Một số giải pháp quản lý chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học ở cơ sở II trường đại học lao động xã hội - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

BÙI ANH SƠN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
Ở CƠ SỞ II TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


NGHỆ AN - 2015

2


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

BÙI ANH SƠN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
Ở CƠ SỞ II TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC




DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt:

Được sử dụng là:

CBCNV

: Cán bộ công nhân viên

CB-NV

: Cán bộ - Nhân viên

CBQL

: Cán bộ quản lý

CNH

: Công nghiệp hóa

CSVC

: Cơ sở vật chất

GDĐH


VLVH

: Vừa làm vừa học

XHHT

: Xã hội học tập


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN...............................................................................................1
PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU.........................................................................78


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Quy mô đào tạo của Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội

28

2.2



Danh mục các ngành đào tạo theo hình thức VLVH

33

2.8

Bảng thống kê số lượng tuyển sinh hệ VLVH

34

2.9

Các cơ sở liên kết đào tạo

2.10

Quy mô đào tạo hệ vừa làm vừa học

2.11

Quản lý công tác tuyển sinh hệ VLVH

2.12

Quản lý kế hoạch thực hiện chương trình đào tạo hệ VLVH

2.13

Quản lý kế hoạch đào tạo năm học

43


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ

Tên bảng

Trang

1.1

Mối liên hệ giữa các chức năng của quản lý

16

2.1

Bộ máy quản lý Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội

30

2.2

Sơ đồ quản lý đào tạo hệ VLVH

39




lượng. Sự bùng nổ giáo dục đại học có thể dẫn đến những bất cập về chất
lượng, đặc biệt là chất lượng đào tạo đại học theo hình thức VLVH. Cùng với
giáo dục đào tạo đại học chính quy, giáo dục đào tạo đại học hệ VLVH (ngoài
chính quy) đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu của
chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của đất nước. Việc xác định thực trạng
công tác quản lý đào tạo hệ VLVH, suy nghĩ thấu đáo về nội dung, biện pháp
quản lý loại hình đào tạo này để thực hiện khâu đột phá đổi mới quản lý giáo
dục ở trường đại học, cao đẳng là việc làm cần thiết, góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo hiện nay.
Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội những năm qua đã có nhiều
cố gắng trong đổi mới công tác đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, do tiền
thân là một Trường Đại học được nâng cấp từ Trường Trung cấp chuyên
nghiệp, trong giai đoạn đầu triển khai hoạt động đào tạo, cần phải nghiên cứu,
khảo sát nhiều hơn nữa nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo để
đáp ứng nhu cầu chất lượng trước xu thế hội nhập toàn cầu và theo kịp bước
đà phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay.
Công tác quản lý đào tạo hình thức VLVH của Cơ sở II Trường Đại học
Lao động - Xã hội trong những năm qua cho thấy số lượng học viên đại học
hệ VLVH ngày một tăng trong khi những yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo
còn nhiều hạn chế. Việc nâng cao chất lượng đào tạo đại học hệ VLVH phụ
thuộc nhiều yếu tố nhưng việc đổi mới quản lý đào tạo là nhiệm vụ quan
trọng và cấp bách của Nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học
VLVH.
Quản lý đào tạo hệ VLVH của Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã
hội hiện nay vẫn còn có những bất cập nhất định trước yêu cầu đổi mới quản
lý đào tạo. Bên cạnh những đề tài nghiên cứu đi sâu vào bản chất khoa học

2



Nhóm phương pháp này giúp thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
• Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
• Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập;
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực
tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
• Phương pháp điều tra;
• Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
• Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
• Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp thống kê toán học
7. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận của vấn đề quản lý
chất lượng đào tạo hệ VLVH của trường Đại học.
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát thực trạng quản lý chất lượng đào tạo hệ
VLVH của Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội.
- Từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng đào tạo hệ VLVH ở
Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục
nghiên cứu luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý chất lượng đào tạo hệ VLVH
ở trường Đại học.
4


Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, vấn đề giáo dục thường xuyên
cho người lớn tuổi đã được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên,
có thể nói rằng cho đến tận cuối thập niên 50 của thế kỷ trước thì đào tạo
chính quy cơ bản vẫn là hình thức duy nhất trong hệ thống giáo dục và đào
tạo toàn cầu.
Năm 1972, Edgar Faure - Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về phát triển giáo dục
(thuộc UNESCO) trong tác phẩm nổi tiếng của ông “Học để làm người: Thế
6


giới giáo dục ngày nay và ngày mai” gửi UNESCO (Paris, UNESCO, 1972)
đã nêu các khái niệm quan trọng là “Học suốt đời” và “Tính phù hợp”, làm
xoay chuyển nhận thức về giáo dục. Với việc đặt giáo dục cho đối tượng
người lớn tuổi trong khuôn khổ của giáo dục suốt đời, khái niệm “Xã hội học
tập” được nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đưa ra bàn luận và kết quả tất
yếu là quan niệm về giáo dục đã được mở rộng hơn: Giáo dục người lớn, giáo
dục thường xuyên, giáo dục không chính quy phải được coi là bộ phận chủ
yếu quan trọng cùng với nhà trường chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt
đời cho mọi người. Đây là định hướng cho cải cách giáo dục giai đoạn này
[7].
Nhiều nghiên cứu cũng đề cập tới xu thế học tập suốt đời trong thời đại
mới. Chẳng hạn, Các nhà tương lai học như Alvin Toffer [33, 34, 35], Warren
Bennis, Stêphen Covey, Gary Hamel, Kevin Kelly, Philip Kotler, Michael
Porter, Perer Senge [3], Thomas L.Friedman [31, 32], Raja. RoySingh [29]…
đã lưu ý, phân tích các đặc trưng của xã hội hiện đại, được xây dựng trên nền
tảng của hệ thống tri thức khoa học phát triển nhanh, biến đổi mạnh và sự
thông tin toàn cầu. Nền giáo dục trong thế kỷ XXI sẽ hoàn toàn khác với nền
giáo dục truyền thống. Nền giáo dục phải hướng đến sự giáo dục suốt đời,
trên cơ sở thường xuyên đào tạo lại. Từ đó, đối với phần lớn cư dân, vừa làm
vừa học sẽ là con đường hiệu quả nhất để có thể thích ứng với nền kinh tế tri

Giáo dục luôn được xem là quốc sách hàng đầu và là động lực phát triển đất
nước. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam từng bước hội nhập và phát
triển thì nhu cầu về nguồn nhân lực qua đào tạo trở nên cấp bách, giáo dục đại
học (GDĐH) là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có chất lượng để đáp ứng
những đòi hỏi của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước; GDĐH là hạt nhân cơ bản
để xây dựng nền kinh tế tri thức. Các công trình nghiên cứu nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả học tập và làm việc của toàn xã hội được
các nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc, Nguyễn Minh Đường, Phạm Tất Dong,
Thái Xuân Đào, Hoàng Tụy… lần lượt được công bố.
8


