Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non tư thục thành phố thanh hóa, tỉnh thanh hóa - Pdf 33

1

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học VINH
---------------------------

LÊ THị HƯƠNG

MộT Số GIảI PHáP
NÂNG CAO CHấT LƯợNG ĐộI NGũ GIáO VIÊN ở
CáC TRƯờNG MầM NON TƯ THụC THàNH PHố
THANH HóA, TỉNH THANH HóA

Chuyên ngành: QUảN Lý GIáO DụC
Mã số: 60.14.01.14

Luận văn thạc sĩ KHOA HọC GIáO DụC
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYễN NGọC HợI

NGHệ AN, 2015

LI CM N
Lun vn tt nghip cao hc c hon thnh, tụi xin by t lũng bit
n n trng i hc Vinh v Phú giỏo s Tin S Nguyn Ngc Hi ó trc

1


2


5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.Phương pháp nghiên cứu
7. Đóng góp của luận văn.
8. Cấu trúc luận văn.
Chương 1: Cơ sơ lý luận của việc nâng cao chất lượng đội

5
5
5
5
6
6
7

ngũ giáo viên ở các trường mầm non tư thục.
1.1. Lịch sử nghiên cứu
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.3. Người giáo viên mầm non trong bối cảnh hiện nay.
1.4. Một số vấn đề về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

8
8
13
17

mầm non tư thục.
Kết luận chương 1
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng

26

3.2. Một số giải pháp nâng cao chât lượng đội ngũ giáo viên ở

71
71

các trường mầm non tư thục thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh
Hóa.
3.3.Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề

73

xuất.

101

3


4

Kết luận chương 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

105
106
106

Cán bộ quản lý
Cha mẹ học sinh
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Công nghệ thông tin
Cơ sở vật chất
Đồ dùng dạy học
Đại học
Giáo dục
Giáo dục và Đào tạo
Giáo viên
Hoạt động giáo dục
Hoạt động học tập
Học sinh
Hoàn thành chương trình
Mầm non
Phổ cập giáo dục
Phương pháp dạy học
Phương tiện dạy học
Quản lý dạy học
Quản lý giáo dục
Thiết bị dạy học


5

TTCM
SGK
XHCN

XHHGD

47

Bảng 2.6. Chấp hành các quy định của ngành.............................................................
47

Bảng 2.7.Các chuẩn mực đạo dức lối sống...................................................................
48

Bảng 2.8. Các tiêu chí về thái độ, tính đoàn kết trong quan hệ đồng
nghiệp.....................................................................................................................................
49

Bảng 2.9. Kiến thức cơ bản của giáo viên ở các trường mầm non tư thục
thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa..........................................................................
51

Bảng 2.10. Kiến thức chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non ở các trường
mầm non tư thục thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.........................................
52

Bảng 2.11.Kiến thức cơ sở ngành mầm non...............................................................
52
6


7

Bảng 2.12. Kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non.................
53




8

triển “GD&ĐT là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai” (Nghị quyết TW4 khoá 7). Để phát triển xã hội, điều quan trọng hàng đầu là sự phát triển con
người. Đảng ta khẳng định: con người là mục tiêu, là động lực của sự phát
triển. GD&ĐT có chức năng phát triển xã hội chủ yếu thông qua phát triển
con người mà con người là giá trị cao nhất, giá trị sáng tạo mọi giá trị.Hiểu
được tầm quan trọng, nên Đảng và Nhà nước ta nói chung và tỉnh Thanh Hoá
nói riêng đến nay cơ bản đã giải quyết được vấn đề thiếu GVMN. Tuy nhiên,
ĐNGV vẫn còn bất cập về cơ cấu, một số trường giáo viên trình độ tay nghề,
năng lực sư phạm không tương xứng với trình độ chuyên môn được đào tạo
và đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Đội ngũ GVMN hiện còn gặp khá
nhiều khó khăn, như điều kiện làm việc, CSVC, trang thiết bị dạy, thời gian
làm việc còn nhiều so với quy định, định biên số trẻ trên cô quá đông nhưng
giáo viên luôn phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. GDMN là bậc
học đầu tiên của hệ thống giáo dục Quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng
trong việc đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục trồng người, là nguồn nhân
lực cho tương lai của đất nước và phát triển nhân cách con người. Trong thời
đại ngày nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhằm đáp ứng
nhu cầu của xã hội, hệ thống giáo dục đào tạo và định hướng nghề nghiệp ở
Việt Nam đang có nhiều đổi mới vượt bậc. Việc phát triển nguồn nhân lực
đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một chiến lược
quốc gia trong toàn bộ chiến lược phát triển GD&ĐT. Hệ thống giáo dục nghề
nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực mà
trọng tâm là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn nhân lực.Vì vậynâng
cao chất lượng đội ngũ GVMN là nhằm đổi mới và phát triển GD&ĐT. Tại
Đại hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định, mục tiêu tổng quát của
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2011 - 2020 là: “Phấn đấu đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã

