Sự ra đời và hoạt động của lực lượng thanh niên xung phong trong những năm kháng chiến chống Pháp (1950 - 1954 - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VIỆT HÙNG

SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG
THANH NIÊN XUNG PHONG TRONG NHỮNG NĂM
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1950 – 1954)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Xanh
3.2. Những bài học kinh nghiệm 82
3.3. Một số đề xuất để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của TNXP trong
giai đoạn hiện nay 89
KẾT LUẬN 95
PHỤ LỤC 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, là lực lượng xung
kích trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, phần lớn là do các
thanh niên”.
Trong suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ của dân tộc ta, dưới ngọn cờ của Đoàn, của Đảng, lớp lớp thanh
niên đã được tập hợp, đoàn kết và làm nên những chiến công hiển hách,
những thành tích xứng đáng là “Thế hệ anh hùng của một dân tộc anh
hùng”. Có thể kể tên hàng vạn các tấm gương anh hùng tuổi trẻ mà tên tuổi
các anh, các chị đã làm rạng rỡ non sông ta, đất nước ta. Các anh hùng trẻ
tuổi qua các thời kỳ cách mạng là những tấm gương sáng ngời về lòng quả
cảm, đức hy sinh, vượt qua khó khăn, thử thách, biết hy sinh quyền lợi cá
nhân để vì nghĩa lớn và vì lý tưởng cách mạng: “Độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội”. Lý tưởng cách mạng đó là bó đuốc soi đường và động
lực quan trọng để tuổi trẻ cống hiến và trưởng thành. Sự đóng góp lớn lao
của tuổi trẻ trong các thời kỳ cách mạng được Đảng và nhân dân ta ghi nhận:
“Lịch sử dân tộc chứng minh rằng ở bất cứ thời kỳ nào thanh niên với chí
tiến thủ và hoài bão lớn, với lòng yêu nước nồng nàn, luôn luôn đi đầu đáp
ứng những đòi hỏi của đất nước”.

2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc
kháng chiến chống Pháp, được xuất bản cả ở trong và ngoài nước. Trong các
công trình đó, có tác phẩm nghiên cứu toàn diện về cuộc kháng chiến chống
Pháp; có tác phẩm nghiên cứu từng vấn đề, từng thời kỳ, từng sự kiện lịch

3
sử trong suốt cuộc kháng chiến. Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu
này Lực lượng TNXP chỉ được đề cập đến một cách khái quát như một bộ
phận nhỏ trong lực lượng cách mạng đông đảo của cả dân tộc.
Nghiên cứu về Lực lượng TNXP, có các cuốn sách tiêu biểu như: 40
năm thanh niên xung phong (1950 – 1990) của nhiều tác giả, do nhà xuất
bản Thanh niên xuất bản năm 1990; tác phẩm Lịch sử Thanh niên xung
phong Việt Nam (1950 – 2001) do Văn Tùng, Nguyễn Hồng Thanh đồng chủ
biên, nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 2002; Thanh niên xung phong
ngày ấy của tác giả Trần Dân, do nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm
1996; Thanh niên xung phong những trang oanh liệt của nhiều tác giả, nhà
xuất bản Thanh niên xuất bản năm 1996; Thanh niên xung phong Thanh Hoá
- Những chặng đường lịch sử của Ban đại diện Thanh niên xung phong tỉnh
Thanh Hoá, nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 1998.
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí, các hội thảo khoa học
được tổ chức trong những năm qua. Tuy nhiên, những tác phẩm trên đây chỉ
đề cập đến từng khía cạnh, từng mặt riêng lẻ về Lực lượng TNXP, đặc biệt
các tác phẩm nghiên cứu về TNXP trong những năm chống Pháp rất ít được
đề cập đến.
Cho đến nay, đứng ở góc độ lịch sử nói chung chưa có một công trình
chuyên biệt nào trình bày một cách hệ thống quá trình hình thành và hoạt
động của Lực lượng TNXP trong kháng chiến chống Pháp. Do vậy, nghiên
cứu đề tài này là sự cần thiết và cấp thiết.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Pháp có liên quan đến đề tài.
- Các tài liệu, bút tích, hiện vật được lưu giữ tại Bảo tàng Tuổi trẻ Việt
Nam, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Bảo

