Tôn trung sơn với sự ra đời và hoạt động của các tổ chức cách mạng ở một số nước chấu á - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
____________________________________________________________________

TRẦN THỊ QUỲNH TRANG

TÔN TRUNG SƠN VỚI SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở MỘT SỐ
NƯỚC CHÂU Á: NHẬT BẢN, VIỆT NAM,
SINGAPORE

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGHỆ AN - 2015

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
____________________________________________________________________

TRẦN THỊ QUỲNH TRANG

TÔN TRUNG SƠN VỚI SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở MỘT SỐ
NƯỚC CHÂU Á: NHẬT BẢN, VIỆT NAM,
SINGAPORE

Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 60.22.03.11


MỤC LỤC
Trang

4


A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi cả dân tộc Trung Hoa đang mò
mẫm tìm con đường đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nửa phong kiến, nửa
thuộc địa thì trên vũ đài chính trị Trung Quốc xuất hiện một nhà cách mạng tư
sản yêu nước đi theo con đường cách mạng dân tộc dân chủ - đó chính là Tôn
Trung Sơn. Xuất phát từ bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế lúc đó, cộng
với những kinh nghiệm cách mạng quý báu mà ông đúc rút được trong cuộc
đời hoạt động cách mạng của mình, đến năm 1905, Tôn Trung Sơn đã đưa ra
một học thuyết cách mạng vĩ đại: Chủ nghĩa Tam dân, với ba nội dung lớn:
Chủ nghĩa dân tộc, Chủ nghĩa dân quyền, Chủ nghĩa dân sinh. Đây cũng
chính là đường lối lý luận cơ bản làm nền tảng chỉ đạo thành công cuộc Cách
mạng Tân Hợi (1911).
1.2. Trong phong trào cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến chuyên
chế, thành lập nền cộng hòa ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, cộng
đồng người Hoa và Hoa kiều ở nước ngoài, đặc biệt là một số nước châu Á
như Nhật Bản, Việt Nam, Singapore có vai trò và đóng góp một phần vô cùng
to lớn. Để có được kết quả đó, do những điều kiện lịch sử khác nhau, Tôn
Trung Sơn đã bôn ba hải ngoại để tiến hành các hoạt động cách mạng. Một
trong những hoạt động cách mạng quan trọng của ông phải kể đến là hoạt
động thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn. Trên chặng đường
gian khó ấy, ông đã thành lập được những cơ sở cách mạng lớn, mà trước hết
là ở một số nước châu Á, với trung tâm cách mạng lớn thứ nhất là Nhật Bản,

hôm qua và vị thế hôm nay'' của Châu Thị Hải (xuất bản năm 2006) và
''Trung Quốc cách mạng Đồng Minh Hội và các nhóm cộng đồng người Hoa
ở Đông Nam Á'', Nghiên cứu lịch sử, số 5, 1991, tr.82-88, đã hệ thống lại
tương đối đầy đủ quá trình xuất hiện và vận động của cộng đồng người Hoa ở
khu vực Đông Nam Á... trong đó, tác giả đề cập khái lược đến một số hoạt
động của Tôn Trung Sơn và tổ chức Đồng Minh Hội ở Việt Nam giai đoạn
đầu thế kỷ XX;
2


Tập trung nhất là những bài viết đăng trong các kỷ yếu khoa học, nhân
dip kỷ niệm các năm chẵn Cách mạng Tân Hợi, như:
- Kỷ yếu ''Hội thảo khoa học kỷ niệm lần thứ 80 cuộc Cách mạng Tân
Hợi (1911-1991)'' ( tư liệu tại Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội);
- Vào năm 2001, nhân kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tân Hợi, Trung tâm
nghiên cứu Trung Quốc thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc
gia (nay là Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội
Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo khoa học chào mừng với chủ đề ''Cách mạng
Tân Hợi 90 năm sau nhìn lại (1911-2001)''. Nội dung hội thảo khoa học đã
được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản vào năm 2002;...
Bên cạnh đó, cũng đã có một số luận văn cao học nghiên cứu về các
khía cạnh có liên quan, như luận văn Thạc sĩ Đông phương học của tác giả
Chu Thùy Liên: ''Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và ý nghĩa lịch
sử'', Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, năm 2005;
Nguyễn Văn Hồng (1996), "Tôn Trung Sơn với Chủ nghĩa tam dân nhìn từ
dòng chảy lịch sử'' , Nghiên cứu Trung Quốc, số 6, tr. 74 - 84. Hay những
nét cụ thể về bối cảnh lịch sử Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
đã được đề cập đến trong luận văn cao học ''Sự chuyển biến kinh tế - xã hội
ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dưới tác động của chủ nghĩa

