BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA
—
–
˜
&
™
—
–
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2010
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP,
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA
TRONG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP MŨI NHỌN CỦA
&
™
—
– BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2010
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP,
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA
TRONG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP MŨI NHỌN
CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020 CƠ QUAN CHỦ TRÌ
VIỆN TRƯỞNG
Trịnh Hải Thái Ths. Tự động hóa, KS.
CNTT
VIELINA
3.
Nguyễn Công Hoàn CN. CNTT VIELINA
4
. Nguyễn Công Nghĩa CN. CNTT VIELINA
5
. Nguyễn Nam Hải KS. Tự động hoá VIELINA
6
. Nguyễn Bích Thủy CN. Kinh tế VIELINA
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
KH&CN Khoa học và công nghệ
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TSCĐ
Tài sản cố định
NC&PT
Nghiên cứu và Phát triển
NCKH&PTCN
Nghiên cứu khoa học và Phát triển công nghệ
SXTN
Sản xuất thử nghiệm
DNV&N Doanh nghiệp nhỏ và vừa
CNPT
Công nghiệp phụ trợ
QCKT
CNC
Computer Nomerical Control
Điều khiển số bằng máy tính
CC-Link
Control and Communication Link
Đường dẫn kết nối điều khiển và truyền thông
FL-net
(OPCN-2)
Open Controller Level Network
Mạng điều khiển mở
UEM
Unified Enterprise Model
Mô hình doanh nghiệp hợp nhất
FMS
Flexible Manufacturing Systems
Hệ thống sản xuất linh hoạt
MRP
Manufacturing Resource Planning
Hệ thống lập kế hoạch sản xuất
MES
Manufacturing Execution System
Hệ thống thừa hành sản xuất
CIM
Computer Integrated Manufacturing
Hệ thống sản xuất tích hợp với máy tính
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
UNIDO
United Nations Industrial Development Organization
Programmable Logic Controller
bộ điều khiển logic lập trình
DCS
Distributed Control System
Hệ thống điều khiển phân tán
TCP/IP
Transmission Control Protocol/Internet Protocol
Bộ giao thức liên mạng
CAS
Complex Adaptive Systems
Hệ tự thích nghi phức hợp
MỤC LỤC TrangMỞ ĐẦU
7
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY ỨNG
DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA TRONG CÁC NGÀNH
CÔNG NGHIỆP MŨI NHỌN
công nghiệp mũi nhọn 29
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN
TỰ ĐỘNG HÓA TRONG CÁC NGÀNH CÔNG
NGHIỆP MŨI NHỌN
2.1
2.1.1
2.1.2
2.1.3
2.1.4
Nhận diện một số chính sách của Nhà nước đã ban hành liên quan
đến thúc đẩy ứng dụng và phát triển tự động hoá
Chính sách về nghiên cứu và phát triển
Chính sách đầu tư đổi mới công nghệ
Chính sách thuế
Chính sách phát triển nguồn nhân lực
34
52
2.2.4
Về hình thành và phát triển các doanh nghiệp SXKD trong lĩnh
vực tự động hóa
54
2.3 Một số nhận xét chung về thực trạng ứng dụng và phát triển tự
động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn ở Việt Nam 56
CHƯƠNG III: TÌNH HÌNH, KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG VÀ
PHÁT TRIỂN TỰ ĐỘNG HÓA TRONG CÁC
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG KHU VỰC
3.1 Tình hình và xu thế ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các
ngành công nghiệp trên thế giới
59
3.1.1
3.2.5
Trung Quốc 73
3.2.6
Singapore 74
3.2.7
Malaysia 75
3.3 Một số nhận xét chung và bài học đối với Việt Nam về ứng dụng
và phát triển tự động hóa giai đoạn đến năm 2020 76
CHƯƠNG IV: CÁC GIẢI PHÁP, CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY
ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TỰ ĐỘNG
HÓA TRONG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP
MŨI NHỌN GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020
4.1 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đối với ứng dụng
và phát triển tự động hóa. Phân tích Ma trận SWOT
hoá đóng vai trò chủ chốt đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ với một quy mô rộng
lớn. Từ một tiềm năng trí tuệ, công nghệ tự động hoá đã trở thành một tài nguyên
thực sự và việc khai thác, ứng dụng, phát triển tài nguyên này đã tạo nên những
biến đổi sâu sắc trong lực lượng sản xuất, cơ sở hạ tầng, cấu trúc kinh tế, tính chất
lao động và cả cách thức quản lý kinh tế - xã hội. Với cuộc cách mạng KH&CN
hiện nay, chắc chắn rằng:
- Con người sẽ được trang bị những công cụ và điều kiện tuyệt vời để lao động
sáng tạo, nhưng nếu không chuẩn bị để tiếp cận và làm chủ chúng thì con người
sẽ rơi vào tình trạng nô lệ mà không có cách nào thoát ra được;
- Nền kinh tế cả cộng đồng thế giới sẽ phát triển không ngừng với tính toàn cầu
hoá ngày càng được tăng cường, tính hợp tác có điều kiện ngày càng cao, các
hàng rào thương mại ngày càng bị đẩy lùi, các luồng đầu tư trực tiếp nước
ngoài ngày càng gia tăng và do đó xuất hiện ngày càng nhiều các đối thủ tham
gia vào cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt và thường xuyên;
- Tiềm năng phát triển kinh tế của một quốc gia có tính quyết định không phải ở
tài nguyên thiên nhiên, ở lịch sử tồn tại và phát triển, ở số lượng lao động nhiều
hay ít mà là ở kho tàng thông tin và chất xám. Nguồn lực trí tuệ là nguồn tài
nguyên thực sự quyết định của quốc gia đó.