5
tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam; các thư viện như Thư viện Quốc gia, Thư
viện Quân đội, Thư viện Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Trung tâm lưu trữ Quốc gia; gặp gỡ các nhân chứng lịch sử…
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm
của Đảng về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân; về bảo vệ và phát huy
vai trò của hậu phương chiến tranh…cũng như về vai trò, vị trí của thanh
niên trong đời sống xã hội, trong đấu tranh cách mạng và tiến trình lịch sử.
- Luận văn thuộc chuyên ngành lịch sử Việt Nam nên về cơ bản sử
dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, chủ yếu là phương pháp lôgíc
lịch sử. Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh, thống kê, đối chiếu…để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp chủ yếu
của Lực lượng TNXP Trung ương trong kháng chiến chống Pháp. Qua đó rút
ra những kinh nghiệm về công tác vận động thanh niên trong giai đoạn hiện
nay.
- Luận văn đóng góp, bổ sung những tài liệu có giá trị cho lịch sử của
tổ chức Đoàn - Hội - Đội và Lực lượng TNXP Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có 3 chương.
“hành lang Đông – Tây” (Hải Phòng – Hà Nội – Hoà Bình – Sơn La) nhằm
cắt đứt sự liên lạc giữa căn cứ Việt Bắc của ta với đồng bằng Liên khu III và
Liên khu IV. Chúng đang tích cực chuẩn bị mọi mặt để mở cuộc tiến công
quy mô lớn lên Việt Bắc lần thứ hai nhằm kết thúc chiến tranh.
Để chống lại âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến
tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp, quân và dân ta đã phát huy sức
mạnh tổng hợp của cuộc chiến tranh cách mạng, tích cực phát triển chiến
tranh du kích khắp nơi, từ vùng địch hậu đến chiến trường chính làm cho
địch sa lầy trên mọi địa bàn. Bên cạnh việc phát triển chiến tranh du kích, coi
du kích chiến là chính, từ năm 1948 đến giữa năm 1950 bộ đội ta đã mở
hàng chục chiến dịch và đợt hoạt động quy mô nhỏ trên các chiến trường
toàn quốc. Ngày 18/3/1948, ta mở chiến dịch Nghĩa Lộ (Tây Bắc) giải phóng
thị trấn Nghĩa Lộ, bức địch phải rút 7 vị trí khác, có 163 địch ra hàng. Ngày
1/6/1948, ta mở chiến dịch Yên Bình tiêu diệt vị trí Phố Ràng và 300 tên
địch. Từ 1949 – 1950, quân ta lại liên tiếp mở các chiến dịch tiến công địch:
chiến dịch Lao – Hà (cuối tháng 2/1949) xoá bỏ vị trí Phố Lu và Bản Lầu
buộc địch phải rút 22 vị trí khác, giải phóng một vùng rộng lớn 22,789Km
2
;
chiến dịch Đông Bắc (từ tháng 3 đến tháng 5/1949) phá huỷ 53 xe quân sự
của địch ở Lũng Phầy.
Phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự, phong trào đấu tranh chính
trị ở các thành phố, các khu công nghiệp cũng có bước phát triển mới, góp
phần thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên. Đó là một bước tiến quan trọng của
quân đội ta trên con đường đẩy mạnh “vận động chiến”, từ du kích tiến dần
lên chính quy, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Thông
qua đó lực lượng kháng chiến của ta đã trưởng thành về mọi mặt.

