class="bi x0 y0 w0 h1"
Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan do Chính phủ thành lập trong hệ thống tổ chức của Bộ Công Thương
có nhiệm vụ thực thi Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh về Bảo vệ người tiêu dùng, Pháp lệnh Chống bán phá giá,
Pháp lệnh Chống trợ cấp và Pháp lệnh tự vệ.
Với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 01 năm
2006, Cục Quản lý cạnh tranh hoạt động nhằm mục tiêu thúc đẩy và duy trì môi trường cạnh tranh hiệu quả
cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và
người tiêu dùng.
Lãnh đạo Cục Quản lý cạnh tranh gồm một Cục trưởng do Thủ tướng bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ Công Thương, và một số Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ nhiệm.
Thúc đẩy tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả
Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng trước
những hành vi hạn chế cạnh tranh
Chống các hành vi phản cạnh tranh
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hỗ trợ cho ngành sản xuất trong nước phòng, chống các vụ
kiện bán phá giá, trợ cấp và tự vệ của nước ngoài.
CƠ CU T CHC CA CC QUN LÝ CNH TRANH - B CÔNG THƯƠNG
B CÔNG THƯƠNG
CC QUN LÝ CNH TRANH
CỤC QUẢN LÝ
CẠNH TRANH
Lãnh đạo Cục
Ban Điều tra vụ việc
hạn chế cạnh tranh
Ban Điều tra và xử lý
các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh
Ban Giám sát và quản
lý cạnh tranh
Ban Xử lý chống bán
TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN
Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại
PGS. TS. LÊ DANH VĨNH
Thứ trưởng Bộ Công Thương
GS. TS. HOÀNG ĐỨC THÂN
Đại học Kinh tế Quốc dân
PGS. TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
Viện Nhà nước và Pháp luật
TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH
Viện Nhà nước và Pháp luật
TS. HỒ TẤT THẮNG
Phó Chủ tịch Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam
TS. VŨ THÀNH TỰ ANH
Giảng viên, Phó giám đốc phụ trách nghiên cứu
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Cng tác viên nưc ngoài
LÊ THÀNH VINH, Nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật
ĐH Monash, Australia
DANIEL VANHOUTTE, Đại học Tự do, Bỉ
T chc sn xut và phát hành
TRUNG TÂM THÔNG TIN CNH TRANH (CCID)
25 Ngô Quyền - Hà Nội
ĐT: (04) 2220 5009 * Fax: (04) 2220 5303
Đi din ti TP. H Chí Minh
Số 159 Kí Con, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
ĐT: (08) 3914 6297 * Fax: (08) 3914 6298
Email:
Chu trách nhim xut bn
VŨ BÁ PHÚ
Phát hành ti
Thực tế trên bước đầu cho phép rút ra một nhận xét rằng số
doanh nghiệp biết về Luật Cạnh tranh vốn đã rất ít; trong số tỷ lệ
ít ỏi đó họ chủ yếu biết qua con đường được học trong giảng
đường đại học. Ở đây phải nói đến vai trò của cơ quan quản lý nhà
nước trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật cần phải được
đẩy mạnh trong thời gian tới. Tuy nhiên, phải chăng doanh nghiệp
chưa quan tâm khi chưa có “va chạm lợi ích” cụ thể của họ? Và “văn
hoá” sử dụng công cụ Luật cạnh tranh như là 1 phương tiện bảo vệ
lợi ích của doanh nghiệp còn chưa được hình thành?
Điều này càng được thể hiện qua những trao đổi rất “sơ khai”
của doanh nghiệp và hiệp hội trong cuộc hội thảo “VAI TRÒ CỦA
HIỆP HỘI TRONG VIỆC THÚC ĐẨY MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH LÀNH
MẠNH” do VCAD phối hợp với JICA tổ chức tại Hà Nội ngày
03/3/2009. Đặc biệt, sự “lỗ mỗ” trong nhận thức của cộng đồng về
Luật Cạnh tranh còn được thể hiện trong những bình luận thiếu
chính xác về những quy định và về những hành vi vi phạm Luật
Cạnh tranh trong những bài viết được đăng trên các phương tiện
truyền thông sau đó.
Những bất cập từ thực tế trên đặt ra yêu cầu gắn kết chặt chẽ
hơn nữa mối liên hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh
tranh và cộng đồng trong thời gian tới dưới nhiều hình thức. Nhờ
đó, kiến thức về pháp luật cạnh tranh của cộng đồng xã hội được
từng bước nâng lên để doanh nghiệp và hiệp hội một mặt tránh
những vi phạm Luật do thiếu hiểu biết, mặt khác sử dụng Luật
Cạnh tranh như một công cụ bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệp
mình.
Ban Biên tp
V C A D
4
CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
lành mạnh Nhật Bản (Japan Fair
Trade Commision) đã tổ chức hội
thảo với chủ đề “Vai trò của doanh
nghiệp và hiệp hội trong việc thúc
đẩy môi trường cạnh tranh lành
mạnh”.
Tham dự Hội thảo có Ông Vũ Bá
Phú, đại diện Lãnh đạo VCAD, Ông
Yasuhiro Toyo Đại diện của tổ chức
JICA tại Việt Nam, Ông Katsumi Taka-
hashi đại điện Ủy ban thương mại
lành mạnh Nhật Bản và đông đảo đại
diện đến từ các hiệp hội ngành nghề,
doanh nghiệp và các cán bộ của
VCAD.
Tại hội thảo, các đại biểu đã được
nghe đại diện của các Ban Điều tra
các vụ việc hạn chế cạnh tranh, Ban
Điều tra và xử lý các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, VCAD trình
bày giới thiệu tổng quan về Luật
Cạnh tranh của Việt Nam, các văn
bản hướng dẫn, các quy định liên
quan đến hiệp hội và những hành vi
của hiệp hội có thể dẫn đến vị phạm
Luật Cạnh tranh cũng như vai trò của
hiệp hội trong việc góp phần tạo môi
trường cạnh tranh lành mạnh.
Ông Katsumi Takahashi, chuyên
gia của Cục điều tra, Ủy ban thương
nói riêng đã có được nhận thức rõ
ràng hơn đối với các hoạt động của
hiệp hội, tránh tình trạng vi phạm
luật mà không biết mình đã vi phạm,
đặc biệt là các hành vi thỏa thuận ấn
định giá, lạm dụng vị trí thống lĩnh,
vị trí độc quyền,… Trong thời gian
tới, các đại biểu tham dự hội thảo sẽ
là những hạt nhân phổ biến những
kiến thức, kinh nghiệm của mình từ
hội thảo tới cộng đồng doanh
nghiệp thuộc hiệp hội mình, góp
phấn tạo ra môi trường cạnh tranh
hiệu quả hơn tại Việt Nam.
