: Lý Tự Trọng,
Phan Đình Giót, [3, tr.4].
16
Văn hóa giáo dục, Hà Tĩnh có bề dày lịch sử và được mệnh danh là vùng đất
có truyền thống hiếu học. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hà Tĩnh là địa bàn
đầu tiên xóa nạn mù chữ trong cả nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi.
Văn hóa dân gian “Xứ Nghệ”, một phần là của Hà Tĩnh đã từng phát triển rực
rỡ với các thể loại rất phong phú như ca dao, tục ngữ, truyện cổ, truyện cười và các
làn điệu dân ca như hát vè, hát dặm, hát phường vải, đò đưa, tất cả đều phản ánh
sinh động cuộc sống lao động và chiến đấu, cùng những tư tưởng, tình cảm, tâm
hồn người dân xứ Nghệ. Chính vì thế mà văn học dân gian Hà Tĩnh đã góp một
phần không nhỏ vào kho tàng văn học dân gian cả nước.
Nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc Hà Tĩnh cũng có khá nhiều công trình nổi

những năm đầu khi Gia Long mới lên ngôi. Và vào nửa sau thế kỉ XIX, khi thực dân
Pháp tiến hành xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã từng bước thỏa hiệp đi đến
đầu hàng, chấp nhận sự thống trị của Pháp. Hòa chung với nhân dân cả nước, thì nhân
dân Hà Tĩnh cũng nổi dậy chống lại Pháp và cả triều đình Huế.
Tiêu biểu phải kể đến cuộc khởi nghĩa Cờ Vàng năm Giáp Tuất (1874) do
Trần Quang Cán (Đội Lưu) và Nguyễn Huy Điền (Tú Khanh) lãnh đạo với mục
đích là chống lại chế độ phong kiến đầu hàng và kẻ thù xâm lược. Chính tinh thần
đấu tranh bất khuất của nhân dân cả nước trong đó có đóng góp của nhân dân Hà
Tĩnh đã tạo động lực mạnh mẽ cho phe chủ chiến trong triều đình Huế do Tôn Thất
Thuyết đứng đầu, tiến hành cuộc tấn công quân Pháp tại kinh đô Huế vào đêm
mồng 04 rạng sáng ngày mồng 05 tháng 07 năm 1885. Chiếu Cần vương được vua
Hàm Nghi ban ra đã được nhân dân Hà Tĩnh và nhân dân ba kỳ Bắc, Trung, Nam
nhiệt tình hưởng ứng, tiếp tục đấu tranh chống lại kẻ thù. Truyền thống đấu tranh
này được phản ánh rất rõ trong các cuộc đấu tranh của Lê Ninh ở làng Trung Lễ
(Đức Thọ). Tiêu biểu phải kể đến cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng ở Hương
Sơn – Hương Khê – Hà Tĩnh kéo dài trong 11 năm. Cuộc khởi nghĩa này có một
tầm vóc lịch sử to lớn không chỉ đối với lịch sử Hà Tĩnh mà còn đối với lịch sử của
toàn dân tộc, được xem là một trong những cuộc khởi nghĩa điển hình nhất trong
phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp cuối thế kỉ XIX của dân tộc Việt Nam.
Sang đầu thế kỉ XX, Hà Tĩnh là địa bàn chủ yếu của xu hướng bạo động, là
một trong những địa phương có phong trào Duy Tân phát triển mạnh do Phan Bội
18
Châu, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, lãnh đạo. Từ những năm 20 của thế kỉ
XX, các cơ sở cách mạng ở đây dần dần được thành lập, tạo điều kiện cho sự ra đời
của các tổ chức Đảng ở Hà Tĩnh phát triển mạnh và xuất hiện những con người ưu
tú của cách mạng như Trần Phú, Hà Huy Tập. Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo
cách mạng nước ta. Từ đây, phong trào cách mạng ở Hà Tĩnh lại tiếp tục được khởi
dậy, tiêu biểu cho tinh thần đó là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh gây tiếng vang
khắp cả nước, góp phần thúc đẩy phong trào cả nước phát triển.