8
Trong bối cảnh đó, trên bình diện quốc tế cũng có nhiều biến chuyển

Cho đến tháng 6 năm 1950, trước âm mưu của thực dân Pháp muốn
tiếp tục tấn công lên Việt Bắc lần thứ 2 nhằm khóa chặt biên giới Việt –
Trung, thiết lập hành lang Đông – Tây, Trung ương Đảng ta đã quyết định
mở chiến dịch Biên giới. Yêu cầu của chiến dịch là tiêu diệt một phần quan
trọng sinh lực địch, giải phóng vùng biên giới phía Bắc nước ta; thu hẹp
phạm vi chiếm đóng của địch và mở rộng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tiến
tới giành thế chủ động trên chiến trường chính.
Như vậy, chiến dịch Biên giới có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
cục diện chiến tranh giữa ta và địch. Do đó, công tác phục vụ chiến đấu
trong chiến dịch này càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các cấp bộ
Đảng, chính quyền và Đoàn thanh niên cũng đã vận động được hàng vạn dân
công lên đường làm nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến, sửa cầu đường, vận
chuyển súng đạn, lương thực, thuốc men cho bộ đội với tinh thần sẵn sàng
hy sinh, chịu đựng gian khổ hoàn thành mọi nhiệm vụ. Tuy nhiên, lực lượng
dân công có những hạn chế nhất định. Trước hết, thời gian đi dân công phục
vụ cho các chiến dịch thường chỉ vài chục ngày đến một, hai tháng. Với thời
gian ngắn, đối tượng rộng rãi, các cấp lãnh đạo không thể làm tốt công tác tổ
chức, giáo dục chu đáo và cũng không thế đảm đương được những nhiệm vụ
đột xuất và những nhiệm vụ đòi hỏi thời gian dài.
Để đáp ứng yêu cầu to lớn của cuộc kháng chiến, vấn đề đặt ra cho
cách mạng chúng ta lúc này là không những phải huy động đông đảo dân
công, mà còn phải tổ chức thêm một lực lượng mới, trẻ, khoẻ, được giáo dục

10
và tổ chức chặt chẽ, thực sự là đội quân chủ lực trong dân công để có thể mở
hàng trăm kilômét đường, vận chuyển hàng vạn tấn lương thực, đạn dược
trong bất kỳ tình huống nào của cuộc kháng chiến. Chỉ có như thế, bộ đội ta
mới có đủ điều kiện để đẩy mạnh tác chiến theo hướng mở các chiến dịch
lớn, dài ngày.
1.2. Đội TNXP công tác Trung ương ra đời

Thành ủy Huế) công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng, nhận nhiệm vụ
Đội phó phụ trách công tác chính trị; đồng chí Đặng Hồ Khuê, cán bộ Trung
ương Đoàn phụ trách công tác cung cấp hậu cần. Theo nhiệm vụ được giao,
Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức
và giáo dục chính trị, tư tưởng của Đội. Tổng cục Cung cấp trực tiếp điều
động, phân công công tác và giải quyết mọi chế độ, chính sách cho cán bộ,
đội viên.
Sau khi Đội TNXP công tác Trung ương có quyết định thành lập, một
lần nữa Đảng và Hồ Chủ tịch lại khẳng định cuộc kháng chiến càng phát
triển thì vai trò của thanh niên càng to lớn, công tác vận động thanh niên
phục vụ chiến trường càng trở nên cấp thiết. Ngày 20 tháng 7 năm 1950, Hội
nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra nghị quyết về vận động thanh
niên, nêu rõ tầm quan trọng, vị trí, tính chất và nhiệm vụ của tổ chức thanh
niên. Trong đó nhấn mạnh công tác thanh vận phải “Động viên thanh niên
xung phong trong công cuộc hoàn thành chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng
phản công.” [25, tr. 417].

12
Với một bộ máy lãnh đạo có năng lực và đầy quyết tâm, cộng thêm lại
được Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh động viên kịp thời, Ban chỉ huy Đội
TNXP, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn đã tổ chức đợt tuyển đội viên đợt
đầu chủ yếu là ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc
Giang…Hàng chục cán bộ khung của Đội đã tỏa đi các địa phương và cùng
với các cấp bộ Đoàn nhanh chóng phổ biến chủ trương, chọn lọc những cán
bộ, đoàn viên, thanh niên ưu tú, tích cực để lập ra các phân đội (số người
tương đương với một trung đội của các lực lượng vũ trang) và các liên phân
đội (gồm một số phân đội). Cho đến những ngày cuối tháng 8 năm 1950,
công tác tuyển đội viên bước đầu đã tập trung được hơn 100 người. Số cán
bộ, đội viên này được tập trung về căn cứ địa kháng chiến (gần cơ quan
Trung ương Đoàn) ở vùng Suối Lê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