CCID
Hội thảo
“VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP VÀ HIỆP HỘI TRONG VIỆC
THÚC ĐẨY MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH LÀNH MẠNH”
HOẠT ĐỘNG TRONG KỲ
V C A D
6
CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
Số 3 - 2009
HOẠT ĐỘNG TRONG KỲ
T
rong khuôn khổ Dự án hợp tác
giữa VCAD và Cơ quan hợp tác
Quốc tế Nhật Bản (JICA), Cục đã
phối hợp với Ủy ban Thương mại
lành mạnh Nhật Bản (JFTC) tổ chức
một thị trường mới. Việt Nam không
phải là một ngoại lệ của xu hướng
này, số vụ M&A tăng nhanh về cả số
lượng và quy mô trong thời gian gần
đây. Thực trạng này phản sự cởi mở
và sôi động của nền kinh tế trong quá
trình hội nhập, song nó cũng tiềm ẩn
những yếu tố hình thành các doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh và mang
đến nguy cơ giảm tính cạnh tranh
của thị trường. Vì vậy, các hoạt động
tập trung kinh tế cần được giám sát
bởi cơ quan quản lý nhà nước và điều
chỉnh bởi khuôn khổ pháp lý về cạnh
tranh. Nhận thức được yêu cầu cấp
bách này, từ năm 2008, VCAD với
chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công
Thương thực hiện quản lý nhà nước
về cạnh tranh (trong đó có nhiệm vụ
kiểm soát quá trình tập trung kinh tế),
đã bắt tay vào thực hiện điều tra,
đánh giá và xây dựng báo cáo tập
trung kinh tế hàng năm nhằm cung
cấp cho cộng đồng và các bên liên
quan một bức tranh tổng thể và toàn
diện về thực trạng tập trung kinh tế
tại Việt Nam và công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động này. Với sự hỗ
trợ của Cơ quan cạnh tranh Thụy Sỹ
(COMCO), năm 2008 là năm đầu tiên
định hướng và điều chỉnh các hoạt
động có liên quan tới tập trung kinh
tế cho phù hợp với pháp luật hiện
hành của Việt Nam nhưng vẫn đảm
bảo tính hiệu quả của hoạt động tập
trung kinh tế đó nói riêng và hiệu quả
tổng thể của nền kinh tế nói chung.
Bên cạnh đó, Báo cáo cũng là cơ sở để
VCAD tiếp tục triển khai công tác
kiểm soát tập trung kinh tế một cách
hiệu quả. Báo cáo cũng góp phần
phục vụ cho công tác hoạch định
chính sách cạnh tranh và hoàn thiện
pháp luật cạnh tranh.
Độc giả quan tâm tới nội dung chi
tiết của Báo cáo Tập trung kinh tế
2008 có thể liên hệ với CCID hoặc truy
cập vào website của VCAD để có
thêm thông tin chi tiết.
CCID
VCAD thực hiện và công bố
“Báo cáo tập trung kinh tế năm 2008”
- Kỹ năng tiến hành nghiên cứu
thị trường: tập trung vào cách thức
thu thập thông tin cho quá trình
điều tra.
- Tìm hiểu về hệ thống đào tạo
của JFTC: các loại hình tập huấn,
phương pháp phát triển năng lực và
xây dựng kế hoạch tập huấn.
dựng đội ngũ điều tra viên và làm
việc với các cơ quan liên quan của
Italia.
Theo chương trình, đoàn đã được
ông Piero Barucci, Phó Chủ tịch Ủy
ban cạnh tranh Italia tiếp xã giao. Phía
Italia đã giới thiệu sơ bộ về lịch sử
hình thành và phát triển của cơ quan
cạnh tranh Italia. Theo đó, đây là một
cơ quan độc lập được thành lập theo
Luật số 287 ngày 10/10/1990. Ban
lãnh đạo bao gồm Chủ tịch và 4 Phó
chủ tịch. Chủ tịch và các Phó Chủ tịch
được do Thượng viện và Hạ viện bầu.
Hiện nay cơ quan có 227 nhân viên,
trụ sở ở thành phố Rome, một số
trung tâm thuộc Ủy ban nằm tại các
thành phố lớn như Venezia, Milan…
Tiếp đó, đoàn đã làm việc với Ban
Tổ chức và điều phối nhân sự, đoàn
công tác của VCAD đã được tham vấn
với các Lãnh đạo và đại diện phụ
trách các nội dung công việc khác
nhau của Ban. Thông qua các bài
thuyết trình và thảo luận, Ban Tổ chức
và điều phối nhân sự đã cung cấp
thông tin và lý giải cho đoàn công tác
về các vấn đề: (1) So sánh, phân tích
lịch sử tổ chức của Ủy ban cạnh tranh
Italia qua các giai đoạn phát triển từ
phân bổ nguồn nhân lực, kế hoạch
bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ
cán bộ, công chức của Cơ quan cạnh
tranh Italia.
Trong Chương trình, đoàn cũng
đã tìm hiểu về Trung tâm đào tạo điều
tra viên của Ủy ban cạnh tranh Italia.
Trung tâm này được thành lập từ năm
2000 với chức năng đào tạo mới và
bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ
điều tra viên cạnh tranh trên cả nước.
Trung tâm cũng mở các khóa đào tạo
về cạnh tranh cho các đối tượng khác
quan tâm đến lĩnh vực này như khóa
đào tạo hàng năm cho thẩm phán
phụ trách giải quyết khiếu nại phúc
thẩm vụ việc cạnh tranh, khóa đào
tạo cho các luật sư tham gia tố tụng
cạnh tranh, khóa đào tạo cho các
giảng viên môn luật cạnh tranh tại
các trường đại học lớn tại Italia. Ngoài
ra, Trung tâm đào tạo điều tra viên
còn tham gia các chương trình trao
đổi chuyên gia với cơ quan cạnh
tranh các nước trong khuôn khổ
Mạng lưới các cơ quan cạnh tranh EU.
Thông qua chương trình làm việc này,
đoàn công tác của VCAD đã tìm hiểu
được nhiều nội dung liên quan đến
các lĩnh vực cần đào tạo, kỹ năng đào
nghiên cứu phương án xử lý.
Trong phiên làm việc với Ban phụ
trách cạnh tranh trong lĩnh vực ngân
hàng, tài chính, đoàn đại biểu của
VCAD đã được nghe giới thiệu tóm
tắt các tiếp cận 02 vụ việc lớn mà Ban
đã giải quyết thành công từ đó đưa ra
các khuyến nghị đối với Cơ quan
cạnh tranh của Việt Nam. Thông qua
ví dụ về các vụ việc cạnh tranh này,
đoàn công tác đã có những khái niệm
về các công việc cần thiết khi tiến
hành điều tra những vụ sáp nhập
trong lĩnh vực ngân hàng, lĩnh vực hết
sức nhạy cảm đối với nền kinh tế
quốc dân của bất cứ nền kinh tế nào.
Trong thời gian làm việc tại Italia,
đoàn công tác đã đến làm việc với
Văn phòng khu vực của Ủy ban cạnh
tranh. Mục tiêu của buổi làm việc
nhằm giúp đoàn có thêm thông tin
và kiến thức về việc xây dựng và vận
hành các văn phòng khu vực đặt tại
các địa phương, cách thức tổ chức
văn phòng khu vực và vai trò của văn
phòng khu vực khi tiến hành điều tra
vụ việc cạnh tranh.