GD&ĐT tỉnh Thanh Hoá nói riêng đang có những khởi sắc mới, xây dựng
ĐNGV và cán bộ quản lý GDMN đủ về số lượng, được đào tạo để giáo viên
đạt chuẩn, củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp, bảo đảm nhu cầu gửi trẻ
tại các trường mầm non công lập, tư thục, các nhà trẻ, nhóm trẻ. CSVC các
9


10

trường được nâng cấp, cải tạo và xây mới, số trường lớp được xây dựng mới
theo chuẩn quốc gia ngày càng tăng, chất lượng GD&ĐT có tiến bộ rõ rệt.
Song bên cạnh đó vẫn còn những mặt tồn tại, yếu kém, bất cập cả về quy mô,
cơ cấu và đặc biệt là hiệu quả GD&ĐT chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi ngày
càng cao về nguồn nhân lực cho công cuộc hội nhập kinh tế, quốc tế. Vì vậy
trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XV đã nêu rõ:
“Phát huy truyền thống hiếu học, cũng cố thành quả giáo dục đạt được, khắc
phục những yếu kém trong công tác quản lý giáo dục, nhằm nâng cao chất
lượng GD&ĐT toàn diện”.
Nằm trong hệ thống GD&ĐT tạo chung của cả tỉnh nên GD&ĐT thành
phố Thanh Hóa là đơn vị luôn dẫn đầu về chất lượng và phong trào là điểm
sáng của tỉnh Thanh Hóa về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói
riêng. Giáo dục thành phố Thanh Hóa có đầy đủ những ưu điểm đã nêu trên.
Bên cạnh những ưu điểm đó,Giáo dục thành phố Thanh Hóa còn một số mặt
hạn chế:
- Chuyên môn nghiệp vụ còn chưa đồng đều, còn nhiều bất cập về chất
lượng, số lượng và cơ cấu; chưa có sự đồng bộ, chậm đổi mới đối với các
trường từ các huyện sát nhập về thành phố.
- Kiến thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Kỹ năng giảng dạy, nghiên
cứu tài liệu còn chưa nhiều.
Những mặt hạn chế của ĐNGV nói trên xuất phát từ nhiều nguyên

cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non tư thục thành phố
Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học, tính khả thi để nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non tư thục thành phố
Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN trong giai đoạn hiện nay.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
11


12

Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường mầm
non tư thục thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp có cơ sở khoa học và có
tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở các trường
mầm non tư thục thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
GVMN.
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề Nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên ở các trường mầm non tư thục thành phố Thanh Hóa, tỉnh
Thanh Hóa.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở
các trường mầm non tư thục thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
6. Phương pháp nghiên cứu

phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên mầm non.
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên ở các trườngmầm non tư thục thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh
Hóa.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở
các trường mầm non tư thục thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

13


14

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Trên phương diện nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục, các nhà xã
hội học, đặc biệt là giáo dục học đã có nhiều công lao to lớn trong việc nghiên
cứu, hoàn chỉnh hệ thống lý luận về công tác quản lý xã hội nói chung trong
đó có hệ thống lý luận về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nói riêng.
Hiện nay các công trình nghiên cứu về phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên
là một trong những nội dung vô cùng quan trọng và không thể thiếu được
trong công tác QLGD.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin thì con người vừa là điểm