sẵn sàng đối phó với ta.
Còn ta, tuy thắng lợi ở Biên giới, diệt được nhiều sinh lực địch, mở
rộng căn cứ địa Việt Bắc, song mới chỉ thu hẹp được một phần phạm vi
chiếm đóng của địch; vùng trung du và đồng bằng đông người, nhiều của,
nơi có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của kháng chiến vẫn
còn nằm trong vùng kiểm soát của chúng. Do cách mạng Trung Quốc đã
thành công và đã khai thông được biên giới, ta có điều kiện tiếp nhận sự chi
viện về vật chất của anh em bè bạn, đặc biệt là của Đảng, Chính phủ và nhân
dân Trung Quốc, nhưng nhu cầu về vật chất của cuộc kháng chiến là rất lớn
và ta vẫn phải giải quyết theo phương châm “tự lực cánh sinh” là chính. Tác
chiến tập trung của ta được đẩy mạnh và tiến bộ rõ rệt, song chiến tranh du

14
kích lại chậm phát triển, một số nơi bị chững lại và gặp khó khăn nhất là ở
đồng bằng Bắc Bộ, nơi địch đang tiến hành bình định ác liệt.
Trung ương Đảng thấy cần phải tận dụng thời cơ có lợi, tranh thủ thời
gian, tiếp tục mở một số chiến dịch nhằm tiến công tiêu diệt sinh lực địch,
phá kế hoạch củng cố, bình định của chúng, phát triển chiến tranh du kích,
giữ vững quyền chủ động chiến lược vừa giành được trên chiến trường
chính.
Trước những yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến, Ban Thường vụ
Trung ương Đoàn khẩn trương mở rộng và phát triển Lực lượng TNXP công
tác nhằm phục vụ thật tốt cho các chiến dịch mà Trung ương Đảng có kế
hoạch triển khai.
Tháng 10 năm 1950, Trung ương Đoàn chỉ đạo thành lập Đội TNXP
công tác thứ 2. Tổng số lúc đầu của Đội là 1.737 đội viên, được tuyển ở các
tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh. Số lượng cụ thể là Đội Phú Thọ tuyển
được 600 người, Bắc Giang tuyển được 840 người, Bắc Ninh tuyển được
297 người [65, tr. 25].
Rút kinh nghiệm qua việc tổ chức Đội TNXP công tác Trung ương

chức Đội TNXP, được giáo dục tinh thần phục vụ kháng chiến với tính xung
phong trong mọi công tác, giữ kỷ luật chiến trường, được các đồng chí bên
quân đội hướng dẫn tận tình công tác sơ cứu, tải thương và đều được học
những vấn đề cơ bản về quân sự để sẵn sàng đáp ứng tốt những nhiệm vụ

