vai trò của tài chính công và biểu hiện của nó trong chính sách tài chính công của Việt Nam giai đoạn 2008-2010 - Pdf 33

Đặt vấn đề.

Tài chính công hiện đại ngày nay là một phạm trù kinh tế mang tính lịch
sử, vì cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, tài chính
công đã tham gia vào quá trình quản lý nền kinh tế, tức là nhà nước đã khai
thác, vận dụng công cụ để điều hành nền kinh tế - xã hội, thúc đẩy nền kinh tế
xã hội phát triển.
Chúng ta có thể thấy bản chất của tài chính trong nền kinh tế thị trường là
tổng thể hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa các thực thể tài chính phát
sinh trong quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính.
Vai trò của tài chính công luôn gắn liền với vai trò của nhà nước trong từng
thời kì nhất định. Mỗi nhà nước đều có sứ mạng chính trị riêng, có những quan
điểm khác nhau trong việc quản lý điều hành các hoạt động kinh tế xã hội từ đó
tài chính công là một trong các công cụ được nhà nước sử dụng nhằm thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước phù hợp với từng thời kì. Có thể khẳng
định 1 điều rằng vai trò của tài chính công là không thể phủ nhận. Sau đây,
chúng em xin được làm rõ hơn về vai trò của tài chính công và biểu hiện của nó
trong chính sách tài chính công của Việt Nam giai đoạn 2008-2010.


I: VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG
Để có thể đánh giá được vai trò của tài chính công ta căn cứ vào những
tác động của nó đối với toàn bộ nền kinh tế chính trị và xã hội của quốc gia trên
nhiều góc độ khác nhau, đó cũng là căn cứ từ chức năng mà tài chính công đảm
nhiệm. Vai trò tổng quát của tài chính công đó là: Là công cụ tập trung nguồn
lực tài chính nhằm đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà
nước, là công cụ của Nhà nước nhăm quản lý kinh tế thị trường. Cụ thể như sau:

TÀI CHÍNH CÔNG LÀ CÔNG CỤ BẢO ĐẢM NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH
CHO VIỆC DUY TRÌ SỰ TỒN TẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ CỦA
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC.

nguyện của các chủ thể trong nền kinh tế tạo lập quỹ tài chính công. Các
nguồn lực tài chính này được nhà nước huy động từ trong nội bộ nền kinh tế
quốc dân và từ nước ngoài, từ mọi hoạt động và mọi thành phần kinh tế, dưới
nhiều hình thức huy động khác nhau( thuế, phí, lệ phí bắt buộc, công trái..)
trong đó thuế là công cụ chủ yếu nhất. Những khoản huy động này có thể
mang tính bắt buộc hoặc tự nguyện hoàn trả hoặc không hoàn trả, tuy nhiên
tính không hoàn trả và bắt buộc là chủ yếu.
• Tài chính công phân phối các nguồn lực tài chính đã được huy động
và tập trung hình thành quỹ công cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước theo
những quan hệ tỷ lệ hợp lý. Phân phối sản phẩm quốc dân theo hướng tích lũy
để ổn định và phát triển kinh tế đồng thời cung cấp các nguồn vốn để thỏa mãn
các yêu cầu về hàng hóa và dịch vụ công cộng mà tài chính của khu vực tư nhân
không thể thực hiện được do một số đặc điểm đặc biệt của hàng hóa công.
Ngoài ra phân phối của tài chính công còn đảm bảo duy trì hoạt động của bộ
máy nhà nước và đảm bảo an ninh quốc phòng. Như vậy các quỹ tài chính công


vừa đảm bảo duy trì, tăng cường sức mạnh của bộ máy nhà nước, vừa đảm bảo
thúc đầy phát triển kinh tế, thực hiện chức năng xã hội của nhà nước đối với các
lĩnh vực, các đối tượng trong nển kinh tế.
• Tài chính công là công cụ để kiểm tra giám sát để bảo đảm cho các
nguồn tài chính đã được huy động một cách hợp lý hay chưa, việc phân phối và
sử dụng đã tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất không? Từ đó nhà nước sẽ có
những biện pháp điều chỉnh, quỹ tài chính của nhà nước luôn được huy động
nhanh nhất, chính xác hợp lý nhất, đảm bảo nguồn lực cho việc duy trì tồn tại và
hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước.