Trước khi kết thúc chương trình
công tác, đoàn đã có buổi làm việc với
Ban Hợp tác quốc tế nhằm tổng kết
hoạt động song hành bao gồm: buổi toạ đàm: “Các nhân tố
thành công trong thực thi luật cạnh tranh” và Khoá đào tạo:
“Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và thông đồng trong đấu thầu”
đã được tổ chức tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Tham dự Cuộc họp thường niên ngày 23/02/2009 có các
bên tham gia Dự án là đại diện của Uỷ ban Cạnh tranh Thuỵ Sỹ,
đại diện của VCAD, đại diện của Tổ chức quốc tế CUTS và các cơ
quan nhà nước, cơ quan báo chí tỉnh Lâm Đồng.
Tại Cuộc họp này, các bên tham gia Dự án đã có những báo
cáo vắn tắt các hoạt động đã thực thi, kết quả đã đạt được và
hiệu quả của các hoạt động này đối với môi trường cạnh tranh
Việt Nam trong năm 2008. Đồng thời, đánh giá những khó
khăn, vướng mắc và những biện pháp khắc phục trong thời
gian tới nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của Dự án này.
Cũng nhân dịp này, với mục đích giúp nâng cao nhận thức
và năng lực cho các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước
khu vực miền Trung về luật và chính sách cạnh tranh, vào ngày
24/02/2009, Dự án đã phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Lâm
Đồng tổ chức Hội thảo: “Luật Cạnh tranh Việt Nam và kinh
nghiệm thực thi pháp luật cạnh tranh của Thụy Sỹ”
Hội thảo đã nhận được sự tham gia đông đảo đại diện của
các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và các cơ quan báo chí
tỉnh Lâm Đồng. Các đại biểu tham dự thể hiện sự quan tâm sâu
sắc đến các thông tin do hội thảo cung cấp liên quan tới việc
tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng
giữa các doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế thị trường
hiện nay.
Tiếp theo Hội thảo trên, ngày 24 - 25/02/2009, VCAD đã tổ
chức Khoá đào tạo: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và thông
đồng trong đấu thầu” dành cho các cán bộ Sở Công Thương
viên APEC trình bày kết quả các hoạt động
của Nhóm CPLG trong năm 2008 và xây
dựng kế hoạch hoạt động năm 2009.
Chương trình hành động Osaka (OAA)
năm 1995 đã khẳng định khuyến khích các
nước thành viên APEC thực thi chính sách
cạnh tranh và thực hiện nới lỏng chính
sách trong 15 lĩnh vực cụ thể. Theo đó, kể
từ năm 1995, một loạt các hội thảo về
chính sách cạnh tranh đã được tổ chức
nhằm nâng cao hiểu biết về chính sách
cạnh tranh.
“Các nguyên tắc của APEC nhằm nâng
cao cải cách thể chế và cạnh tranh” (gọi tắt
là nguyên tắc) được thông qua tại cuộc
họp cấp Bộ trưởng APEC tổ chức tại New
Zealand năm 1999 ghi nhận “Việc bảo vệ
môi trường cạnh tranh”, “Thực thi luật cạnh
tranh” và “Xây dựng năng lực” sẽ tạo cơ sở
chiến lược và quan trọng nhằm đảm bảo
sự phát triển bền vững trong khu vực
APEC.
Trên cơ sở đó, năm 2000, Nhóm nới
lỏng chính sách và chính sách cạnh tranh
(CPDG) đã được thành lập trực thuộc Uỷ
ban về thương mại và đầu tư APEC (CTI).
Các thành viên của CPDG chủ yếu là các cơ
quan cạnh tranh hoặc liên quan đến cạnh
tranh của mỗi nền kinh tế thành viên.
Do có sự tái tổ chức lại APEC năm 2007,
dự Hội thảo có đại diện từ Ủy ban
Nhân dân các tỉnh và các Sở Công
Thương từ Đà Nẵng trở vào và đại
diện các Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ
người tiêu dùng các địa phương.
Tại hội thảo, sau khi nghe đại diện
VCAD giới thiệu về các quy định pháp
luật liên quan đến tổ chức, hoạt động
của hội và kinh nghiệm về tổ chức và
hoạt động của các tổ chức bảo vệ
người tiêu dùng tại Pháp, Malaysia và
Đài Loan; các đại biểu tham dự hội
thảo đã sôi nổi thảo luận về các vấn
để nổi cộm trong hoạt động của các
hội thực hiện chức năng bảo vệ người
tiêu dùng như kinh phí cho hoạt
động, tổ chức hoạt động của hội tại
các địa phương.
Các đại biểu của các hội đã thẳng
thắn nhận xét hoạt động của các hội
tại các địa phương hiện nay còn gặp
nhiều khó khăn do số lượng ít, hoạt
động không đồng đều, các hoạt
động chưa đáp ứng mong đợi của
người tiêu dùng, do đó không gây
được sự chú ý đối với người tiêu dùng
và thu hút được sự quan tâm của các
cơ quan quản lý nhà nước. Do kinh
phí hạn chế, hay nói cách khác là các
hội chưa huy động được nguồn lực
nghiệm tổ chức hoạt động của các
mô hình hoạt động khác hiện khá
hiệu quả trong lĩnh vực bảo vệ người
tiêu dùng như mô hình hoạt động
của Câu lạc bộ Chống hàng giả và
bảo vệ người tiêu dùng do báo Sài
Gòn Giải phóng tổ chức và hoạt động
của chuyên trang “Hỗ trợ thông tin
bảo vệ người tiêu dùng” của báo điện
tử Vietnamnet tổ chức.
Kết thúc hội nghị, ông Đặng
Hoàng Hải – Phó Cục trưởng VCAD
đánh giá cao các ý kiến thẳng thắn
của các đại biểu và tiếp thu các ý kiến
xác đáng để xây dựng mô hình và tổ
chức hoạt động của hội bảo vệ người
tiêu dùng trong các văn bản pháp
luật sắp ban hành tới đây trên cơ sở
không xóa bỏ những tổ chức hiện có
và sẽ có những hỗ trợ cho các tổ chức
hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
P. C
VCAD tổ chức hội thảo
“Trao đổi kinh
nghiệm về tổ
chức và hoạt
động của các
tổ chức bảo vệ
người tiêu
Bên khởi kiện là Hiệp hội các nhà
sản xuất giày Canada (Shoe Manufac-
turers' Association of Canada from
Baie d'Urfé, Québec).
Hiện nay, CBSA chưa công bố
danh sách các nhà xuất khẩu liên
quan trong cuộc điều tra này. Tuy
nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu
giày Việt Nam và Hiệp hội cần lưu ý về
thời gian, các hạn định và trình tự, thủ
tục của vụ việc chống bán phá giá
thường được quy định rất chặt chẽ và
nghiêm ngặt theo lịch trình được
CBSA thông báo dưới đây, trong vụ
việc này, các doanh nghiệp chỉ có 37
ngày để trả lời Bản câu hỏi điều tra
của CBSA.
