Sự ra đời và hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam trong những năm 1944 - 1964 - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Phạm Thị Mai Thủy

Sự ra đời và hoạt động của Đảng Dân chủ Việt
Nam trong những năm 1944 - 1964

Luận văn ThS. Lịch sử: 5 03 15

Nghd. : PGS. TS. Phạm Xanh
lớp trí thức, như một thực thể phát triển có quy luật, có vai trò tích cực đặc
thù của nó. Nghiên cứu tất cả những khía cạnh đó sẽ góp phần về lý luận và
thực tiễn cho công tác vận động, tập hợp lực lượng, tăng cường sức mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay và sau này
của đất nước.
Việc đánh giá cho đúng ý nghĩa những hoạt động của Đảng Dân chủ
Việt Nam trong tiến trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, việc nhìn nhận khách quan vai trò của Đảng Dân chủ trong hệ
thống chính trị với các chính đảng và đoàn thể khác trong Mặt trận, việc xem
xét thực tế diễn biến hoạt động của Đảng Dân chủ trong lịch sử cách mạng
Việt Nam còn cung cấp những chứng cứ khoa học xác thực, góp phần vạch
trần các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam
dưới nhiều hình thức, đặc biệt quan trọng trong tình hình thế giới đầy biến
động như hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi quyết định tập trung nghiên cứu
sự ra đời và hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam làm đề tài cho luận văn
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, nghiên cứu về Đảng Dân chủ Việt Nam hầu như chưa
được đi sâu mà mới chỉ giới thiệu một cách khái quát, sơ lược trong các giáo
trình Lịch sử Việt Nam. Hai cuốn sách "Ba mươi năm đấu tranh của Đảng
Dân chủ Việt Nam" và "Bốn mươi tư năm hoạt động và cống hiến của Đảng
Dân chủ Việt Nam" do Ban Nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn tư liệu lịch sử
của Đảng Dân chủ Việt Nam ấn hành cũng chỉ giới thiệu về lịch sử ra đời,
hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam hết sức khái quát và sơ lược. Năm
1991, Luận văn tốt nghiệp khoa lịch sử của sinh viên Đỗ Anh Dũng- Trường
Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn)
cũng mới chỉ dừng lại nghiên cứu "Một thập kỷ hoạt động đầu tiên của Đảng
Dân chủ Việt Nam, 1944-1954" .
3. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VIỆT NAM
1.1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam những năm 1939-1945.
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, hai ngày sau, ngày 3-9-
1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức, chiến tranh thế giới lần thứ Hai bắt
đầu. Chiến tranh thế giới nổ ra chi phối đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của
tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Tháng 6-1940, nước Pháp bị phát xít
Đức đánh bại và chiếm đóng. Nhân cơ hội đó, phát xít Nhật nhảy vào Đông
Dương. Ngày 22 -9-1940, Nhật Bản cho quân vượt biên giới Việt-Trung
đánh vào Lạng Sơn, đồng thời cho 6.000 quân theo đường biển đổ bộ lên Đồ
Sơn (Hải Phòng), thực dân Pháp chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng đầu hàng
và dâng Đông Dương cho Nhật. Từ đó nhân dân Việt Nam sống kiếp "một cổ
hai tròng".
Thực dân Pháp, tuy bị Nhật khống chế, nhưng chúng vẫn thẳng tay đàn
áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta và tăng cường bóc lột, vơ vét sức
người sức của. Đồng thời chúng thực hiện nhiều âm mưu xảo quyệt, thực
hiện nhiều biện pháp tuyên truyền lừa bịp, phản động nhằm ngăn chặn phong
trào yêu nước của nhân dân ta, xoa dịu lòng căm phẫn của nhân dân ta đối
với chúng bằng cách tung ra các thuyết phản động "Cần lao, Gia đình, Tổ
quốc", "Pháp- Việt phục hưng", "Pháp Nam thân thiện". Nhằm mê hoặc
thanh niên Việt Nam, làm sao nhãng nhiệm vụ cứu nước, tên thực dân
Đuycơroa dựng lên một phong trào thể dục thể thao rầm rộ trên toàn cõi
Đông Dương với khẩu hiệu bịp bợm "Đoàn kết và khoẻ để phụng sự". Chúng
còn thi hành một số "cải cách", tung ra dư luận "tân hoá chế độ" để mua
chuộc, lừa bịp giới trí thức, sinh viên, công chức, quan lại mắc vào bả quan
trường làm tay sai cho chúng.
Còn phát xít Nhật, sau khi xâm lược Việt Nam và Đông Dương, chúng
đã thi hành một âm mưu vô cùng thâm độc, tuyên truyền lừa bịp nhân dân ta
bằng thuyết "Da vàng, đồng chủng, đồng văn" và chủ nghĩa "Đại Đông Á", tổ
chức và nâng đỡ các đảng phái chính trị thân Nhật hoạt động như: Đại Việt
dân chính, Đại Việt quốc xã, Đại Việt Quốc dân Đảng, Việt Nam thống nhất

Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông địa chủ, tư bản
bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận,
thu góp toàn lực, đem tất cả ra giành độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan
giặc Pháp-Nhật xâm chiếm nước ta. Sự liên minh tất cả lực lượng các giai
cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc
chống Pháp-Nhật, đó là công việc cốt yếu của Đảng ta.". {41, 112-113}
Trước đây, vấn đề dân tộc được Đảng ta đặt trong phạm vi toàn Đông
Dương, song Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám (tháng 5-
1941) chỉ đặt vấn đề đó trong khuôn khổ mỗi nước Việt Nam, Lào, Cam- pu-
chia nhằm phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự cường của mỗi dân tộc, đồng
thời cũng không ngừng tăng cường tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù
chung của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương. Đảng ta cho rằng, phải vận
dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, để "làm sao đánh thức
được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam)
" {41, 112}. Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết
định thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, lấy tên là "Việt Nam Độc
lập Đồng minh" (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) nhằm đoàn kết và tập hợp
mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo đứng lên
chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc.
Ngày 6 tháng 6 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư kêu gọi
đồng bào đoàn kết, đứng lên đấu tranh cứu nước. Người viết "Trong lúc
quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại
đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi
lửa nóng" {49, 198}. Tháng 10-1941, Tổng bộ Việt Minh công bố Tuyên
ngôn, Chương trình và Điều lệ, nói rõ tôn chỉ, mục đích của mình:" Liên hiệp
hết thảy các từng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu
hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Nhật -
Pháp giành quyền độc lập cho xứ sở " {49, 149}. Mặt trận Việt Minh chính
là một tổ chức quần chúng rộng rãi bao gồm các đảng phái chính trị, các đoàn
thể đại diện cho các giai tầng xã hội, các giới, các hội nghề nghiệp và các

Thời kỳ này trong giới trí thức đã hình thành nhiều nhóm và tổ chức
khác nhau như nhóm tập san "Khoa học" ở Hà Nội, nhóm báo "Thanh niên"
ở Sài Gòn, Tổ chức hướng đạo, Hội truyền bá quốc ngữ, nhóm tạp chí
"Thanh nghị", Tổng hội Sinh viên Đông Dương…
- Tổ chức Hướng đạo của Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, trừ một số
ít là tay sai của Pháp- Nhật, còn phần đông anh em ghét Pháp, ghét Nhật,
nhưng họ cũng không có phương hướng hoạt động rõ rệt, chỉ xoay quanh
những hoạt động hợp pháp.
- Hội Truyền bá Quốc ngữ do Nguyễn Văn Tố làm Hội trưởng có một
số người có cảm tình với cách mạng, với mặt trận Việt Minh nhưng trước sự
khủng bố gay gắt của Pháp - Nhật, sự chiến đấu gian khổ của những người
cách mạng, họ còn tỏ ra do dự.
- Nhóm trí thức cấp tiến Thanh Nghị do những cựu sinh viên của trường
Đại học Đông Dương gồm Phan Anh, Vũ Đình Hòe, Vũ Văn Hiền…đứng
đầu, với những trăn trở phụng sự đất nước bấy lâu nung nấu tâm can, tháng
5/1941 họ cho ra đời báo Thanh Nghị- Tạp chí văn chương-chính trị và kinh
tế xuất bản từ tháng 5/1941 đến tháng 8/1945. Tờ báo đặt ra và nghiên cứu
nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội thiết yếu đối với công cuộc kiến thiết
quốc gia trong tương lai.
- Nổi lên trong đó là nhóm của ông Dương Đức Hiền được hình thành
từ đầu năm 1941 gồm những trí thức đã tốt nghiệp các trường Đại học Luật,
Y, Dược, Khoa học, Nông Lâm và những sinh viên người Bắc, Trung, Nam
bộ hoạt động trong Tổng hội Sinh viên Đông Dương. Họ là những người có
tinh thần yêu nước, có tình cảm dân tộc nồng nàn, chán ghét chế độ thống trị
của thực dân Pháp và căm thù sự xâm lược tàn bạo của phát xít Nhật, có ý
thức vận động phong trào yêu nước và muốn tìm con đường đấu tranh cứu
nước, giải phóng dân tộc.
Hoạt động của nhóm trí thức Dương Đức Hiền trong buổi đầu là những
hình thức hợp pháp, mang đặc trưng của giới thanh niên, học sinh, sinh viên.
Ngày hội sinh viên họ tổ chức diễu xe hoa, manơcanh hóa trang làm tưng