Hương (2011), “Về sáu lần Tôn Trung Sơn đến Việt Nam hoạt động cách
mạng”, Nghiên cứu Lịch sử, số 5(421), tr. 53 - 58; Nguyễn Thị Hương
(2012), “Những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn ở Việt Nam”,
(Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cách mạng Tân Hợi 100 năm nhìn lại, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội); Nguyễn Thị Hương (2015), “Về nguyên nhân
Tôn Trung Sơn đến Việt Nam tiến hành các hoạt động cách mạng”, Tạp chí
nghiên cứu Trung Quốc, số 4 (164), tr. 52-57; Nguyễn Thị Hương (2015),
“Về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Nhật Bản”, Tạp
chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8. Những công trình này cho thấy một cách
rõ nét về hoạt động và tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn ở ba trung
tâm cách mạng lớn của Trung Quốc ở các nước Châu Á (Nhật Bản, Việt
Nam, Singapore).

5


Hay Cuốn '' Tôn Trung Sơn với Hoa kiều'' của Nhâm Qúy Tường, Nhà
xuất bản Nhân dân Hắc Long Giang năm 1998. Trong đó, đã đề cập đến tình
hình người Hoa và Hoa kiều trên thế giới cũng như sự phân bố của họ khắp
năm châu. Đồng thời, đề cập đến những hoạt động cách mạng của Tôn Trung
Sơn và sự ủng hộ của lực lượng Hoa kiều đối với Tôn Trung Sơn ở hải ngoại.
Ngoài ra, phải kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn tiến sĩ đề cập đến
các vấn đề liên quan. Đặc biệt là luận án của tác giả Nguyễn Thị Hương (Học
viện Khoa Học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2011)
"Hoạt động của Tôn Trung Sơn và tác động của nó đối với phong trào cách
mạng trong cộng đồng người Hoa và Hoa kiều ở Việt Nam (cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX)''. Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Ánh Linh (Trường Đại
học Vinh, 2005) ''Vai trò của Tôn Trung Sơn đối với cách mạng Trung Quốc
trong những năm 1984 - 1925''... Nội dung của các luận văn, luận án nghiên
cứu về các khía cạnh có liên quan như; tư tưởng cách mạng dân tộc của Tôn

dân tộc của Tôn Trung Sơn, cũng như những điều kiện thuận lợi để Tôn
Trung Sơn sang các nước châu Á hoạt động cách mạng để kêu gọi, tìm kiếm
sự ủng hộ của Hoa Kiều ở đây và các nước sở tại. Từ đó thấy được các tác
động tích cực đến quá trình tiến hành cách mạng Tân Hợi.
- Khái quát về những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn, nhất là
những hoạt động thành lập các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản, Việt Nam,
Singapore và hưởng ứng nó một cách có hiệu quả để phục vụ mục đích cách
mạng dân tộc dân chủ.
- Phân tích, đánh giá nhằm thấy được tác động của các tổ chức cách
mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Nhật Bản, Việt Nam, Singapore đối với
cách mạng Trung Quốc. Cũng như xem xét sự đóng góp của cộng đồng người
Hoa và Hoa kiều vào công tác xây dựng các tổ chức cách mạng ở mỗi một
nước, so sánh vai trò và sự đóng góp của cộng đồng này đối với từng tổ chức
ở mỗi nước để thấy được mức ảnh hưởng của sự hình thành các tổ chức cách
mạng ở đây đã góp phần vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc
như thế nào.

7


4. Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tuợng nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài Tôn Trung Sơn với sự thành lập các
tổ chức cách mạng ở một số nước châu Á, chúng tôi tập trung nghiên cứu về
cuộc đời, tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn, đồng thời đi sâu nghiên
cứu về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở ba trung tâm của
cách mạng tư sản Trung Quốc ở châu Á là Nhật Bản, Việt Nam, Singapore.
Sở dĩ tìm hiểu theo trình tự như vậy bởi vì, Lúc gặp khó khăn khi hoạt động ở
trong nước, Tôn Trung Sơn đặt chân đến Nhật Bản nhằm kết nối cộng đồng
người Hoa và Hoa kiều tiến tới thành lập các tổ chức cách mạng; sau khi sức