V C A D
10
CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
Số 3 - 2009
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
TIN TRÌNH V VIC
Thi gian S kin
27/02/2009 Khởi xướng điều tra chống bán phá giá
27/02/2009 CBSA bắt đầu thu thập tài liệu sẵn có
13/3/2009 Tuyên bố lý do của việc tiến hành điều tra
20/3/2009 Nhà nhập khẩu nộp bản trả lời câu hỏi cho CBSA
06/4/2009 Nhà xuất khẩu nộp bản trả lời câu hỏi cho CBSA
28/5/2009
lân ký kết Hiệp định thành lập Khu
vực thương mại tự do ASEAN-Úc, Niu-
Di-lân, (AANZ FTA) ngày 27 tháng 02
năm 2009, được sự ủy quyền của
Chính phủ các nước, Bộ trưởng
Thương mại Úc, Simon Crean, và Bộ
trưởng Thương mại Niu-Di-lân, Tim
Groser, đã ký và trao văn kiện chính
thức công nhận Việt Nam là nền kinh
tế thị trường đầy đủ.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt
Nam Vũ Huy Hoàng, thay mặt Chính
phủ Việt Nam đã tiếp nhận các văn
kiện trên. Các văn kiện này nêu rõ,
Chính phủ Úc và Chính phủ Niu-Di-
lân chính thức công nhận Việt Nam là
nền kinh tế thị trường đầy đủ và cam
kết không áp dụng Đoạn 255 trong
Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO).
Với quyết định này, Úc và Niu-Di-
lân cam kết áp dụng đầy đủ các quy
định liên quan của WTO về chống
bán phá giá và trợ cấp đối với hàng
hoá xuất khẩu của Việt Nam vào hai
nước này một cách bình đẳng như áp
dụng với các thành viên khác của
WTO. Cam kết này có ý nghĩa đặc biệt
trong quá trình điều tra, xác định mức
hợp với các chuẩn mực và thông lệ
quốc tế.
Đến nay đã có 18 nước chính thức
công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị
trường đầy đủ. Nhân dịp này, các Bộ
trưởng Kinh tế ASEAN cũng đã ra
tuyên bố hoan nghênh quyết định
của Úc và Niu-Di-lân và khuyến nghị
các đối tác khác của ASEAN sớm công
nhận Việt Nam là nền kinh tế thị
trường đầy đủ.
(Nguồn: Bộ Công thương)
Úc và Niu-Di-lân công nhận
VIỆT NAM LÀ NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ
V C A D
12
CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
Số 3 - 2009
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
T
heo Pricewaterhouse Coopers,
hãng cung cấp dịch vụ tư vấn
mua bán sáp nhập doanh
nghiệp hàng đầu thế giới, trong năm
2007, hoạt động tập trung kinh tế đã
gia tăng mạnh mẽ cùng với sự phát
triển liên tục và cải tiến mạnh mẽ về
khuôn khổ pháp lý đã hấp dẫn các
nhà đầu tư vào Việt Nam, nhu cầu tái
Mt s giao dch M&A
đin hình:
Bảng dưới đây tóm lược một số
giao dịch M&A được công bố đáng
chú ý trong những năm gần đây.
Phần lớn các giao dịch lớn thường là
do các công ty nước ngoài mua lại
một phần hoặc toàn bộ một doanh
nghiệp Việt Nam hoặc giữa các doanh
nghiệp trong nước, tuy nhiên cũng có
những trường hợp ngược lại khi công
ty Việt Nam mua lại công ty nước
ngoài. Các thương vụ thành công
đáng kể nhất có thể kể đến là trường
hợp Kinh Đô – một doanh nghiệp tư
nhân lớn trong ngành sản xuất, chế
biến thực phẩm, bánh kẹo đã mua lại
bộ phận kinh doanh Kem Wall’s của
tập đoàn đa quốc gia Unilever và tận
dụng tốt hệ thống phân phối sẵn có
để phát triển. Ngoài ra, công ty này
còn mua lại một phần hàng loạt các
doanh nghiệp khác hoạt động trong
những ngành liên quan như Công ty
nước giải khát Sài Gòn và có kế hoạch
tiến hành sáp nhập hai công ty Kinh
Đô và Kinh Đô Miền Bắc. Một trường
hợp tương tự là thương vụ ICA Phar-
maceuticals Việt Nam mua lại thương
hiệu Tobicom của hãng dược phẩm
góp trong liên doanh
6 2005
Công ty Sữa Bình Định
7 2006
CTCP Doanh nghiệp trẻ
Đồng Nai
Cheereld Rama Không được công bố
8 2006
CTCP Giấy Hải Phòng Dệt Hải Phòng Không được công bố
9 2006
Công ty liên doanh nhà máy
bia VN
Bia Foster’s 105 triệu USD
10 2006
Vinaland Khách sạn Hilton Hà Nội 70%
11 2006
Prudential Công ty CP Giảng Võ 65%
12 2007
Vinaland Omni Saigon 52% (21 triệu USD)
13 2007
Daiichi Mutual Life (Nhật
Bản)
Bảo Minh CMG 100%
14 2007
Đồng Tâm Đá trang trí Vĩnh Cửu 20%
15 2007
CPR (Nhật Bản) Sara 15%
16 2007
Anco Nhà máy sữa Nestlé 100%
17 2007
Công ty Tài chính Dầu khí 10%
27 2007
HSBC Techcombank 15% (33,7 triệu USD)
28 2007
Prudential Vietnam Invest-
ment Fund Management,
Temasek Holdings…
Vinasun 41,00%
29 2007
VinaCapital, Dragon Capital
và Temasek Holdings
CTCP Đầu tư và Xây dựng Bình
Chánh
18% cổ phần
30 2007
Prudential Vietnam Investment Fund Management CTCP Âu Lạc 15,60%
31 2007
Saint Gobain Vĩnh Tường 100,00%
32 2007
Sojitz (Nhật Bản) CT TM và DV Hương Thủy 25,01%
33 2007
IDJ Venture CTCP Tài Việt 20,00%
34 2007
CT Đường Quảng Ngãi Nhà máy đường Quảng Bình 100,00%
35 2007
Savills Việt Nam Chesterton Petty Việt Nam 100,00%
Nguồn: Tổng hợp của VCAD
V C A D
14
CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
Sài Gòn (24% - sản xuất thuốc lá),
Honda Vietnam (24% - sản xuất xe
máy), Toyota Vietnam (21% - sản xuất
ô tô). Danh sách các ngành có mức độ
tập trung kinh tế cao có thể được các
Sở Kế hoạch Đầu tư tại các địa
phương tham khảo khi tiếp nhận hồ
sơ thay đổi giấy phép đăng ký kinh
doanh do nguyên nhân mua lại, hợp
nhất, sáp nhập và liên doanh để có
hướng dẫn phù hợp cho doanh
nghiệp thực hiện đúng pháp luật về
cạnh tranh.
Nhìn vào bảng các ngành có mức
độ tập trung kinh tế cao nhất theo
CR3 (mức độ tập trung kinh tế của 03
doanh nghiệp có doanh thu lớn nhất
trong lĩnh vực đó), có thể thấy chỉ số
này phản ánh khá rõ thực trạng các
ngành công nghiệp của nước ta và
cũng thể hiện được đặc điểm của
một nước có nền kinh tế chuyển đổi.