diễn những vở kịch lịch sử chống ngoại xâm như vở "Đêm Lam Sơn", "Nợ
Mê Linh", hăng hái hoạt động xã hội, đi vào các xóm đồng bào nghèo truyền
bá quốc ngữ, pháp luật Những hoạt động này được giới trí thức, sinh viên,
học sinh, viên chức, tư sản dân tộc ở Sài Gòn- Chợ Lớn, Mỹ Tho, Cần Thơ
ủng hộ và hăng hái tham gia.
Hoạt động của nhóm trí thức Dương Đức Hiền ở ngoài Bắc cũng như ở
trong Nam là những hoạt động tuy mang tính chất tự phát, chưa có nội dung
cách mạng sâu sắc, nhưng đã góp phần khơi gợi lòng yêu nước, tinh thần tự
hào dân tộc, ý thức chống xâm lược, chống chế độ cường quyền bất công,
yêu thương đồng bào trong giới trí thức, sinh viên, học sinh, viên chức, tư
sản dân tộc và đã gây được tiếng vang trong một số thành phố. Chính quyền
thực dân Pháp lo sợ, tìm cách đối phó bằng nhiều thủ đoạn: mua chuộc, lôi
kéo, doạ dẫm, kiểm duyệt gắt gao nội dung các vở kịch, các bài diễn thuyết,
cho tay chân đi kích động chia rẽ, khủng bố Sở Liêm phóng Hà Nội đã gọi
ông Dương Đức Hiền đến để đe doạ, bọn Đại Việt Nguyễn Tường Tam, bọn
Quốc Dân đảng Vũ Hồng Khanh cũng đã gặp gỡ ông để thuyết phục, lôi
kéo Song chúng đã không ngăn cản được anh em tiếp tục hoạt động.
Trong quá trình hăng hái hoạt động như vậy, một vấn đề cấp bách
thường xuyên đặt ra cho anh em trong nhóm trí thức Dương Đức Hiền suy
nghĩ, bàn bạc là: Hoạt động của nhóm như thế cũng chỉ là những hoạt động
có tính chất xã hội, công khai, hợp pháp, sẽ giải quyết được những vấn đề gì
cho nước, cho dân? Làm thế nào để đánh đuổi bọn thực dân Pháp, phát xít
Nhật, giành lại độc lập, tự do, cơm áo cho đồng bào? Phải đi theo con đường
nào, phải dựa vào lực lượng nào? phải đoàn kết với những ai để có sức mạnh
đấu tranh, đạt được nguyện vọng? và anh em vẫn chưa thấy rõ đường đi.
Lúc này Đảng Cộng sản Đông Dương thực hiện chủ trương: tranh thủ,
vận động trí thức, tư sản dân tộc và các tầng lớp trung gian ở thành thị (nhất
là ở các thành phố lớn) ngả theo cách mạng, ủng hộ mặt trận Việt Minh.
Đảng đã chú ý đến hoạt động của nhóm trí thức Dương Đức Hiền và cử cán
bộ đến gặp gỡ, đưa chương trình hoạt động, điều lệ tổ chức của Mặt trận Việt