Singapore. Và để có cái nhìn toàn diện, chúng tôi còn nghiên cứu về những
hoạt động của Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc.
Về phạm vi thời gian: Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nguồn tư liệu tiếng
Việt tương đối phong phú như các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu khoa
học, Internet, các ấn phẩm chuyên sâu, các tập kỷ yếu hội thảo, một số luận
văn và luận án, ngoài ra còn có các nguồn tư liệu khác như tư liệu về tiếng
Trung...
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp lịch sử và phương
pháp logic. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác: định
lượng, thống kê, so sánh để giải quyết các vấn đề mà luận văn đưa ra.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện, rõ
ràng, có hệ thống về cuộc đời, sự nghiệp chính trị của Tôn Trung Sơn, đặc
biệt là những hoạt động thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn
ở một số nước Châu Á. Qua đó để góp phần khẳng định vai trò to lớn của ông
đối với Trung Quốc.
- Luận văn góp phần giúp người đọc hiểu hơn về một giai đoạn lịch sử
đầy thăng trầm của lịch sử Trung Quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
9


- Những tư liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu có thế dùng làm tài
liệu phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học khi tìm
hiểu về nhân vật Tôn Trung Sơn nói riêng và lịch sử Trung Quốc nói chung.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:

phương Tây lúc bấy giờ. Với những kiến thức, hệ tư tưởng mới tiến bộ cũng
như việc tiếp cận một cuộc sống tốt hơn đã khiến Tôn Trung Sơn dần có sự
đối sánh với thực trạng Trung Hoa, và nảy sinh quyết tâm nâng cao địa vị dân
tộc, hướng đến chế dộ dân chủ. Cũng nơi đây ông có điều kiện để chuẩn bị
cho mình một hành trang, một công cụ đắc lực như vốn tiếng Anh thông thạo
để nhằm thuận lợi về sau cho việc nghiên cứu các học thuyết chính trị, kinh tế
phương Tây trong quá trình hoạt động cách mạng sau này.

11


Sau thất bại của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Trung - Pháp
(1884), hành vi chuyên chế, mục nát của nhà Mãn Thanh ngày càng biểu hiện
rõ nét. Nhận thức rõ về điều đó, Tôn Trung Sơn quyết tâm đấu tranh chống lại
chính quyền Mãn Thanh. Trong thời gian học tại trường Y Bác Tế Quảng
Châu, tiếp đó là Trường Y Anh Văn(Học viện Tây Y) ở Hồng Kông(Hương
Cảng), ông thường lấy học đường làm nơi cổ động. Sau khi tốt nghiệp, Tôn
Trung Sơn tới Ma Cao, Quảng Đông để một mặt ông hành nghề y nhưng mặt
khác ông bắt đầu tổ chức hoạt động cách mạng. Với mục đích trước mắt là
chữa bệnh cứu người, song thực sự sâu xa hơn nữa là chữa bệnh cứu nước
thông qua việc tuyên truyền tư tưởng chống lại chính quyền Mãn Thanh đến
mọi tầng lớp nhân dân.
Trước tình hình chính quyền thối nát, lòng người căm phẫn, Tôn Trung
Sơn liền tới Honolulu sáng lập ra Hưng Trung Hội. Tháng 10/1895, Tôn
Trung Sơn phát động cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Quảng Châu, tuy nhiên kế
hoạch bị bại lộ, Tôn Trung Sơn buộc phải bôn ba hải ngoại. Và đây cũng là
thời gian ông có điều kiện lưu lại châu Âu để nghiên cứu khảo sát tình hình
chính trị, kinh tế, xã hội và kết giao với các bậc hiền tài. Trên cơ sở ấy, chủ
nghĩa Tam dân của ông từng bước hình thành và hoàn chỉnh.
Năm 1900, phong trào nông dân Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ, Chính phủ

tháng 8/1912. Ngay sau đó, Tôn Trung Sơn phát động cuộc cách mạng lần thứ
hai nhằm lật đổ Viên Thế Khải. Cách mạng thất bại, Quốc dân Đảng về cơ
bản bị Viên Thế Khải giải tán, Tôn Trung Sơn phải lưu vong sang Nhật Bản.
Tại Nhật Bản, ông quyết định tổ chức Đảng Cách mạng Trung Hoa vào tháng
6/1914, lập kế hoạch trở lại cầm quyền.
Đang bế tắc chưa tìm ra được con đường đi phù hợp cho đất nước
mình, thì vào thời điểm đó Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ, đã làm thức
tỉnh Tôn Trung Sơn, từ đó ông nhận thấy con đường đi mới cho Trung Quốc.
Cũng chính sự trưởng thành và phát triển nhanh chóng của phong trào cách
mạng vô sản Trung Quốc thông qua Cuộc vận động Ngũ Tứ diễn ra năm 1919
và sự thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921, khiến ông có nhận
thức mới đối với lực lượng cách mạng. Từ đây, Tôn Trung Sơn bắt đầu có
những thay đổi lớn về tư duy và thế giới quan.