nhau[39]. V.A Xu-khôm-lin-xki (1984), Một số kinh nghiệm lãnh đạo của
hiệu trưởng trường phổ thông, Lược dịch Hoàng Tâm Sơn, Tủ sách cán bộ
quản lý nghiệp vụ, Bộ Giáo dục và Đạo tạo.
Một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo mà tác giả quan
tâm thường xuyên tổ chức hội thảo chuyên môn nghiệp vụ qua đó giáo viên
có điều kiện trao đổi và đúc rút kinh nghiệm, học hỏi đồng nghiệp, trau rồi
kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ, lý luận của mình.
V.A Xu-khôm-lin-xki và Xvec-xle-rơ còn nhấn mạnh đến biện pháp dự
giờ, phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn… Trong cuốn “Vấn
đề quản lý và lãnh đạo nhà trường” V.A Xu-khôm-lin-xki đã nêu rất cụ thể
cách tiến hành dự giờ và phân tích bài giảng giúp cho thực hiện tốt và có hiệu
quả giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên[39]. V.A Xu-khôm-linxki (1984), Một số kinh nghiệm lãnh đạo của hiệu trưởng trường phổ thông,
Lược dịch Hoàng Tâm Sơn, Tủ sách cán bộ quản lý nghiệp vụ, Bộ Giáo dục
và Đạo tạo. Do đó yêu cầu về cơ cấu lại đội ngũ giáo viên để phù hợp và thích
ứng với sự thay đổi trở thành áp lực thường xuyên. Khi bàn về các điều kiện
cơ bản nhất để phát triển giáo dục như môi trường kinh tế giáo dục, chính
sách và công cụ thể chế hóa giáo dục, CSVC kỹ thuật và tài chính giáo dục,
15


16

đội ngũ giáo viên và người học thì các nhà nghiên cứu của nhiều nước đều
khẳng định giáo viên là điều kiện cơ bản nhất và quyết định sự phát triển của
nền giáo dục. Chính vì thế mà nhiều quốc gia đã đi vào cải cách giáo dục,
phát triển giáo dục thường bắt đầu bằng con đường phát triển ĐNGV.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục, dựa trên cơ cở lý
luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà
xã hội học và đặc biệt các nhà giáo dục học đã tiếp cận hệ thống lý luận quản

cường công tác xã hội hóa giáo dục và xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo, nhà
khoa học, nhà nghiên cứu cụ thể như sau:
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa IX ) đã
đề cập: “ Tập trung chỉ đạo để nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo
mà giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước
trong giáo dục và đào tạo” [13].
Sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Chính
phủ đã đề ra 8 giải pháp lớn để thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển giáo
dục 2011-2020 tiếp nối là: (1) Đổi mới quản lý giáo dục; (2) Phát triển đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; (3) Đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục; (4) Tăng nguồn lực
đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục; (5) Tăng cường gắn đào tạo với
sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu xã
hội; (6) Tăng cường hỗ trợ phát triển giáo dục đối với các giáo viên và có
chính sách xã hội; (7) Phát triển khoa học giáo dục; (8) Mở rộng và nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục; trong đó giải pháp (1) là giải pháp đột
phá và giải pháp (2) là giải pháp then chốt; Trong mỗi giải pháp lớn đều có
các chỉ tiêu cụ thể và chi tiết cần đạt được tương ứng.
Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
được chuẩn hóa, đảm báo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu; đặc
17


18

biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay
nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có


20

những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo
dục khác... Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên”[28].
- Theo Từ điển tiếng Việt – NXB Khoa học xã hội – Hà Nội, định nghĩa:
Giáo viên (danh từ) là người dạy học ở bậc học phổ thông hoặc tương đương”
[40].
Từ đó, GVMN: Điều 29, điều 30, điều 31 của Điều lệ trường mầm non
quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của GVMN như sau: Giáo viên là người
làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong trường [07].
1.2.1.2. Đội ngũ giáo viên mầm non.
Đội ngũ: Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học nêu khái niệm “Đội
ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một
lực lượng” tuy nhiên khái niệm đội ngũ sử dụng rộng rãi trong các tổ chức
như đội ngũ cán bộ công nhân viên, đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ thợ cơ
khí… Khái niệm đội ngũ được xuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức
gồm có nhiều người tập hợp thành một lực lượng hoàn chỉnh. Vì vậy, đội ngũ
có thể được hiểu là tập hợp một số người có cùng chức năng, nhiệm vụ và
nghề nghiệp. Tuy các quan niệm về đội ngũ có khác nhau nhưng chúng đều
thống nhất ở chỗ đội ngũ là tập hợp một số người thành một lực lượng, thực
hiện một hay một số chức năng, nhiệm vụ nhất định để đem về kết quả cụ thể
nào đó.
Đội ngũ giáo viên mầm non: Đội ngũ GVMN là tập thể giáo viên làm
nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ...
thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Đội ngũ GVMN là một bộ phận
rất quan trọng trong một tập thể sư phạm của trường mầm non; là lực lượng
chủ yếu để tổ chức quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục học sinh. Trong
nhà trường, chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục học sinh đạt hiệu quả