TÀI CHÍNH CÔNG LÀ CÔNG CỤ QUAN TRỌNG TRONG QUẢN LÝ VÀ
ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ XÃ HỘI.
Vai trò này được thể hiện thông qua việc nhà nước đã khai thác, vận dụng

việc làm điều chỉnh thuế điều chỉnh chi tiêu chính phủ, phát hành trái phiếu …
* Về mặt xã hội : Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện
công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội. Vai trò này được thể hiện
thông qua việc sử dụng các công cụ thu, chi của tài chính công để điều chỉnh
thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân, giảm bớt những bất hợp lý trong phân phối
thu nhập, đảm bảo công bằng và giải quyết các vấn đề xã hội, đáp ứng được
những vấn đề xã hội của nền kinh tế vĩ mô.
Một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế xã hội
đó là mức sống của dân cư, mặt bằng về văn hoá , phúc lợi xã hội. Nhu cầu về
các hàng hoá dịch vụ công với chất lượng cao như: giáo dục, y tế, văn hoá và
các dịch vụ xã hội khác ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của kinh tế,
văn minh của xã hội đòi hỏi nhà nước phải tăng cường đầu tư công. Hằng năm,
phân bổ nguồn lực tài chính công để thực hiện các biện pháp trong sự nghiệp
giáo dục đào tạo((phổ cập giáo dục), sự nghiệp y tê( chương trình y tế cộng


đồng), sự nghiệp văn hoá, xã hội được thực hiện thông qua các khoản chi tiêu
công. Ngoài ra nhà nước còn có những khoản chi tiêu công liên quan đến phúc
lợi, an sinh xã hội..nhằm nâng cao mức sống của nhân dân.
Kinh tế phát triển tăng trưởng kéo theo sự chênh lệch thu nhập giữa các vùng
miền, vùng dân cư càng gia tăng. Để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt
khoảng cách giữa người giàu và người nghèo chính phủ sử dụng những chính
sách tài chính công thông qua công cụ thuế và chi tài chính công. Thuế trực thu
mà cụ thể là thuế thu nhập cá nhân lũy tiến từng phần có vai trò điều tiết mạnh
thu nhập của những người có thu nhập cao và điều tiết ở mức hợp lý đối với các
cá nhân có thu nhập trung bình hoặc thấp. Bên cạnh đó thuế gián thu như thuế
tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng thuế xuất nhập khẩu có vai trò điều tiết thu
nhập thực tế có khả năng thanh toán của dân cư bằng việc đánh thuế cao với
hàng hóa dịch vụ cao cấp, đánh thuế thấp với các mặt hàng dịch vụ thiết yếu
đảm bảo đời sống dân cư.Với các chính sách trợ cấp trợ giá chi các chương

khỏi. Do đó nhà nước cần tăng cường can thiệp , quản lý và điều tiết của mình
là cần thiết và tất yếu nhằm giữ vững sự ổn định của quá trình phát triển. Trong
bối cảnh đó, vai trò của tài chình công càng trở nên quan trọng giúp nhà nước
đạt được các mục tiêu đã đề ra.

II: PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG GIAI ĐOẠN 2008-2010 TẠI
VIỆT NAM .
Trong bối cảnh của thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, giá dầu thô và nhgias
nhiều loại nguyên liệu, hàng hóa khác trên thị trường thế giới tăng mạnh kéo
theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong nước, lạm phát xảy
ra ở nhiều nước, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 dẫn đến một số nền kinh
tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm, thiên tai, dịch bênh đối với cây trồng
vật nuôi.... Đảng và nhà nước thể hiện vai trò lãnh đạo như sau:


Năm 2008:
Lạm phát chạm ngưỡng 20%, Chính phủ giảm mục tiêu tăng trưởng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 tăng gần 4%, nâng CPI 5 tháng đầu năm lên
mức cao nhất trong vòng 12 năm qua, đạt 15,96%. Lạm phát tăng cao, Quốc hội
đã nhất trí hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8,5 - 9% xuống còn 7%.
Và cũng nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã
hội trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và những khó khăn trong
nước, Chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp, đến nay đã đạt kết quả bước đầu
quan trọng.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 6,23%, GDP bình quân đầu người lần đầu
tiên vượt mốc 1.000 USD, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 65 tỷ USD, cao nhất
trong 10 năm qua.
Lạm phát được kiềm chế nhưng vẫn ở mức cao. Giá tiêu dùng tháng 12/2008 so
với tháng 12/2007 tăng 19,89% và giá tiêu dùng bình quân năm 2008 so với
năm 2007 tăng 22,97%. Nhìn lại năm qua, giá tiêu dùng diễn biến phức tạp,