Đoàn đi đến thị xã Ninh Bình thì bị bọn mật thám Pháp bắt giữ và đưa
trở lại Hà Nội, giam tại nhà pha Hoả Lò. Nhưng sau những trận tra hỏi,
không lấy được chứng cứ gì để trị tội, bọn chúng phải thả ra, anh em lại tiếp
tục lên đường về Nam.
Các anh em còn lại ở ngoài Bắc hoạt động rất tích cực và ngày càng
tập hợp được nhiều người có cùng chí hướng. Trước điều kiện chủ quan và
khách quan đã chín muồi, ngày 30 tháng 6 năm 1944, ông Dương Đức Hiền
đã bí mật triệu tập một cuộc họp gồm 8 người: luật sư Dương Đức Hiền, bác
sĩ Nha khoa Nguyễn Dương Hồng, nhà thơ, kỹ sư canh nông Cù Huy Cận,
bác sĩ Huỳnh Bá Nhung tại một lớp học của trường Hoài Đức sơ tán (để
tránh các trận oanh tạc của máy bay quân đồng minh đánh phá các cơ sở
quân sự của Nhật ở Hà Nội) tại làng Thanh Xuân, cách thị xã Hà Đông 2 km,
nằm ngay ven đường Hà Đông đi Hà Nội. Cuộc họp bí mật này đã quyết định
thành lập một tổ chức cách mạng, đặt tên là "Việt Nam Dân chủ Đảng" (sau
đổi tên là Đảng Dân chủ Việt Nam) và thông qua Cương lĩnh, Chương trình
hành động, Điều lệ đầu tiên của Đảng.
Trong Điều lệ Đảng Dân chủ Việt Nam ghi rõ:
"- Tôn chỉ: Đoàn kết thảy những người Việt Nam tiên tiến, không phân
đẳng cấp, thành tâm liên minh với các lực lượng cách mạng chân chính của
dân tộc Việt Nam để làm cho quốc gia Việt Nam được hoàn toàn độc lập và
thực hiện chủ nghĩa tân dân chủ trên đất Việt Nam.
- Điều kiện gia nhập Đảng: Muốn vào Đảng phải là người Việt Nam
giàu lòng yêu nước, không phân biệt nam nữ, đẳng cấp, nghề nghiệp, tín
ngưỡng"
- Nguyên tắc tổ chức: Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung,
nghĩa là:
+ Các cơ quan chỉ huy cấp nào đều do đại biểu cấp ấy bầu ra.
+ Tất cả các chủ trương hoặc công việc đều quyết định theo sự thoả
thuận của đa số.
- Hệ thống tổ chức:

Về Khôi phục độc lập, Chương trình hành động đã xác định: Đấu tranh
giành độc lập dân tộc trông cậy phần chính vào tinh thần đấu tranh của quốc
dân. Đảng liên hợp với các lực lượng cách mạng khác trong nước huy động
quần chúng nổi dậy cho tới khi quốc gia hoàn toàn độc lập. Một phần nữa
dựa vào sự liên kết với các nước dân chủ chân chính.
Về kiến thiết quốc gia, chương trình hành động nêu rõ: quyền lợi và
nhiệm vụ của nhân dân và tổ chức quốc gia:
- Nhân dân được quyền tự do, dân chủ như tự do ngôn luận, hội họp, họp
đoàn, xuất dương Những tự do ấy sẽ được pháp luật bảo đảm. Có quyền
bình đẳng nam, nữ, binh lính, thường dân, giầu, nghèo, mỗi công dân đều
được giáo dục hoàn bị, sinh sống đầy đủ và tham dự chính quyền.
- Nghĩa vụ của nhân dân phải trọng luật pháp và quyền lợi của quốc gia;
dự vào việc quốc phòng.
Về tổ chức quốc gia: Chính thể lấy nguyên tắc dân chủ tập trung làm căn
bản. Trong chính thể ấy, quyền quản trị địa phương (làng, tổng, huyện, tỉnh)
thuộc quyền hội đồng địa phương do dân trực tiếp bầu ra. Quyền quản trị
toàn quốc do Quốc hội, đại biểu quốc hội do toàn dân trực tiếp bầu ra.
- Quốc phòng: Thi hành luật cưỡng bách đầu quân. Chú trọng việc giáo
dục quân đội.
- Kinh tế: Bảo vệ, khuyếch trương canh nông, kỹ nghệ, thương mại.
Quốc hữu hoá đại kỹ nghệ và kỹ nghệ quốc phòng.
- Giáo dục: Cải cách chế độ giáo dục để nâng cao trình độ trí thức của
quốc dân và phổ cập học thức trong tất cả các tầng lớp nhân dân. Mở các
trường chuyên môn, binh bị, đại học. Tổ chức du học ngoại quốc. Tổ chức
bình dân giáo dục. Miễn học phí cho hết thảy học sinh
- Xã hội: Đảm bảo cho nhân dân có việc làm tương ứng với tài đức của
mình, được hưởng số lương đúng với giá trị công việc, đảm bảo cho người
công nhân sinh sống đầy đủ {5}.
Cùng với việc xây dựng hệ thống tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến cơ
sở, tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung (các cơ quan chỉ huy cấp nào