Cụ thể là:
- Các ngành, lĩnh vực có mức độ
tập trung cao (trên 65%) đều là các
lĩnh vực công ích, là các lĩnh vực mà
khu vực tư nhân ít đầu tư (xử lý ô
nhiễm và quản lý chất thải; hoạt động
thư viện, lưu trữ và bảo tàng; hoạt
động chăm sóc, điều dưỡng tập
quản lý, đặc biệt là cơ quan quản lý
cạnh tranh. Về phía các cơ quan quản
lý nhà nước, đây là một cơ sở dữ liệu
để cơ quan quản lý cạnh tranh lựa
chọn lĩnh vực thực hiện Báo cáo giám
sát cạnh tranh trong lĩnh vực đó hàng
năm và phối hợp với các cơ quan có
liên quan thực hiện cũng như là cơ sở
để theo dõi và cập nhật số liệu các
giao dịch tập trung kinh tế trong các
lĩnh vực cụ thể. Về phía khối doanh
nghiệp, đây cũng là một cơ sở thông
tin tốt để doanh nghiệp lựa chọn các
lĩnh vực đầu tư hoặc mở rộng hoạt
động sản xuất, kinh doanh.
CCID tổng hợp
Biu đ: Các ngành có mc đ tp trung kinh t cao nht
theo CR3
Nguồn: VCAD tính toán từ dữ liệu của Tổng cục Thống kê
T
rong thời điểm nền kinh tế thế
giới đang suy thoài, những hãng
hàng không lớn nhất thế giới
đang tính toán sáp nhập với nhau để
mở rộng thị phần và cắt giảm chi phí
và tăng hiệu quả kinh doanh.
Vụ sáp nhập đang được bàn
tán nhiều nhất là việc hãng hàng
không Anh British Airways (BA) đang
cùng một lúc đàm phán những vụ
đạo tổng hợp.
Vào giữa tháng 8, BA đã bắt đầu
đàm phán với American Airlines về
hợp tác trong giá vé và lịch trình bay.
Hai hãng này đang trình dự án hợp
tác lên các nhà chức trách. Nếu hợp
tác, hai hãng này sẽ có tổng cộng 493
điểm đến tại 121 quốc gia.
Mặc dù BA chưa tiết lộ lịch trình
cụ thể cho việc thảo luận những
thương vụ trên, hãng này hy vọng
việc sáp nhập và hợp tác thành công
sẽ biến BA trở thành hãng hàng
không lớn nhất thế giới về quy mô
khách hàng, số lượng máy bay và
điểm đến.
Cùng thời gian, Lufthansa, hãng
hàng không nổi tiếng của Đức, đang
cạnh tranh với liên minh Air France
(Pháp) và KLM (Hà Lan) để đạt được
thỏa thuận hợp tác với Alitalia
(Italia).
Vào cuối tháng 10, Delta Air Lines
(Mỹ) đã mua lại Northwest Airlines với
giá 2,9 tỷ USD. Với vụ sáp nhập này,
Delta Air Lines trở thành hãng hàng
không lớn nhất thế giới hiện nay với
75.000 nhân viên và lịch bay tới 375
thành phố. Hãng này có khả năng
tăng doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm
là 1.160 tỷ USD.
Tổng giá trị các thương vụ trong
lĩnh vực M&A trên toàn cầu ước đạt
2,89 nghìn tỷ USD, mức thấp nhất
trong 3 năm qua.
Số lượng những vụ mua bán và
sáp nhập bị hủy trong năm 2008 cao
chưa từng có, vì thế những ngân
hàng đầu tư không thu được nhiều
tiền phí như trước. Tổng số lượng
những vụ mua bán và sáp nhập tính
từ đầu năm 2008 cho đến nay là 3.280
thấp hơn 28% so với năm 2007 bởi
tình hình tài chính khó khăn, việc
đánh giá giá trị của các công ty biến
động mạnh và rủi ro tăng cao.
Số lượng những vụ mua bán sáp
nhập bị ngưng lại có tổng giá trị là
911 tỷ USD. Năm 2007, giá trị của 870
vụ mua bán sáp nhập bị hủy là 1.160
tỷ USD. JP Morgan Chase đứng đầu
trong việc tư vấn cho hoạt động mua
bán và sáp nhập doanh nghiệp. Tổng
số thương vụ hãng đã tiến hành là
348 và có tổng giá trị 814,5 tỷ USD.
Goldman Sachs đứng thứ 2 với 291
vụ, tổng giá trị 752,2 tỷ USD. Citigroup
đứng thứ 3 với 286 vụ với tổng giá trị
666,7 tỷ USD.
Việc hoạt động mua bán sáp
TRM LNG TRONG NĂM
2008
Các giao dch M&A đã đưc thông báo ti mt s
Nưc/Khu vc
2008
(triu USD)
2007
(triu USD)
% thay
đi
S lưng
giao dch
mua bán
2008
S lưng
giao dch
mua bán
2007
% thay
đi
Thế giới 2,935,960 4,169,287 - 29,6% 39,597 43,817 - 9,6%
Mỹ 986,283 1,570,848 - 37,2% 9,165 11,296 - 18,9%
Trung Quốc 104,253 75,390 38,3% 2,983 2,587 15,3%
Đông Nam Á 75,176 75,675 -0,7% 2,065 2,001 3,2%
G
ần đây dư luận quần chúng
phản ánh rất nhiều về tình
trạng không rõ ràng và không
nhất quán về giá bán hai loại xe LEAD
và Air Blade tại các cửa hàng do
nhà nước về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng, VCAD đã có buổi làm việc
trực tiếp với đại diện Công ty Honda
Việt Nam ngày 18 tháng 02 năm 2009
gồm: Ông Tetsuya Kawahara - Trưởng
phòng cấp cao Phòng Bán hàng, lái
xe an toàn khối xe máy và Ông At-
sushi Kikuchi – Giám đốc Hành chính,
Tài chính Kế toán.
Tại buổi làm việc Ông Tetsuya
Kawahara cho biết:
Quan hệ Công ty Honda Việt Nam
với các HEAD không phải là hợp đồng
với Đại lý (Agent) mà là với các cơ sở
kinh doanh độc lập (Dealer). Theo
hợp đồng này thì mối quan hệ giữa
Công ty Honda Việt Nam với các
HEAD là hai pháp nhân độc lập, Công
ty Honda Việt Nam không có quyền
can thiệp giá bán xe tại HEAD nên sẽ
không thể công bố giá bán thống
nhất trên toàn quốc. Công ty Honda
Việt Nam chỉ có thể đưa ra giá bán đề
xuất còn giá bán thực tế do các HEAD
quyết định. Chính vì vậy, với một số
mẫu mã mới cung cấp ra thị trường,
các HEAD của Công ty Honda thường
bán cao hơn giá đề xuất khi cung
không đáp ứng nổi cầu.