hỗ trợ lãi suất 4% cho các doanh nghiệp, nguồn vốn cần huy động có thể lên
đến 400.000 tỷ đồng.
Những biện pháp của chính phủ:
1. Quyết liệt trong điều hành thu chi ngân sách:
Tăng cường kiểm soát và thực hiện đúng qui trình thu chi ngân sách Nhà nước,
tiếp tục rà soát các qui định, chế độ chi tiêu đảm bảo thực hiện đúng chủ trương


thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trình Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
số 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2008 về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh và tăng trưởng bền vững và Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 17/4/2008 về việc điều
hành kế hoạch đầu tư Xây dựng cơ bản và chỉ tiêu ngân sách năm 2008 phục vụ
mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Bộ Tài chính cũng đã ban hành Quyết định số 721/QĐ-BTC ngày 23/4/2008 về
việc giảm chi tiêu, tiết kiệm 10% chi thường xuyên NSNN năm 2008 và Thông
tư số 34/2008/TT-BTC ngày 23/4/2008 hướng dẫn triển khai thực hiện tiết kiệm
10% chi thường xuyên NSNN năm 2008 nhằm kiềm chế lạm phát. Thực hiện
nghiêm yêu cầu tiết kiệm chi tiêu trong nội bộ ngành Tài chính. Hoàn chỉnh
chính sách của Chính phủ về khuyến khích phát triển xã hội hóa. Tổ chức thực
hiện kế hoạch dự trữ quốc gia đảm bảo lực lượng dự trữ lương thực, vật tư trang
thiết bị tìm kiếm cứu nạn, văcxin, thuốc phòng bệnh nhằm ứng phó kịp thời với
tình hình xảy ra trong năm 2008.
Kết quả đã đạt được:
* Về thu Ngân sách Nhà nước: thực hiện tháng 4 ước đạt trên 30 ngàn tỷ
đồng, lũy kế thu 4 tháng đạt 38,6% dự toán.
* Về chi Ngân sách Nhà nước: Thực hiện tháng 4 ước đạt 33 ngàn tỷ
đồng, lũy kế chi 4 tháng đạt 33% dự toán.
2. Triển khai quyết liệt các biện pháp tài chính để kiềm chế lạm phát:
-

Chỉ thị về quản lý thị trường Chứng khoán tự do, phát triển Thị trường Chứng
khoán (TTCK) tập trung.
- Rà soát chính sách về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước,
xây dựng phương án huy động vốn cho học sinh, sinh viên vay vốn theo Quyết
định 157/2007/QĐ-TTg và Quyết định 319/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ. Đánh giá tình hình sử dụng nguồn vốn nợ, viện trợ nước ngoài để bổ sung
sửa đổi chính sách phù hợp.
- Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình và giải ngân nguồn vốn Công trái
giáo dục năm 2003, công bố lãi suất và chuẩn bị cho đợt thanh toán Công trái
giáo dục phát hành năm 2003 từ ngày 5/5/2008.


- Phối hợp với Văn phòng Chính phủ hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày
19/1/2007 về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước.Với việc
chỉ đạo quyết liệt các biện pháp tài chính bước đầu đã đạt được những kết quả
nhất định, góp phần kiềm chế được lạm phát, cụ thể là: Chỉ số giá tiêu dùng
tháng 4 năm 2008 so với tháng 3 tăng 2,2%. Tuy tốc độ tăng chỉ số giá tiêu
dùng vẫn còn cao song đã có dấu hiệu chậm lại và thấp hơn so với mức tăng của
3 tháng đầu năm 2008 nhưng lại cao hơn so với tốc độ tăng giá tiêu dùng tháng
4 của các năm trước (2004 - 2007). Chỉ số giá tháng 4 đầu năm tăng 11,6%
(tháng 4/2008 so với tháng 12/2007 và tăng 17,61% so với 4 tháng đầu năm
2007)
3. Hoàn chỉnh các dự luật và các vấn đề liên quan đến Ngân sách Nhà nước
trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII:
- Dự án luật sửa đổi bổ sung Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập
doanh nghiệp, Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, Luật thể thức trưng mua
trưng dụng tài sản.
- Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm 2006, báo cáo bổ sung về ngân
sách nhà nước năm 2007, tình hình thực hiện nhiệm vụ ngân sách nhà nước năm

Hạn chế : phát sinh tình trạng không công bằng giữu các doanh nghiệp được
vay và không được vay với lãi suất hỗ trợ.
Với chính sách tiền tệ lỏng gây nguy cơ lạm phát cao, gây đột biến thị trường
ngoại hối, vàng, bất động sản.