14


Với sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đó, đã
như mở ra cho ông thấy một con đường mới, một hướng đi mới, góp phần
thắp sáng niềm tin ở trong ông, thắng lợi của cuộc cách mạng ấy nó có tác
động mạnh mẽ tới Tôn Trung Sơn, khiến ông như tìm lại được con đường giải
phóng cho chính dân tộc mình. Tiếp đó, ông đã thực hiện nhiều biện pháp
nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi những khó khăn trước đó.
Sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng cách mạng của Tôn Trung
Sơn tới lúc này đã biểu hiện một cách rõ nét, khi Tôn Trung Sơn tiến hành
thành lập Trường quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu nhằm xây dựng lực
lượng quân đội nhà nước.
Trên đà tiến lên của sự nghiệp cách mạng, vào những năm cuối đời Tôn
Trung Sơn tích cực đấu tranh nhằm xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng mà
trước đó Trung Quốc đã ký với nước ngoài.

Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đứng đầu; gia nhập Hội Hồng môn hải
ngoại...
Tiếp đó ở khu vực Bắc Mỹ, ông cũng đã lưu lại một thời gian và tại
đây không chỉ thành lập tổ chức mà còn cải tạo Trí Công Đường. Đặc biệt ở
Đông Nam Á, người Hoa và Hoa kiều đóng một vị trí và vai trò quan trọng
trong sự nghiệp cách mạng của Tôn Trung Sơn. Trong vòng hơn 10 năm(từ
năm 1900 đến năm 1911), ông bảy lần đến Đông Nam Á, thời gian hoạt động
và di chuyển ở khu vực này khoảng 3 năm 10 tháng [17, tr.62]. Cụ thể, Tôn
Trung Sơn đã mười một lần đến Singapore; năm, sáu lần đến Malaysia và
Việt Nam; hai lần đến Thái Lan... [12, tr.105]. Thời gian lưu lại và phạm vi
hoạt động, Tôn Trung Sơn đã tạo lập được mối quan hệ mật thiết với những
phần tử tinh anh trong số người Hoa và Hoa kiều yêu nước ở đây. Và dưới
ảnh hưởng của ông, họ trở thành lực lượng trung kiên trong mọi hoạt động
cách mạng. Đồng thời, Tôn Trung Sơn cũng chuyển Đông Nam Á thành căn
cứ và trung tâm cách mạng, là nơi trù hoạch và phát động nhiều cuộc khởi
nghĩa quan trọng.
Nhằm phát huy tinh thần yêu nước của người Hoa và Hoa kiều, mà
theo Tôn Trung Sơn, họ chính là những người có thể ủng hộ, tham gia và là
16


chỗ dựa cho sự thành công của cách mạng, tổng cộng ông đến với họ với độ
dài bằng 4 lần đi vòng quanh trái đất. Ông đi đến đâu, đến khắp các nơi trên
thế giới mà có lực lượng này sinh sống và đặc biệt chú ý tới việc giáo dục
tuyên truyền và thành lập các tổ chức cách mạng ở đó.
Khi Tôn Trung Sơn mới bắt đầu sự nghiệp cách mạng, bất luận là quần
chúng trong nước hay người Hoa ở hải ngoại đều không hiểu. Họ chỉ biết
rằng “cách mạng”, “tạo phản”, phản đối hoàng đế là “đại nghịch bất đạo”.
Ông nhận thấy, sự nghiệp cách mạng của mình nếu muốn được mọi người
ủng hộ, tất yếu phải bắt đầu từ việc tác động vào nhận thức để họ hiểu được