Thực hiện quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo: “Giáo dục cho
mọi người”; “Cả nước trở thành một xã hội học tập”, GDĐH Việt Nam còn
phải thực hiện bước chuyển từ “Đại học tinh hoa” sang “Đại học đại chúng”
nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, học thường xuyên, học suốt đời ngày càng cao
của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Con đường tất yếu phải thực hiện là
“phát triển nhanh quy mô; đồng thời phải bảo đảm về chất lượng”. Do vậy,
một số tác giả đã nghiên cứu về đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, Chất
lượng giáo dục, các thành tố của chất lượng giáo dục (Nguyễn Văn Dân, Lê
Vân Anh, Nguyễn Hữu Chí) [1].
Tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) vào ngày 02/10/2011, lần đầu
tiên Bộ Giáo dục & Đào tạo phối hợp với UNESCO tại Việt Nam tổ chức
Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời với chủ đề “ Học tập suốt đời – Chìa khóa
của mọi thành công”. Sự kiện thu hút các nhà lãnh đạo đất nước, các nhà khoa
học đóng góp các giải pháp để xây dựng Xã hội học tập (XHHT) ở Việt Nam.
Nhiều tác giả đã viết về đào tạo và quản lý đào tạo. Trong đó, tác giả
Nguyễn Như Ất viết về: Giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy và
tự học trong hoạt động giáo dục và xã hội học [2].
Trần Đức Minh đã viết về một số yếu tố nâng cao chất lượng đào tạo ở

Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của những tác giả đi trước,
luận văn sẽ tập trung khảo sát những tồn tại trong quá trình quản lý chất
lượng đào tạo của hệ VLVH, từ đó làm căn cứ đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo của hệ VLVH nói riêng và chất lượng đào tạo
của nhà trường nói chung.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Chất lượng và chất lượng đào tạo hệ VLVH
1.2.1.1. Chất lượng
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, là một khái niệm rất trừu
tượng, được biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Chất lượng của sự vật
bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn
10


tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất
lượng và số lượng.
Một định nghĩa khác về chất lượng tỏ ra có ý nghĩa đối với xác định chất
lượng giáo dục và cả việc đánh giá nó. Đó là “chất lượng là sự phù hợp với
mục tiêu”. Mục tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm các sứ
mạng, các mục đích... Còn sự phù hợp với mục tiêu có thể là đáp ứng mong
muốn của những người quan tâm, là đạt được hay vượt qua các tiêu chuẩn đặt
ra. Tuy nhiên ý nghĩa thực tiễn của định nghĩa trên là ở chỗ đánh giá chất
lượng chính là xem xét sự phù hợp với mục tiêu đến mức độ nào.
Cũng có quan niệm về chất lượng được định nghĩa: “Chất lượng là cái
tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc” [27].
Tóm lại: Chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và là khái niệm
đa chiều, nhưng chung nhất đó là khái niệm phản ánh bản chất của sự vật và
dùng để so sánh sự vật này với sự vật khác.
1.2.1.2. Hệ vừa làm vừa học
Từ sau những năm 1980, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức cùng với

giáo dục ngoài nhà trường rộng lớn và vững mạnh. Hệ thống này còn phải gắn
chặt với hệ đào tạo và đào tạo lại căn cứ vào yêu cầu sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và các dự báo diễn biến của các hoạt động này.
Có thể nói triết lý xã hội học tập là triết lý của một nền giáo dục cần
thiết cho thế kỷ XXI dựa trên 4 trụ cột giáo dục và nền tảng của nó là học tập
suốt đời và xây dựng một xã hội học tập.
Song song với triết lý trên là cơ cấu phát triển giáo dục ngoài nhà
trường, nhằm thực hiện việc nâng cao dân trí với các loại hình giáo dục như
VLVH, đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn. . . Đây là loại hình giáo dục ở
Việt Nam cần phải được chấn chỉnh và phát huy để đạt được chất lượng tốt
nhất. Tăng cường các loại hình học tập mới theo chủ đề hoặc không theo chủ
đề thông qua các phương tiện truyền bá thông tin, văn hoá như phát thanh,
truyền hình, thư viện, sách báo . . . Chúng ta cũng cần phải phát triển hơn nữa
12