Trước phản ứng của người tiêu
Với người tiêu dùng nên bình
tĩnh, thận trọng khi lựa chọn mua sản
phẩm, không nên vội vã nghe các tin
đồn không chính xác để phải mua với
giá đắt, mà nên tìm hiểu kỹ hơn các
thông tin. Trước mắt người tiêu dùng
có nhu cầu mua 02 loại xe trên của
Honda Việt Nam sẽ đăng ký tên với
các HEAD để Honda Việt Nam sẽ đáp
ứng trong thời gian tới.
VŨ TH BCH NGA ĐOÀN QUANG ĐÔNG
VCAD vào cuộc kịp thời trước ý kiến
của người tiêu dùng về
GIÁ BÁN MỘT SỐ SẢN PHẨM CỦA HONDA
TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
V C A D
17
CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
Số 3 - 2009
GÓC NGƯỜI TIÊU DÙNG
V C A D
18
CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG
Số 3 - 2009
GÓC NGƯỜI TIÊU DÙNG
S
au hơn một thập kỷ hình thành
và phát triển, cho đến nay về cơ
bản, thị trường gas Việt Nam đã
được vận hành theo cơ chế thị
loại vỏ bình chính do sản xuất trong
nước và bình gas cũ đã qua sử dụng
nhập khẩu từ thị trường bên ngoài.
Có hai loại vi phạm chủ yếu như sau:
Một là, thu gom bình gas của các
doanh nghiệp khác và tẩy xóa các
dấu hiệu, thương hiệu trên bình gas,
rồi sau đó chiết nạp gas vào để bán ra
thị trường. Một số tổ chức và cá nhân
lập ra các cơ sở đăng ký cải tạo, sửa
chữa vỏ bình gas nhưng thực tế là để
chiếm dụng vỏ chai gas của doanh
nghiệp khác để cải tạo, thay tai sách,
đóng dập lại số seri, sơn hoặc dán
logo, nhãn mác để biến thành vỏ
bình của mình.
Hai là, lợi dụng việc gia công cho
chính doanh nghiệp bị vi phạm hoặc
thu gom bình gas đã sử dụng của các
tổ chức có uy tín và tiến hành chiết
nạp để bán ra thị trường kèm theo sự
gian lận về trọng lượng. Bộ Khoa học
công nghệ cũng đã cảnh báo về tình
trạng này khi tiến hành kiểm tra các
cơ sở kinh doanh gas với hơn 60% số
cơ sở vi phạm và mức độ gian lận
khoảng 3% ở mỗi bình gas khi giao
hàng.
Bên cạnh đó, các cửa hàng, đại lý
kinh doanh gas không tuân theo
Môi trường đầu tư bị ảnh hưởng
nghiêm trọng còn Nhà nước cũng bị
thất thu ngân sách. Hơn thế nữa, các
vụ vi phạm thương hiệu, cung cấp gas
không đủ số lượng và chất lượng diễn
ra phổ biến trên thị trường đã làm mất
lòng tin ở người tiêu dùng và xã hội.
Trước thực trạng đó, cần phải
nhìn nhận lại rằng hành lang pháp lý
về kinh doanh gas của Nhà nước tuy
đã có nhưng chưa đồng bộ; các quy
định đưa ra chưa cụ thể và hoàn
chỉnh, từ đó tạo ra nhiều kẽ hở cho
các hành vi vi phạm xảy ra. Hiện nay
mới có Thông tư số 15/1999/TT-BTM
ngày 19/5/1999 của Bộ Thương Mại
(nay là Bộ Công Thương) quy định về
điều kiện kinh doanh gas đối với cửa
hàng bán lẻ; Quy chế quản lý kỹ thuật
an toàn về nạp khí dầu mỏ hóa lỏng
vào chai ban hành kèm theo Quyết
định số 36/2006/QĐ-BCN ngày 16
tháng 10 năm 2006 của Bộ Công
nghiệp (nay là Bộ công Thương) Tuy
nhiên, các quy định về quản lý kỹ
thuật an toàn trong các khâu kinh
doanh còn bị xem nhẹ. Các biện pháp
xử lý vi phạm, nhất là sang chiết nạp
lậu chưa đủ mạnh nên các hành vi
phạm vẫn tiếp tục tái diễn ngày càng
C
ác hoạt động sáp nhập và mua
bán doanh nghiệp, hay các hoạt
động “tập trung kinh tế” theo
ngôn ngữ của Luật Cạnh tranh 2004
của Việt Nam, đang ngày càng trở nên
sôi động trong thời gian gần đây. Tuy
nhiên, rất nhiều người trong số chúng
ta cho rằng đây hoàn toàn là vấn đề
quan tâm của các doanh nghiệp và
các nhà đầu tư (như một khía cạnh
của chiến lược đầu tư tài chính và
quản lý của các công ty) hay các cơ
quan quản lý cạnh tranh (trong công
tác giám sát cấu trúc và mức độ tập
trung của các thị trường). Trên thực tế,
việc hai doanh nghiệp A và B quyết
định sáp nhập tạo thành doanh
nghiệp A-B hay C không chỉ đơn
thuần là một thông tin trên thị trường
tài chính, chứng khoán, hay một vụ
việc cạnh tranh, mà đó còn là một sự
kiện có thể có ảnh hưởng sâu rộng và
lâu dài đến lợi ích của mỗi người
trong chúng ta với tư cách người tiêu
dùng. Đặc biệt trong trường hợp các
doanh nghiệp chuẩn bị hay đang sáp
nhập đó lại là các doanh nghiệp lớn,
thống lĩnh thị trường sản xuất, cung
ứng loại hàng hóa dịch vụ mà họ kinh
thể tăng cường quy mô và hiệu quả
sản xuất, kinh doanh, và cạnh tranh
với nhau, người tiêu dùng sẽ được
hưởng lợi từ giá trị tăng cao của đồng
tiền họ bỏ ra cho các hàng hóa, dịch
vụ; từ chất lượng hàng hóa, dịch vụ đã
được cải thiện; và từ tính đa dạng hơn
hẳn của các loại hàng hóa dịch vụ đó.
Tuy nhiên, đây không nhất thiết là
hệ quả cuối cùng của các vụ mua bán
sáp nhập doanh nghiệp. Nếu như việc
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp có
mục tiêu mở rộng thị trường, mà lại
do các doanh nghiệp đứng đầu,
thống lĩnh trên thị trường đó tiến
hành, thì rất có khả năng hệ quả cuối
cùng mà chúng ta có được chỉ là một
cấu trúc thị trường tập trung, hay độc
quyền. Và có nhiều khả năng là các
nhà độc quyền đó sẽ lạm dụng quyền
lực mới của họ để tăng giá, hạ thấp
tiêu chuẩn chất lượng và ung dung
hưởng lợi. Trong khi đó, người tiêu
dùng thì không còn khả năng chọn
lựa.