chính trị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam
(tháng 2- 1951) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Đảng lại giúp cho những
anh em trí thức tiến bộ thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam, thu hút những
người thanh niên trí thức và công chức Việt Nam và làm mau tan rã hàng
ngũ bọn Đại Việt thân Nhật". {54, 158}
Trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử nước ta những năm đầu thập kỷ 40
của thế kỷ XX, việc phân hoá, tranh thủ được các tầng lớp trung gian ở thành
thị, giác ngộ, giúp họ nhận rõ bộ mặt xâm lược tàn bạo, xảo quyệt, thâm độc
của kẻ thù, ngả hẳn về hàng ngũ đấu tranh của nhân dân là một yêu cầu quan
trọng và rất cấp bách của cuộc vận động cách mạng. Phân hoá, tranh thủ
được các tầng lớp ấy sẽ tạo thêm được lực lượng làm thất bại chính sách
nguy hiểm của phát xít Nhật với chủ thuyết "Đại Đông Á" bịp bợm và luận
điều tuyên truyền xảo quyệt cho Việt Nam độc lập giả hiệu của chúng, đánh
bại âm mưu của thực dân Pháp hòng lợi dụng ảnh hưởng cũ, mua chuộc, lôi
kéo những tầng lớp có quan hệ với chúng để làm cơ sở xã hội hòng tiếp tục
duy trì ách thống trị trên đất nước ta. Đồng thời vạch rõ bộ mặt đê hèn, bán
nước hại dân của các đảng phái phản động như "Đại Việt" tay sai của Nhật,
"Quốc Dân Đảng" tay sai của Tưởng Giới Thạch, tay sai của Pháp, cô lập cao
độ kẻ thù Nhật, Pháp và những bọn phản động ngoan cố nhất, tạo thêm
những điều kiện thuận lợi tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành
công.
Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời chính là biểu hiện một cách sinh động sự
gặp gỡ giữa một bên là yêu cầu khách quan của cách mạng, sự cần thiết phải
mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc, tập hợp thêm lực lượng yêu nước trong
các tầng lớp trung gian ở thành thị, và một bên là một số người trong các tầng
lớp ấy đã trải qua một quá trình phân hóa tiến bộ, luôn trăn trở trước vận
mệnh của đất nước và lựa chọn đường đi. Đồng thời, nó mang một ý nghĩa
chính trị sâu sắc, biến chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sản
Đông Dương, của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khả năng thành hiện thực.
Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời và hoạt động góp phần mở rộng và

HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VIỆT NAM
THỜI KỲ 1944-1954
2.1. Góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám - 1945.
Sau khi thành lập và gia nhập vào Mặt trận Việt Minh, với tư cách một
chính đảng cách mạng, Đảng Dân chủ Việt Nam đã nhanh chóng phát triển
về mọi phương diện, xây dựng và củng cố tổ chức thích ứng với yêu cầu
nhiệm vụ chính trị cụ thể của mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng nước
ta.
Trong thời kỳ chuẩn bị và tiến hành cách mạng tháng Tám 1945, yêu
cầu vận động, tranh thủ, đoàn kết các tầng lớp trung gian ở thành thị ủng hộ
và tham gia cách mạng là yêu cầu quan trọng, cấp thiết trước mắt. Để góp
phần tích cực thực hiện yêu cầu đó, Đảng Dân chủ Việt Nam đã nhanh chóng
xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động trên cả nước, nhất là ở các thành
phố, thị xã.
Ở Bắc bộ, Đảng đã xây dựng tổ chức hoạt động ở Hà Nội, Hà Đông,
Sơn Tây, Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Yên, Hồng
Gai, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Tuyên
Quang, Yên Bái, Bắc Giang, Bắc Ninh.
Ở Nam Bộ, trước cách mạng tháng Tám, các anh em trí thức, sinh viên
trong nhóm Dương Đức Hiền về hoạt động ở Sài Gòn đã xây dựng tổ chức
tiền thân là "Tân dân chủ đoàn". Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công,
từ tổ chức tiền thân này phát triển và xây dựng tổ chức thành các Đảng bộ
Đảng Dân chủ Việt Nam ở các tỉnh và thành phố: Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần
Thơ, Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Sa Đéc, Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh,
Vĩnh Long, Mỹ Tho, Tân An, Rạch Giá, Long Xuyên, Châu Đốc, Sóc Trăng,
Hà Tiên.
Ở Trung Bộ, từ cuối năm 1945, Đảng đã cử cán bộ vào phối hợp với địa
phương tuyên truyền, vận động, xây dựng tổ chức ở các tỉnh và thành phố:
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ
An, Thanh Hoá.