viêntrường Mầm non tư thục

21


22

1.2.3.1.Giải pháp
Theo Từ điển tiếng Việt, “giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể” [ 39; tr 387].
Còn theo Nguyễn Văn Đạm, “giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ
thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục
một khó khăn” [12; tr 325].
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một
số khái niệm tương tự như phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau của
các khái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một
công việc, một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn
mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn
mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc
có mục đích.
Theo Nguyễn Văn Đạm, phương pháp được hiểu là trình tự cần theo
trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích
nhất định” [12; tr 325].
Giải pháp có nghĩa là chỉ , vạch ra con đường để đi tới được cái “đích”
mình cần đến hay mục tiêu mong đợi,giải pháp tốt thì đến đích nhanh an toàn
giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong muốn
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này
là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể bao gồm nhiều biện pháp.

con người.
Từ những quan điểm đó ta nhận thấy giáo dục không chỉ là việc cung
cấp, bồi dưỡng tri thức, kĩ năng hay nâng cao năng lực con người, mà hơn hết
mục tiêu chính quan trọng nhất của giáo dục không gì khác chính là “dạy cách
làm người”, giúp con người bồi dưỡng tâm hồn và rèn giũa nhân cách, hoàn
thiện bản thân, có như vậy con người mới có thể phát triển toàn diện được.
23


24

Mục tiêu ấy của giáo dục không phải có thể hoàn thành một cách nhanh
chóng trong một sớm một chiều mà nó là cả một quá trình dài thưc hiện theo
những cấp độ khác nhau, từ khi trẻ được sinh ra cho đến hết cập học phổ
thông hoặc cao hơn nữa. Trong đó tập trung chủ yếu ở các cấp học Mầm Non,
Tiểu học và Phổ Thông cơ sở và tất nhiên khâu quan trọng nhất, cũng là nền
tảng cho việc hình thành những kĩ năng đầu tiên với cuộc sống, tạo dựng
những nền tảng căn sơ cho nhân cách sau này của trẻ chính là ở trường Mầm
Non. Và cũng chính bởi vậy mà chưa khi nào người thầy, người cô hay người
quản lý lại chiếm một vị trí, đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo
dục như lúc này. Bởi lẽ đây là thời kỳ quan trọng nhất của trẻ khi các em mới
chập chững làm quen với xã hội bên ngoài sự bao bọc của gia đình. Đây cũng
là thời kỳ giúp trẻ chuẩn bị những hành trang đầu tiên để bước vào đời sau
này.
Người giáo viên, quản lý trong công tác nuôi dạy trẻ không thể hiểu
theo một nghĩa thông thường. Họ là những người gánh trên vai trách nhiệm
nặng nề nuôi dạy những mầm non tương lai của đất nước. Người GVMN
không đơn giản là một người thầy mà còn là một người cha người mẹ lo toan
cho các con nhỏ từng bữa ăn, giấc ngủ, sức khỏe và giáo dục nhân cách, kỹ
năng, năng khiếu thẩm mỹ ngay từ tuổi đầu đời của trẻ. Họ thực sự trở thành

kĩ năng xã hội, thẩm mỹ. Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, và
chuẩn bị những tâm thế tốt nhất cho trẻ trước khi bước vào học trường phổ
thông. Hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, năng lực
phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa
tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho
việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học suốt đời.
1.3.1.2. Vai trò của người giáo viên mầm non
Trong bối cảnh hiện nay, giáo viên là người trực tiếp tổ chức quá trình
dạy học trên lớp và quá trình giáo dục theo nội dung chương trình của Bộ
GD&ĐT với phương pháp sư phạm nhằm đạt mục tiêu giáo dục của các cấp
học và của nhà trường, đồng thời người giáo viên là lực lượng quyết định đến

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status