Lợi ích
của
người
tiêu
dùng
trước đó, nước Úc đã có một lịch sử
lâu đời về các vụ mua bán, sáp nhập
ngân hàng, đặc biệt trong lĩnh vực
bán lẻ. Cho đến nay, thị trường bán lẻ
của ngành ngân hàng nước Úc đã
dần dần do Bốn Đại Gia (Big Four)
thống trị. Chúng ta có thể kể đến một
vài vụ tập trung kinh tế quan trọng
khác xảy ra trước khi có các vụ mua
bán nêu trên. Ví dụ, ngân hàng West-
pac được thành lập năm 1982, do sự
sáp nhập của hai ngân hàng New
South Wales và ngân hàng Thương
mại Australia. Năm 1995, Westpac
mua lại ngân hàng Challenge, “nuốt
chửng” ngân hàng Melbourne vào
năm 1997, Tập đoàn Tài chính BT năm
2002 và ngân hàng St George năm
2008. Bản thân ngân hàng St George
đã vươn tới vị trí thứ 5 nước Úc nhờ
mua được ngân hàng Advance vào
năm 1997.
Tổ chức CHOICE, tổ chức bảo vệ
người tiêu dùng hàng đầu của Úc, với
hơn 200.000 thành viên, đã lên tiếng
bày tỏ các quan ngại của mình về các
vụ sáp nhập và mua lại này. Theo
CHOICE, các vụ mua bán và sáp nhập
nói trên được cho phép (trên cơ sở
một số điều kiện như “giảm thiểu các
nàn;
Khả năng tiếp cận của đông đảo
quần chúng tới các dịch vụ ngân
hàng thiết yếu giảm đi;
Giảm tính đa dạng về nhà cung
cấp dịch vụ ngân hàng cũng như
chọn lựa trong các thị trường địa
phương (phạm vi địa lý hẹp).
CHOICE cũng đưa ra các dẫn
chứng cho các luận điểm của mình từ
thực tế thị trường; và đề nghị chính
phủ Úc cho phép Ủy ban Cạnh tranh
và Người Tiêu dùng Úc (ACCC) xem
xét thêm về các vụ sáp nhập và mua
lại trước khi cho phép các ngân hàng
tham gia tiến hành thực hiện.
Tình hình Vit Nam
Số lượng ngân hàng tại Việt Nam
hiện nay là tương đối nhiều, so với số
dân khoảng 85 triệu người và tổng
giá trị sản phẩm quốc dân (GDP) là 65
tỉ USD. Theo Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, tính đến cuối tháng 6/2008,
tại Việt Nam có 95 ngân hàng các loại
(thương mại nhà nước, Chính sách xã
hội, Phát triển, liên doanh, thương
mại cổ phần, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, và 100% vốn nước ngoài)
và 1021 tổ chức tín dụng-tài chính phi
ngân hàng.
nghiệm bổ ích về các vấn đề khác nhau liên quan đến việc thực thi luật và
chính sách cạnh tranh. Ngoài ra, mô hình cơ quan cạnh tranh Italia cũng có
chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng giống chức năng
của VCAD. Do đó, ngoài việc trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực cạnh tranh,
VCAD và Ủy ban cạnh tranh Italia có thể hướng tới trao đổi kinh nghiệm
trong lĩnh vực xây dựng Luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam. Bên cạnh
các kiến thức chuyên môn, thông qua chuyến công tác, VCAD đã thiết lập
được quan hệ hợp tác chính thức với Ủy ban cạnh tranh Italia, từ đó mở ra
hướng hợp tác sâu rộng hơn trong thời gian tới.
AN VŨ TRUNG VŨ
CÁC CHUYÊN GIA CA VCAD
(Tiếp theo trang 7)
>> Câu 1: Hành vi nào
ca doanh nghip là hành vi
tp trung kinh t?
✓ Tr li
Luật Cạnh tranh không đưa ra
định nghĩa về tập trung kinh tế mà
chỉ liệt kê các loại hình hành vi. Cụ
thể, Điều 16 Luật Cạnh tranh quy
định tập trung kinh tế là hành vi của
doanh nghiệp bao gồm:
1. Sáp nhập doanh nghiệp;
2. Hợp nhất doanh nghiệp;
3. Mua lại doanh nghiệp;
4. Liên doanh giữa các doanh
nghiệp;
5. Các hành vi tập trung khác
theo quy định của pháp luật.
>> Câu 2: Có nhng hình
từng hành vi như sau:
Sáp nhập doanh nghiệp là việc
một hoặc một số doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang
một doanh nghiệp khác, đồng thời
chấm dứt sự tồn tại của doanh
nghiệp bị sáp nhập.
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai
hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển
toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và
lợi ích hợp pháp của mình để hình
thành một doanh nghiệp mới, đồng
thời chấm dứt sự tồn tại của các
doanh nghiệp bị hợp nhất.
Mua lại doanh nghiệp là việc một
doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc
một phần tài sản của doanh nghiệp
khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn
bộ hoặc một ngành nghề của doanh
nghiệp bị mua lại.
Liên doanh giữa các doanh nghiệp
là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp
cùng nhau góp một phần tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
của mình để hình thành một doanh
nghiệp mới.
>> Câu 4: Nhng hành vi
nào đưc coi là vi phm quy
đnh ca pháp lut v tp
Phạt tiền với mức phạt tối đa 10%
tổng doanh thu của các doanh
nghiệp vi phạm trong năm tài chính
trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
Phạt bổ sung: như thu hồi giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh đã
cấp cho doanh nghiệp hợp nhất, thu
hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh đối với các liên doanh vi phạm
pháp luật cạnh tranh.
Các biện pháp khắc phục hậu
quả như chia, tách doanh nghiệp đã
sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại
phần doanh nghiệp đã mua
Mức phạt, các hình thức xử phạt
bổ sung và biện pháp khắc phục hậu
quả đối với các hành vi vi phạm quy
định về tập trung kinh tế được quy
định cụ thể trong Luật cạnh tranh và
Nghị định số 120/2005/NĐ-CP.
>> Câu 6: Th tc thông
báo tp trung kinh t như
nào?
✓ Tr li
- Nộp Hồ sơ thông báo việc tập
trung kinh tế lên cơ quan QLCT (Điều
21)
- Trong vòng 7 ngày: Yêu cầu bổ
sung (nếu có) (Điều 22)
- Trong vòng 45 ngày (có thể gia
tiến hành tập trung
kinh tế
Nếu không thỏa mãn
(I) và (II)
Nếu một hoặc nhiều
bên tham gia tập trung
kinh tế đang trong nguy
cơ bị giải thể hoặc lâm
vào tình trạng phá sản
Nếu việc tập trung kinh
tế có tác dụng mở rộng
xuất khẩu hoặc góp
phần phát triển kinh tế
- xã hội, tiến bộ kỹ thuật,
công nghệ
VCAD
Bộ trưởng Bộ
Công Thương
Thủ tướng
Chính phủ
Trả
lời
Không
chấp
thuận
Chấp
thuận
(II)
Không phải thông báo
tập trung kinh tế
hành khảo sát mức độ nhận
thức của cộng đồng đối với
Luật Cạnh tranh. Cuộc khảo sát bắt
đầu từ 01/11/2008 và kết thúc ngày
31/12/2008.