16
được giao trong mọi tình huống. Đội TNXP công tác Trung ương còn tổ
chức lễ tuyên thệ cho các đội viên trước khi đi nhận công tác ở mặt trận.
Rút kinh nghiệm so với Đội TNXP công tác Trung ương đầu tiên, các
Đội TNXP Trung ương thành lập về sau đã chủ trương điều chỉnh về mặt tổ
chức trên nguyên tắc đơn giản tổ chức, trực tiếp và thống nhất lãnh đạo.
Theo đó, từ Đội TNXP công tác thứ hai sẽ bỏ cấp Liên đội, giải tán Ban chỉ
huy Đội các tỉnh. Toàn thể tổ chức TNXP Trung ương phục vụ trong mỗi
chiến dịch chỉ có một Đội và một Ban chỉ huy Đội. Dưới Đội là Liên phân
đội có từ 175 đến 220 người. Dưới Liên phân đội có phân đội, trong đó có 1
phân đội làm công tác tải thương. Mỗi phân đội phụ trách 5 cáng, mỗi cáng 4
người khiêng, tất cả là 20 và 1 đồng chí phụ trách. Mỗi cáng là 1 tổ, 5 đồng
chí phụ trách 5 tổ và đồng chí phân đội trưởng hợp thành Ban chỉ huy phân
đội. Ban chỉ huy Liên phân đội gồm có 6 người, 1 Liên phân đội trưởng và 5
ủy viên, mỗi ủy viên trực tiếp chỉ huy 2 phân đội.
Với sự phát triển và được tổ chức như vậy, trong những năm từ 1951
đến 1953, Lực lượng TNXP Trung ương đã vượt qua mọi gian nan, thử
thách, không quản hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu và sẵn
sàng chiến đấu trong các chiến dịch lớn. Lực lượng TNXP Trung ương đã
góp phần cùng quân và dân ta đã thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ II và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương sau Đại
hội. Kết quả đạt được trong việc thực hiện 3 nhiệm vụ chiến lược tiêu diệt
sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng của ta và phá tan kế hoạch bình định của
giặc, đã tạo ra những tiền đề đảm bảo cho quân và dân ta giành thắng lợi lớn
trong Đông Xuân 1953 – 1954. Đó là những nhận định rất quan trọng của Hồ

- Sinh hoạt: Ưu đãi theo bộ đội chủ lực, do Tổng cục Cung
cấp cấp phát và trang bị dụng cụ, vũ khí [12].
Và để thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 26/3/1953,
đại đội 261, đơn vị đầu tiên của Đội TNXP làm kiểu mẫu được thành
lập do đồng chí Vũ Kỳ làm Chỉ huy trưởng. Chỉ sau đó có 3 tháng,
Đội TNXP kiểu mẫu đã bao gồm 4 đại đội đầu tiên là 261, 263, 264,
266 trong đó mỗi đại đội có 4 trung đội, mỗi trung đội có 5 tiểu đội
[65, tr. 106].
Cũng từ đầu năm 1953, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai
đoạn cách mạng mới, Bộ Giao thông Công chính cho thành lập các đội chủ
lực giao thông với nhiệm vụ chủ yếu là sửa chữa và làm cầu đường đảm bảo
giao thông ở nhiều tỉnh với 19 đại đội gồm 3.131 người.
Như vậy, cũng trong năm 1953, cùng làm nhiệm vụ đảm bảo giao
thông, phục vụ chiến trường nhưng lại có 3 loại hình đơn vị khác nhau. Đó là
Đội TNXP công tác Trung ương (do Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc
Việt Nam tổ chức, chỉ đạo), Đội TNXP làm kiểu mẫu do đồng chí Vũ Kỳ
phụ trách và Đội chủ lực đảm bảo giao thông của ngành Giao thông Công
chính.
Trước tình hình này, Hồ Chủ tịch đã chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Văn
Trân (lúc này là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ
Giao thông) nghiên cứu việc tổ chức các lực lượng có chung nhiệm vụ sao
cho phù hợp để phát huy tác dụng một cách tốt nhất.
Thực hiện chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 15 – 8 – 1953, đồng chí
Nguyễn Văn Trân đã triệu tập một cuộc họp gồm thành phần là đại diện lãnh
đạo của Đội TNXP công tác Trung ương, Đội TNXP làm kiểu mẫu và Đội
chủ lực giao thông để bàn việc thống nhất 3 lực lượng ấy.

19
Cuộc họp đã thống nhất ý kiến rằng chỉ nên thống nhất 2 Đội TNXP
công tác Trung ương và Đội TNXP làm kiểu mẫu, còn Đội chủ lực giao