Năm 2010:

Lạm phát cao vượt dự kiến:


Lạm phát cao đã khiến người dân không còn muốn cất giữ tiền mặt, thay vào đó
đầu tư các tài sản có tính thanh khoản tốt và thường tăng theo lạm phát là USD
và vàng. Vì vậy, các ngân hàng không những khó huy động vốn mà tiền tiết
kiệm được rút ra để đầu tư vào các tài sản có tính an toàn cao hơn.
Chính sách tiền tệ thắt chặt: Ngày 5/11, NHNN quyết định điều chỉnh các lãi
suất thêm 1%, lãi suất cơ bản lên 9%, lãi suất tái cấp vốn lên 9%, lãi suất tái
chiết khấu lên 7%. Động thái này cho thấy NHNN đang sử dụng chính sách thắt
chặt tiền tệ để phòng chống lạm phát. Trong thời gian qua, NHNN cũng đã hạn
chế cung tiền qua thị trường mở.
Đầu tư khu vực nhà nước tăng mạnh: Năm 2010, dù lãi suất đứng ở mức rất cao
nhưng đầu tư trong nền kinh tế vẫn lên tới 43% GDP. Điều này cho thấy thực tế
là lãi suất cao không làm giảm tỷ lệ đầu tư trong nền kinh tế. Nguyên nhân là do
đầu tư khu vực nhà nước tăng lên rất mạnh và đã kéo mặt bằng lãi suất lên cao.
Sức ép từ Thông tư 13: Thông tư 13 yêu cầu nâng hệ số an toàn vốn tối thiểu
CAR từ 8% lên 9% và quy định số tiền cho vay không quá 80% huy động được.
Trước khi có quy định hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều có hệ số CAR chưa
đạt đến 9% và dư nợ cho vay lớn hơn vốn huy động.
Ngoài ra, quy định tại Thông tư 13 còn nâng hệ số rủi ro đối với các khoản cho
vay đầu tư bất động sản và chứng khoán từ 100% lên 250%. Do vậy, các ngân
hàng đã phải hạn chế cho vay và tăng cường huy động vốn để đáp ứng được quy

ngân hàng phải đối mặt với tỷ lệ nợ xấu cao. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) tăng lên đến
2.4% vào tháng 8/2010, từ mức 1.9% vào cuối năm 2009. Ngoài ra, khoản nợ
hơn 20,000 tỷ đồng của khoảng 10 ngân hàng thương mại trong nước cho
Vinashin vay cũng có nguy cơ biến thành nợ xấu bất kỳ lúc nào. Như vậy, có
thể thấy nợ xấu vẫn là mối lo ngại thực sự đối với các ngân hàng Việt Nam.
Mới đây, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s đã hạ bậc tín nhiệm của 6 ngân
hàng thương mại Việt Nam. Đây là lần thứ 2 trong năm 2010, Moody’s hạ mức


tín nhiệm của một số ngân hàng Việt Nam do rủi ro của các ngân hàng đang
tăng lên.

Tóm lại
Với tầm quan trọng và tầm quản lý vĩ mô thì tài chính công nắm vai trò chủ
đạo để dẫn dắt và điều khiển nền kinh tế ngày càng phát triển. Vì vậy khi nước
ta gia nhập vào nền Kinh tế Thế Giới (WTO) thì nhiệm vụ của tài chính công
như vị “ thuyền trưởng” để dẫn dắt cả đội tàu đi vào cửa biển lớn là nền kinh tế
thế giới.
Tuy nhiên tài chính công tại VN chưa thực sự phát huy hết vai trò của nó trong
nền kinh tế xã hội do tài chính công Việt Nam còn mờ nhạt, chính sách vẫn còn
lỏng lẻo, chưa kiểm soát được thị trường trong nước đã làm cho giá cả của một
số mặt hàng vẫn chưa ổn định như: giá sữa cao gấp 5 lần và giá ô tô cao gấp 3
lần so với giá của các nước khác trên thế giới hoặc khi giá xăng dầu thế giới
tăng lên thì giá trong nước cũng tăng theo, nhưng khi đã giảm thì giá trong nước
vẫn chưa được bình ổn.…Điều này là do tổ chức tài chính nước ta vẫn chưa
thực hiện tốt, không kiễm soát chặt chẽ được giá cả trên thị trường nói riêng
cũng như nền kinh tế nói chung làm cho có sự phân hóa nghiêm trọng giữa các
ngành kinh tế, các vùng kinh tế hay giữa các doanh nghiệp sản xuất… làm cho
kinh tế mất ổn định, rối loạn và mất ổn định, nền kinh tế sẽ bị lũng đoạn và trì
trệ., việc điều hành NSNN vẫn còn khó khăn, hạn chế, do đó chưa phát huy hết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status