Mục đích của khảo sát này là nhằm
đánh giá mức độ nhận biết của cộng
đồng bao gồm khối doanh nghiệp,
các hiệp hội và cơ quan quản lý nhà
nước đối với các quy định pháp luật về
cạnh tranh. Hoạt động khảo sát do
VCAD quản lý phối hợp với Công ty
TNHH tư vấn và phát triển kinh doanh
IDV thực hiện tại một số địa phương ở
cả 3 miền Bắc, Trung và Nam: Miền Bắc
bao gồm Lạng Sơn và Hà Nội; miền
Trung bao gồm Đà Nẵng và Đắk Lắk;
và miền Nam gồm thành phố Hồ Chí
Minh và Tây Ninh. Phương pháp tiến
hành là phỏng vấn sâu (50 cuộc) và
gửi phiếu điều tra (1000 phiếu điều
tra). Trong quá trình khảo sát, nhóm
nghiên cứu đã tiến hành thu thập
những số liệu và tài liệu liên quan đến
việc nhận thức của cộng đồng về Luật
Cạnh tranh, việc thực hiện Luật Cạnh
tranh tại địa phương. Đồng thời với
việc thu thập tài liệu thứ cấp, nhóm
nghiên cứu đã tiến hành khảo sát
bằng bảng hỏi (questionnaire-based
tranh như biết về ngưỡng thị phần bị
cấm, mức phạt và thủ tục giải quyết vụ
việc cạnh tranh còn khá khiêm tốn. Khi
nhận thức về Luật còn chưa cao thì
nhận thức về cơ quan quản lý cạnh
tranh cũng không hơn là bao, điều này
đã được kết quả khảo sát bộc lộ. Một
trong những lý do chính là do bản
thân kết quả hoạt động của cơ quan
quản lý cạnh tranh còn chưa tạo được
những con số ấn trượng, như số lượng
vụ việc kết thúc điều tra xét xử chỉ có
cạnh tranh không lành mạnh, chưa
kết thúc điều tra xét xử các vụ việc hạn
chế cạnh tranh.
Những ý kiến về các bất cập và
khó khăn trong quá trình thực thi Luật
Cạnh tranh là cơ sở của những đề xuất
và khuyến nghị để hoàn thiện về
khung pháp lý và thể chế của cơ quan
cạnh tranh. Các đề xuất chủ yếu tập
trung vào bốn vấn đề chính: công tác
tuyên truyền phổ biến pháp luật, quy
định rõ hơn một số điều của Luật để
xác định hành vi, xác định mức phạt và
vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh.
Các kết quả cụ thể thu được từ khảo
sát cũng đưa ra gợi ý về một số hoạt
động tiếp theo của VCAD nhằm nâng
cao nhận thức, nâng cao hiệu quả
phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh
nghiệp đó; và (2) sự phân bố quy mô
của các doanh nghiệp. Chẳng hạn, một
ngành có 10 doanh nghiệp quy mô
tương đương nhau sẽ được nhìn nhận
rất khác với một ngành có 1 doanh
nghiệp thống lĩnh và 9 doanh nghiệp
nhỏ. Do đó, bất kỳ một cách thức xác
định mức độ tập trung có giá trị nào
cũng phải ghi nhận được tầm quan
trọng của số lượng và quy mô tương
đối của các doanh nghiệp trong một
ngành. Mức độ tập trung càng chính
xác thì bức tranh tổng thể về tình hình
cạnh tranh trong ngành sẽ càng rõ nét
hơn. Một ngành có tập trung kinh tế
hay không được quyết định bởi nhiều
yếu tố, trong đó đáng kể nhất là khả
năng gia nhập và rút lui khỏi thị trường,
chính sách của chính phủ và chiến lược
mà các doanh nghiệp đang hoạt động
theo đuổi.
Bài viết này bàn về các cách thức
xác định mức độ tập trung kinh tế nhìn
từ góc độ kinh tế học với các nội dung
chính sau:
Phn 2 nói về phương pháp xác
định thị trường và ngành.
Phn 3 trình bày các cách thức ghi
nhận mức độ tập trung kinh tế, bao
và thị trường địa lý để xác định xem
các doanh nghiệp có cạnh tranh với
nhau hay không. Đây là cách tiếp cận
từ phía người mua, theo đó, có sự
thay thế gần nhau từ phía cầu trên thị
trường. Chẳng hạn, thị trường bia có
thể gồm nhiều thị trường khác nhau
như bia cao cấp, bia trung cấp hoặc
bia bình dân,… hoặc thị trường
mang tính địa phương, vùng hay
toàn quốc. Rất khó để có thể có một
định nghĩa chính xác tuyệt đối về một
thị trường.
Một ngành thường được nhìn
nhận như một nhóm các sản phẩm
có sự thay thế gần nhau từ góc độ của
nhà cung cấp. Ví dụ, tất cả các thiết bị
viễn thông có thể được nhóm thành
một ngành vì chúng sử dụng cùng
nguyên liệu thô, công nghệ, kỹ năng
lao động,…Trong hầu hết các trường
hợp, ngành là nhóm rộng hơn một thị
trường, mặc dù đôi khi chúng có thể
được hiểu theo nghĩa tương đương
nhau.
Từ góc độ lý thuyết, một ngành có
thể được định nghĩa theo một trong
các cách sau đây:
a) Loại sản phẩm: Sử dụng độ co
giãn chéo về cầu (Cross Elasticity of
Trên thực tế, các cách tiếp cận
trên đều đã đơn giản hóa vấn đề quá
mức. Nhiều doanh nghiệp hoạt động
trên nhiều ngành, đa dạng hóa với
nhiều sản phẩm, kinh doanh trên
nhiều thị trường khác nhau. Có một
số phương pháp được đề xuất để xử
lý vấn đề này. Chẳng hạn, John Kay
(2)
(1990) đề xuất khái niệm thị trường
chiến lược, được định nghĩa là khu
vực địa lý hoặc sản phẩm nhỏ nhất
mà một doanh nghiệp có thể cạnh
tranh thành công trong đó. Với giả
định rằng thị trường tập trung vào
các điều kiện từ phía cầu còn ngành
tập trung vào các điều kiện từ phía
cung thì thị trường chiến lược là tổng
hợp của cả hai yếu tố đó. Elzinga và
Hogarty
(3)
(1973, 1978) hướng đến
kiểm nghiệm giá trị biên để xác định
thị trường địa lý có phù hợp hay
không. Kiểm nghiệm được tiến hành
bằng cách đánh giá xem khi nào thì
người tiêu dùng trong một vùng nhất
định mua sản phẩm từ nhà sản xuất
trong vùng (giao dịch nội vùng) hoặc
từ nhà sản xuất bên ngoài vùng đó
CR
N
= Σ x
i
i=1
trong đó x
i
là thị phần của doanh
nghiệp thứ i. Thị phần có thể được
tính bằng doanh thu hoặc tài sản,
hoặc số lượng lao động
(5)
.
Hình dưới đây là một số ngành có
tỷ lệ tập trung CR3 lớn tại Việt Nam
theo dữ liệu thống kê kinh tế năm
2006
(6)
.
Hình 1: Mt s ngành có t l tp trung kinh t cao
theo CR3 ti Vit Nam
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2007)