Hoa kiều ở châu Âu ngày càng dâng cao.
Với việc tích cực triển khai tuyên truyền, thành lập các tổ chức cách
mạng đó trong cộng đồng người Hoa và Hoa kiều thì ông đã nhanh chóng lôi
kéo được một lực lượng hùng hậu đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của
mình. Được sự trợ giúp lớn về vật lực, tiền của cũng như lực lượng nòng cốt
của người Hoa và Hoa Kiều mà các tổ chức hoạt động ngày càng có hiệu quả
cao, là lực lượng quan trọng giúp Tôn Trung Sơn có thể tiến hành cách mạng.
1.2. Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Ở thời điểm Tôn Trung Sơn sinh ra và lớn lên cũng là lúc Trung Quốc
đang bị các liệt cường xâu xé. Chủ nghĩa đế quốc tranh nhau buộc Trung
Quốc phải mở cửa, cắt đất, bồi thường chiến phí. Lớn lên trong bối cảnh lịch
sử như vậy, Tôn Trung Sơn được tận mắt chứng kiến cũng như phải trực tiếp
chịu đựng sự bóc lột này. Do đó, ông sớm nhận thức được sự tủi nhục, đau
xót của một người dân mất nước, bị tước đoạt quyền tự do sinh kế. Hơn thế
nữa, lòng tự trọng và ý thức dân tộc của ông bị tổn thương sâu sắc, Đây chính
là những nhân tố cơ bản đưa tới sự hình thành tư tưởng cách mạng của ông về
sau.
Từ thủa thiếu thời, dưới sự giáo dục của trường tư thục tại quê nhà,
Tôn Trung Sơn được học tập nhiều tri thức của nền học thuật phong kiến
Trung Quốc. Ông đặc biệt say mê lý tưởng xã hội đại đồng, “thiên hạ đều là
của chung"(thiên hạ vi công) trong các kinh điển Nho giáo.

18


Song ảnh hưởng lớn hơn cả đối với ông lại chính là phong trào nông
dân Thái Bình Thiên Quốc, một phong trào đạt tới đỉnh cao nhất của cuộc
chiến tranh nông dân ở Trung Quốc, Tôn Trung Sơn bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi
tư tưởng chủ nghĩa xã hội nông nghiệp không tưởng: “Ai cũng có ruộng cùng
cày, có cơm cùng ăn, không nơi nào không đồng đều, không người nào không

tuyệt đối không thể dựa vào bất kỳ sự cải cách nào của chính quyền phong
kiến Mãn Thanh, mà phải đi bằng con đường bạo lực cách mạng.
Xuất phát từ nhu cầu lịch sử nói trên, muốn giải phóng dân tộc khỏi sự
xâm lược của chủ nghĩa đế quốc cần phải có một hệ thống lý luận và tư tưởng
cách mạng thống nhất. Kế thừa và bổ sung những khiếm khuyết của các
phong trào đi trước, cùng với thực tiễn cách mạng của mình, Tôn Trung Sơn
đã xây dựng nên một học thuyết cách mạng mới phù hợp với tình hình xã hội
Trung Quốc lúc bấy giờ. Đó chính là Chủ nghĩa Tam dân - tiền đề lý luận
giúp cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản giải phóng dân tộc ở Trung Quốc
phát triển giành thắng lợi...
Chủ nghĩa Tam dân ra đời trong xã hội Trung Quốc phong kiến nửa
thuộc địa ở thời đại đế quốc chủ nghĩa. Nó là sản phẩm của phong trào giải
phóng dân tộc dân chủ, mang tính chất tư sản kiểu cũ. Nội dung của Chủ
nghĩa Tam dân gồm 3 phần: Chủ nghĩa Dân tộc, Chủ nghĩa Dân quyền và
Chủ nghĩa Dân sinh.
1.2.1. Chủ nghĩa Dân tộc
Chủ nghĩa dân tộc là vấn đề được Tôn Trung Sơn đề cập đến đầu tiên
trong hệ thống học thuyết cách mạng Chủ nghĩa Tam dân của mình.
Ngay trong bài giảng đầu tiên về vấn đề dân tộc ngày 27/1/1924, căn
cứ vào tình hình tập quán xã hội trong lịch sử Trung Quốc, Tôn Trung Sơn đã
khẳng định rằng, ở Trung Quốc “chủ nghĩa Dân tộc là chủ nghĩa Quốc tộc"
[31, tr. 50]. Ông nhận thức sâu sắc rằng, từ xưa đến nay, cái mà Trung Quốc
sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, mà ở Trung Quốc chỉ
tồn tại hai loại chủ nghĩa này mà không hề có sự hiện diện của chủ nghĩa quốc
tộc. Nguyên nhân của các điều này là ở người Trung Quốc nói chung chỉ có
chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, không có chủ nghĩa quốc tộc. Đối với
20


gia tộc và tông tộc, người Trung Quốc luôn có sức liên kết vô cùng mạnh. Để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status