các hình thức giáo dục cộng đồng, các cơ sở học tập gắn liền với các tổ chức
Kinh tế - Xã hội (KT-XH), các hiệp hội khoa học, các lớp học chuyên đề,
thực hiện chủ trương người biết dạy người chưa biết. Nhu cầu học tập suốt
đời rất đa dạng để đáp ứng được nhiều mặt của cuộc sống.
Một số khái niệm mới như: giáo dục thường xuyên/ giáo dục tiếp tục,
giáo dục người lớn/ giáo dục VLVH, giáo dục phi chính quy. . . đã ra đời để
mở một lối thoát cho cuộc khủng hoảng về nguồn nhân lực ở các nước. Do đó
các loại hình giáo dục này được coi như một bộ phận quan trọng, cùng với
nhà trường chính quy cung ứng cơ hội học tập suốt đời cho mọi người.
Bản tuyên ngôn của Hội nghị thế giới lần thứ V về giáo dục người lớn/
giáo dục VLVH tổ chức tại thành phố Hamburg Cộng hòa liên bang Đức
tháng 7/1997 đã khẳng định giáo dục người lớn (hệ vừa làm vừa học) tuy
khác nhau về tổ chức tùy theo sự phát triển KT-XH, văn hóa, giáo dục ở mỗi
nước, song giáo dục người lớn đều là những bộ phận quan trọng, cần thiết của

phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm, vừa học; học liên tục; học
suốt đời nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn,
nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, có điều kiện tìm việc làm và
thích nghi với đời sống xã hội. Giáo dục không chỉ là một giai đoạn tức thời,
chỉ diễn ra một lần, chỉ giới hạn trong độ tuổi học sinh, sinh viên mà là một
quá trình học tập thường xuyên, là môi trường thử thách để mỗi con người tự
học, tự phấn đấu nâng cao trình độ hiểu biết và trình độ chuyên môn nghiệp
vụ. Học suốt đời là học tập có mục đích, có định hướng, không phải tùy hứng
hay ngẫu nhiên. Để duy trì và phát triển việc học tập suốt đời của mọi thành
viên trong cộng đồng, cần phải tạo ra một XHHT. Trong đó, không chỉ nhà
nước mới có trách nhiệm chăm lo cho giáo dục mà toàn xã hội cũng phải
tham gia đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục. Cơ hội học tập suốt đời
chính là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân. Như vậy giáo dục không
chính quy hay giáo dục VLVH là thực hiện triết lý XHHT.
14


1.2.1.3. Chất lượng đào tạo hệ VLVH
Chúng ta đều biết, giáo dục đại học, đặc biệt là đại học hệ VLVH đóng
vai trò cực kỳ quan trọng trong việc cung ứng nguồn lao động chất lượng cho
xã hội. Thực tiễn cho thấy chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều vấn đề cần
bàn. Nắm bắt được vấn đề này, mục tiêu của các trường đại học trong giai
đoạn mới đã được cụ thể hóa thành việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý
đào tạo. Nhận thức là vậy, nhưng thực tế tổ chức thực hiện thì vô cùng khó
khăn.
Quản lý đào tạo sao cho đạt hiệu quả là một bài toán khó, cho đến nay
chưa có lời giải thích hợp. Kết quả công tác quản lý đào tạo đại học hệ VLVH
phản ánh ở chất lượng đầu ra của học viên khi kết thúc khóa học. Kết quả đó
hiện nay chưa thực sự khả quan do nhiều nguyên nhân hạn chế trong quản lý
đào tạo. Hiệu quả chỉ thực sự đạt được khi kết quả đầu ra là nhân lực có chất


Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ giữa các chức năng của quản lý
Quản lý (tiếng Anh là Management, tiếng la-tinh manum agere - điều
khiển bằng tay) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ
phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và
thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thực và giá trị vô
hình).
Theo Từ điển tiếng Việt thì “Quản lý” là “trông nom, xếp đặt công việc
trong một cơ quan, xí nghiệp” [26].
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục nhằm làm cho hệ
thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thể
hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu
điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ được giáo dục tới
mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [28].
Theo Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các hoạt động dạy học. Có tổ
chức được các hoạt động dạy học, thực hiện các tính chất của nhà trường phổ
thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể
16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status