thành một trong những trọng điểm phải đường đầu với những âm mưu chiến lược của
Mĩ. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), mảnh đất này
luôn phải đối phó với những âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ. Nhưng người dân Hà
Tĩnh đã có một quyết tâm không gì lay chuyển chiến đấu xây dựng và bảo vệ hậu
phương và làm nghĩa vụ cho tiền tuyến miền Nam và nước bạn Lào.
Chính truyền thống vẻ vang trong chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước của
Hà Tĩnh đã sáng ngời lên trong văn hóa của mình: “Giá trị văn hóa tiêu biểu nhất
của Hà Tĩnh là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cách mạng triệt để, Trong bao
cuộc thăng trầm của lịch sử dân tộc và chống chọi với thiên nhiên, người Hà Tĩnh
bao giờ cũng biết, cũng dám đề cao lợi ích dân tộc lên trên hết, luôn luôn bám giữ,
bảo vệ và xây dựng, làm giàu thêm cho quê hương” [13, tr.1].
1.2. Tình hình Hà Tĩnh trước chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc
Mỹ (1954 - 1964)
1.2.1. Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng
Bàn về mối quan hệ giữa hậu phương và chiến tranh, các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác – Lê-nin cho rằng: “Một quân đội giỏi nhất, dũng cảm nhất cũng sẽ
bị đối phương đánh bại nếu quân đội đó không có sự chi viện của một hậu phương
vững chắc. Hậu phương có tầm quan trọng bậc nhất đối với tiền tuyến. Từ đó có
thể rút ra kết luận quan trọng là phải xây dựng, củng cố sự vững mạnh của hậu
phương, sức mạnh của hậu phương do nhiều nhân tố hợp thành, ngoài nhân tố kinh
tế, còn có những nhân tố chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, xã hội nữa. Bởi vậy,
đó là một quá trình xây dựng lâu dài, khẩn trương trong cả thời bình lẫn thời
chiến” [27, tr.1].
20
Còn quan niệm về sự vững mạnh và vai trò quyết định của hậu phương trong
chiến tranh, Mác, Ăng-ghen, Lê-nin và Stalin đều đánh giá rất cao nhân tố chính trị,
tinh thần, đồng thời nhấn mạnh đến yếu tố trang bị vũ khí. Xtalin khi nói về sự thử
thách khắc nghiệt của chiến tranh đã nhấn mạnh: “Lịch sử chiến tranh dạy rằng chỉ
có những nước nào mạnh hơn đối phương của mình về mặt phát triển và tổ chức
kinh tế, về kinh nghiệm, tài nghệ và tinh thần chiến đấu của quân đội, về tinh thần

và quốc phòng hùng hậu, có một nguồn dự trữ dồi dào để cung cấp lương thực,
súng đạn, sức người, sức của đầy đủ cho tiền tuyến” [25, tr.28]. Tổng Bí thư
Trường Chinh thì nhấn mạnh một trong những nhân tố thường xuyên của thắng lợi
trong một cuộc chiến tranh nhân dân trong thời đại của chúng ta là “hậu phương
chiến tranh nhân dân được củng cố, nguồn cung cấp nhân tài vật lực cho chiến
tranh dồi dào, chổ dựa của các lực lượng vũ trang vững mạnh” [24, tr.54].
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá tầm quan trọng của hậu phương
trong chiến tranh, đồng thời nhấn mạnh đến các yếu tố tạo nên sức mạnh của hậu
phương. Căn cứ vào tình hình cụ thể của nước ta khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh
xâm lược, Đảng đã nhận thức đúng và luôn giải quyết vấn đề của hậu phương một
cách biện chứng, luôn khẳng định: “Tuy không có nền kinh tế và trình độ khoa học
kĩ thuật bằng kẻ địch, nhưng nhân dân ta vẫn có thể đánh thắng chúng. Tính quyết
định của nhân tố hậu phương để giành thắng lợi trong chiến tranh xâm lược ở Việt
Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là ở chỗ hậu phương được xây dựng phát triển và
huy động được tới mức cao nhất, nhiều nhất sức người, sức của của toàn dân cho
cuộc kháng chiến theo yêu cầu càng đánh mạnh để đi tới thắng lợi hoàn toàn. Khi
buộc phải phát động chiến tranh cách mạng, Đảng ta hiểu rằng giá trị quyết định
của hậu phương lúc này không phải chủ yếu ở tiềm lực kinh tế và kỹ thuật” [76,
tr.296]. Chính trình độ nhân văn cao, truyền thống đoàn kết dân tộc chống ngoại
xâm sẽ tạo ra lực lượng to lớn để khắc phục những khó khăn và yếu kém về vật chất
và kỹ thuật. Sức mạnh của hậu phương trước hết nằm trong lòng dân. Chân lý này
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Lực lượng của chúng ta là hàng chục
triệu đồng bào nông dân lao động, sẵn sàng chờ Đảng và Chính phủ tổ chức và
lãnh đạo để hăng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ của phong kiến và thực
dân. Khéo léo tổ chức, khéo léo lãnh đạo thì lực lượng ấy sẻ làm xoay trời, chuyển
22
đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan” [47,
tr.155].
Trên tinh thần đó, Đảng đã đề ra đường lối, phương châm chỉ đạo cuộc
kháng chiến, trong đó xác định vai trò của hậu phương – nhân tố thường xuyên

chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, quần chúng và các lực lượng vũ trang từ tỉnh
đến cơ sở được xây dựng và củng cố vững chắc. Bên cạnh những thuận lợi đó, Hà
Tĩnh cũng đứng trước những khó khăn thử thách do hậu quả của chiến tranh để lại,
hầu hết các công trình giao thông, thủy lợi, một số cơ sở kinh tế, văn hóa đều bị hư
hỏng nặng. Công nghiệp, thủ công nghiệp chưa phát triển, nền kinh tế địa phương
chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp. Nguồn dự trữ về vật chất hầu
như không có, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.
Mùa hè 1954, Hà Tĩnh bị hạn nặng, tiếp đến lại bị lụt to, đê La Giang bị vỡ,
toàn bộ lúa mùa của các huyện Can Lộc, Đức Thọ, Hương Sơn bị ngập lụt gây thiệt
hại lớn. Nạn đói, bệnh dịch diễn ra nghiêm trọng ở nhiều địa phương trong tỉnh.
Bên cạch đó tình hình chính trị không ổn định, ở nông thôn lợi dụng tình hình khó
khăn về kinh tế, chính quyền còn non yếu, những sai lầm trong cải cách nên những
phần tử xấu trong tầng lớp địa chủ, bọn phản động nổi dậy gây ra những vụ kích
động, thổi phồng những khó khăn gây rối trật tự an ninh. Ở những vùng Công giáo,
bọn phản động cưỡng ép, xúi giục giáo dân di cư vào Nam hoặc sang Lào để ruộng
đất bỏ hoang, công cụ sản xuất bị phá hoại, trâu bò bị giết thịt. Trước tình hình đó,
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các địa phương với tinh thần phấn đấu cao, phát
huy tinh thần tự lực, tự cường từng bước khắc phục những khó khăn.
Công cuộc khôi phục kinh tế ở Hà Tĩnh được thực hiện khẩn trương và có
hiệu quả. Nhân dân cùng các lực lượng vũ trang đã bắt tay vào những trận tuyến mới
như sửa chữa cầu cống, đê điều, khai hoang, phục hóa ruộng đất, khôi phục sản xuất.
Đầu năm 1955, cả tỉnh đã đắp và sửa được 222 công trình thủy nông, toàn
tỉnh có 100.690 ha ruộng đất. Năm 1957, tổng sản lượng lúa của tỉnh đạt 144.818
tấn, năng suất bình quân là 1.384 kg/ha, cả tỉnh có khoảng 160.657 con trâu bò, 10
vạn con lợn. Ngoài ra, tỉnh còn đẩy mạnh sản xuất lâm nghiệp để cung cấp nhu cầu
kiến thiết và có hàng hóa trao đổi trên trị trường trong và ngoài tỉnh. Các ngành
công nghiệp, thủ công nghiệp được phục hồi và phát triển. Các nghề sản xuất thủ
công cổ truyền được tổ chức theo quy mô tăng dần lên, một số cơ sở sản xuất công
24
nghiệp ra đời từ trong kháng chiến nay tiếp tục được mở rộng như xưởng quân giới,

Trích đoạn Chứng minh tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân Hà Tĩnh trong truyền thống chung của dân tộc Góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đảm bảo hậu phương vững chắc, làm tốt nghĩa vụ chi viện cho tiền tuyến Khẳng định sự đúng đắn chủ trương của Đảng, Chính phủ và chính quyền các cấp ở Hà Tĩnh trong việc xây dựng hậu phương phục vụ sự nghiệp Quán triệt và kiên định đường lối của Đảng, xác định cụ thể vị trí và trách nhiệm của một tỉnh có vị trí trung tuyến từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn Xây dựng hậu phương phải đi đôi với bảo vệ hậu phương trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status