và phục vụ đến ngày kháng chiến thành công. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang
của thanh niên ta." [76]
Không thể chậm chễ hơn được nữa, theo đúng kế hoạch đã định, tháng
12 – 1953, sau khi đã hoàn thành việc chấn chỉnh, củng cố, Đội TNXP công
tác Trung ương và Đội TNXP làm kiểu mẫu đã tiến hành thống nhất. Tháng
1 – 1954, lực lượng TNXP thống nhất này mang tên mới là Đoàn TNXP
Trung ương (mật danh là Đoàn XP). Đoàn XP có tổ chức và cơ cấu như sau:
Về chính quyền: Đoàn XP là đơn vị trực thuộc Hội đồng Chính phủ
trong đó Đoàn Thanh niên Cứu quốc là lực lượng nòng cốt. Đoàn XP có Ban
chỉ huy Đoàn gồm 2 người do đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác) là
Đoàn trưởng và đồng chí Vũ Song làm Phó Đoàn trưởng. Các Đội có Ban
chỉ huy Đội 4 người và cơ quan Đội bộ. Ban chỉ huy Đoàn XP còn có các bộ
phận giúp việc như: Ban Cung cấp, Ban Tuyên huấn, Ban Tổ chức, Ban
Công tác và bộ phận hành chính.
Các đại đội có Ban chỉ huy 3 người và cán bộ kể cả nuôi quân, y tá
cứu thương. Các trung đội có 2 cán bộ trung đội.
Mỗi tiểu đội có 1 tiểu đội trưởng và 1 tiểu đội phó

21
Về tổ chức Đảng: Đoàn XP có Đảng ủy, Ở các Đội có Liên chi ủy từ 3
đến 5 người. Ở đại đội có Chi bộ, trong Chi bộ có các tổ Đảng được thành
lập tùy theo số đảng viên của từng Chi bộ.
Về tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc: Toàn Đoàn có một Ban Chấp
hành Đoàn. Ở Đội có Liên chi đoàn từ 5 đến 7 người và ở cấp đại đội có chi
đoàn rồi đến các trung đội có các phân đoàn và nhóm đoàn viên nằm trong tổ
tam giao của các tiểu đội.
Tình hình quân số: Tháng 12 – 1953 có 10.000 người.
Cuối tháng 12 – 1953 lực lượng TNXP thống nhất có 4 Đội là Đội 34,
Đội 36, Đội 38 và Đội 40.
Đến tháng 3 – 1954, Đoàn XP thành lập thêm Đội 42.

kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, Mục đích và ý nghĩa của chiến dịch,
Mười điều kỷ luật của Đại tướng, Tám điều Mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch,
|Báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Thanh niên Xung phong
Ngoài việc học tập những bài học chính trị, tư tưởng, đường lối của
Đảng, Nhà nước, Ban chỉ huy các Đội TNXP rất quan tâm đến vấn đề giáo
dục, rèn luyện đội viên trong thực tiễn công tác thực tế. Lao động gian khổ
và những thử thách ác liệt nhất ở chiến trường kết hợp với công tác giáo dục
chính trị đã tôi luyện cho thanh niên mau chóng trưởng thành, các anh chị
em TNXP ngày càng tha thiết với tổ chức và tập thể hơn, hăng hái vượt mọi
gian khổ, khó khăn để làm tròn nhiệm vụ của Đội đối với nhân dân, đối với
kháng chiến.

23
Đội TNXP ngày càng phát triển mạnh mẽ theo từng chiến dịch, rồi
Đội phát triển lên thành Đoàn TNXP, thực tế đó đặt ra yêu cầu công tác tư
tưởng, thông tin, văn hóa, văn nghệ phải không ngừng phát triển theo cùng
nhiệm vụ chính trị, chuyên môn. Chính tinh thần lạc quan, yêu đời bằng
những câu ca, điệu hát trong các buổi sinh hoạt văn nghệ hay trên đường
công tác đã tiếp thêm sức mạnh cho TNXP. Một bài thơ trên báo “Xung
phong”
1
ở Liên phân đội Hoàng Văn Thụ đã phần nào thể hiện điều đó:
“Trên rừng có những hươu nai
Sườn non có những gái trai sửa đường
Xông pha tắm nắng gội sương
Phục vụ tiền tuyến diệt phường xâm lăng”.
Cuộc sống trong rừng núi thiếu thốn đủ bề, những đêm khuya rét buốt
tiếng hò của TNXP làm đường vang vọng:
“Một, hai xin hỏi chín, mười
Muốn tăng năng xuất, ta thời làm sao?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status