đó tức là vô tình làm lợi cho địch và kêu gọi họ xuống đường đấu tranh để là
nhiệm vụ lịch sử của mình.
Tờ báo Độc lập đã cùng với các tờ báo của Đảng Cộng sản Đông
Dương, Mặt trận Việt Minh như "Cờ giải phóng", "Cứu quốc" v.v nâng cao
tính chiến đấu trên mặt trận tư tưởng, vũ trang thêm lý luận cho cán bộ và hội
viên các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận làm công tác tuyên truyền, vận
động cách mạng. Báo Độc lập đã phát huy tác dụng thực sự trong các tầng
lớp trung gian thành thị, nhất là ở Hà Nội và Hải Phòng.
Những bài luận văn như "Gấp tiến tới Tổng khởi nghĩa", bài "Mệnh
lệnh khởi nghĩa của Việt Minh", "Nghị quyết của Đảng Dân chủ Việt Nam
hưởng ứng tổng khởi nghĩa" cùng các bài nhạc "Tiến quân ca" (Văn Cao),
"Du kích ca" (Đỗ Nhuận), "Thanh niên cứu quốc ca" (Nguyễn Đình Thi) đã
gây thêm chất men hào hùng cho không khí tiền khởi nghĩa, thúc giục, động
viên các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, công chức, học sinh, sinh viên hăng hái
tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, đồng chí Dương Đức Hiền tham gia
đoàn đại biểu của Tổng hội Việt Minh do đồng chí Hoàng Quốc Việt dẫn đầu
sang Quảng Tây (Trung Quốc) theo lời mời của đại diện Chính phủ Tưởng
Giới Thạch ở Hoa Nam để bàn việc hợp tác chống Nhật.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) các đồng chí lãnh đạo của
Đảng Dân chủ đã bí mật triệu tập một cuộc hội nghị nghiên cứu bản Chỉ thị
"Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Đảng Cộng sản
Đông Dương để nắm rõ tình hình và phương hướng hành động. Với chiến
lược đề ra là: tích cực lột mặt nạ và đập tan các hạng Việt gian đầu hàng
Nhật, đặc biệt là các nhóm Đại Việt, các Đảng viên đã đi xuống các địa bàn,
chỉ đạo các cơ sở Đảng, tích cực tuyên truyền, vận động những người trí
thức, sinh viên, viên chức và cả những người thuộc tầng lớp trung gian khác
tham gia đấu tranh vạch trần bộ mặt cướp bóc của Nhật và thuyết "Đại Đông
Á" bịp bợm của chúng, kiên quyết chống chính phủ bù nhìn tay sai của Nhật
với nền độc lập giả hiệu và vạch mặt bọn bán nước, hại dân của các đảng

Nhà hát lớn vào chiều ngày 17-8 để ủng hộ Chính phủ bù nhìn Trần Trọng
Kim đang hoang mang, rệu rã, Uỷ ban Khởi nghĩa quyết định biến cuộc mít
tinh ấy thành cuộc mít tinh của quần chúng ủng hộ cách mạng. Chiều hôm
đó, đông đảo hội viên các đoàn thể cứu quốc ở nội và ngoại thành, các đồng
chí Đảng viên Đảng Dân chủ và các đội tuyên truyền xung phong Dân chủ
Đảng, đội tuyên truyền xung phong Hoàng Diệu, đội tuyên truyền thanh niên
xung phong đã được huy động đến nhà hát thành phố. Cuộc mít tinh vừa
khai mạc thì cờ đỏ sao vàng xuất hiện, các đội viên tuyên truyền xung phong
Việt Minh xông lên giành lấy diễn đàn, thông báo tin quân Nhật đã đầu hàng
đồng minh vô điều kiện, kêu gọi đồng bào ủng hộ Việt Minh khởi nghĩa. Một

Trích đoạn Đảng Dân chủ Việt Nam thời kỳ xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng Đảng Dân chủ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1946-1954. Đảng Dân chủ Việt Nam trong thời kỳ xây dựng miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ-Diệm ở miền Nam (1955-1960) Đảng Dân chủ Việt Nam thời kỳ 1961-1964.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status