Đây là một thách thức nhưng cũng là một cơ hội để các dân tộc đi sau với nền
kinh tế đang phát triển có thể phát huy nội lực của mình vươn lên thành những
nước tiên tiến trong thế kỷ XXI này. Việt Nam với nền kinh tế được đặc trưng
bằng sự chiếm ưu thế của sản phẩm nông nghiệp và lao động nông thôn cũng
không thể tách rời khỏi những quy luật khách quan đó, vì thế Đảng và Nhà nước ta
trong nhiều thập kỷ gần đây đã lựa chọn công nghệ tự động hoá như một công
nghệ mũi nhọn ưu tiên, bạn đồng hành với công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu
và công nghệ sinh học trong tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII ngày 13/11/2008, Luật Công nghệ
cao đã được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, trong đó nêu rõ công
- Nâng cao chất lượng sản phẩm
- Tăng năng suất lao động
- Hạ giá thành sản phẩm
- Linh hoạt hoá nền sản xuất và đa dạng hoá sản phẩm
- Cải thiện và bảo vệ môi trường
Thực tiễn phát triển trong những năm qua cho thấy, để hóa giải những yêu cầu
nêu trên, không còn con đường nào khác là các doanh nghiệp trong các ngành
công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp mũi nhọn phải mạnh dạn đổi mới
công nghệ, hiện đại hóa trang thiết bị theo hướng áp dụng tự động hóa.
Với mục tiêu tạo lập một bức tranh tương đối đầy đủ về thực trạng ứng dụng và
phát triển tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn, đề xuất một số giải
pháp, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp đẩy mạnh đổi mới công
nghệ, thiết bị theo hướng áp dụng tự động hóa, đồng thời xây dựng một số luận cứ
khoa học làm cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách
khi tiến hành xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn đến
năm 2020, trong kế hoạch KH&CN năm 2010, Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học,
Tự động hoá đã đăng ký và đã được Bộ Công Thương giao chủ trì thực hiện đề tài
“Nghiên cứu, xây dựng các giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng tự động hóa
trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam giai đoạn đến năm 2020”. 9
2. Nội dung nghiên cứu
và các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn, cũng như công tác
đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành tự động hóa tại các trường đại học, cao
đẳng, đồng thời đề xuất một số giải pháp, chính sách cụ thể thúc đẩy ứng dụng và
phát triển tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn đến năm
2020.
Trong quá trình nghiên cứu, để đảm bảo độ tin cậy, tính khoa học và giá trị ứng
dụng, phù hợp với các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch phát triển trong các lĩnh
vực liên quan đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhóm thực hiện đề tài áp
dụng một hoặc phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
10
- Phương pháp kế thừa (tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu thực hiện
trước đây, kế thừa những kết quả điều tra, đánh giá, nghiên cứu đã có cả trong
và ngoài nước).
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế thông qua trao đổi, phỏng vấn trực tiếp.
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp chuyên gia.
- Tham khảo bài học kinh nghiệm nước ngoài (thông qua tham khảo tài liệu, trao
đổi và hợp tác với các tổ chức, cá nhân chuyên ngành…)
Sau khi xây dựng xong bản thảo Báo cáo tổng kết khoa học, nhóm nghiên cứu
tiến hành lấy ý kiến chuyên gia và tổ chức hội thảo khoa học để trao đổi, thảo luận
về các kết quả nghiên cứu của đề tài. Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các chuyên
gia, nhóm nghiên cứu tiến hành sửa đổi, điều chỉnh và hoàn thiện nhằm tăng độ tin
cậy, tính khả thi của các kết quả nghiên cứu.
miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất tổ quốc. Thời kỳ này ngành công nghiệp
Việt Nam được hình thành chủ yếu dựa vào trợ giúp của các nước XHCN. Với ý
tưởng tự lực tự cường nên cơ cấu ngành đã được hình thành nhưng là "cân đối
tĩnh", cụ thể là đã có 19 tiểu ngành công nghiệp, khá toàn diện, ít thua kém về số
lượng các tiểu ngành so với một số nền công nghiệp phát triển lúc đó trong khi
tiềm lực còn non yếu, cơ cấu lại được xây dựng trên một hệ trục là cơ chế kế
hoạch hoá tập trung với công cụ cân đối tĩnh mang tính chất tản mạn, thiếu mũi
nhọn, thiếu động lực phát triển. Đại hội lần thứ IV của Đảng (12/1976) có phương
hướng: "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ". Thực hiện phương hướng đó trong kế hoạch
1976 - 1980 đã bố trí nhiều công trình công nghiệp nặng then chốt, sau đó cho
công nghiệp cơ bản và công nghiệp cho xuất khẩu. Tuy nhiên việc điều chỉnh cơ
cấu trong giai đoạn này vẫn được quyết định hoàn toàn bởi Chính phủ theo kiểu kế
hoạch hoá tập trung, đối tác quốc tế chủ yếu ở thời kỳ này là các nước XHCN.
Đến cuối những năm 1980, sự đổ vỡ và chuyển đổi nền kinh tế các nước XHCN
đã tác động trực tiếp đến công nghiệp Việt Nam khi phải tham gia trong một môi
trường kinh tế quốc tế mới. Cơ cấu ngành, tiến trình phát triển và trật tự cũ đã
12
không cho phép doanh nghiệp có các sản phẩm cạnh tranh trên thị trường mới
trong các quan hệ hội nhập hoàn toàn mới mẻ.
Giai đoạn từ 1986 - nay
Sau gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng đề ra là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước và theo định hướng XHCN, ngành công nghiệp đã có bước
phát triển vượt bậc, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất được tăng cường,
nhiều ngành công nghiệp mới có kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại ra đời, môi
Năm 2007:
- Kết quả thực hiện vốn đầu tư xây dựng trong nước đạt khoảng 97.432,8 tỷ
đồng, tăng 32,6% so với năm 2006;
- Trong tổng số 1.445 dự án được cấp phép đầu tư có 823 dự án đầu tư nước
ngoài vào ngành công nghiệp (bằng 57% tổng số dự án đầu tư nước ngoài cả
nước) với tổng vốn đăng ký là 8,06 tỷ USD (tương đương 129,137 ngàn tỷ
đồng, bằng 45,2% tổng vốn đăng ký cả nước);
Năm 2008:
- Kết quả thực hiện vốn đầu tư xây dựng trong nước đạt khoảng 137,3 nghìn tỷ
đồng, bằng 85% kế hoạch năm, tăng 43% so với năm 2007 về giá trị tuyệt đối
vốn đầu tư;
- Trong tổng số 1.059 dự án được cấp phép đầu tư có 440 dự án đầu tư nước
ngoài vào ngành công nghiệp (bằng 42% tổng số dự án đầu tư nước ngoài cả
nước) với tổng vốn đăng ký là 32,16 tỷ USD (tương đương 537,027 ngàn tỷ
đồng, bằng 55,0% tổng vốn đăng ký cả nước).
Năm 2009:
- Kết quả thực hiện vốn đầu tư xây dựng trong nước đạt khoảng 145.225,4 tỷ
đồng, tăng 29,8% so với thực hiện năm 2008;
- Tổng vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 21,482 tỷ USD, giảm mạnh so với
mức 71,7 tỷ USD trong năm 2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu và chủ yếu do sự suy giảm trong lĩnh vực bất động sản. Vốn
đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp chiếm khoảng 19% (đạt 4,08 tỷ USD, tương
đương 71,229 ngàn tỷ đồng), đứng thứ ba sau dịch vụ ăn uống, lưu trú và dịch
vụ bất động sản.
100.000
150.000
200.000
250.000
300.000
2005 2006 2007 2008 Ước 2009
Nghìn tỷ VNĐ
Khu vực nhà nước Khu vực ngoài nhà nước Khu vực có vốn ĐTNN
Hình 1.2. Biểu đồ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành
phần kinh tế giai đoạn 2005 - 2009
Theo Biểu đồ này có thể thấy:
- Khu vực doanh nghiệp Nhà nước có mức tăng trưởng thấp nhất và đang có xu
hướng nới rộng khoảng cách về mức độ gia tăng kể từ năm 2006 đến nay so với
các thành phần kinh tế khác, cụ thể năm 2006 là 5,9%, năm 2007 là 5,0%, năm
2008 là 2,7% và năm 2009 là 1,6%;
- Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh là khu vực luôn đạt tốc độ tăng trưởng
cao nhất so với các khu vực khác, năm 2005 là 25,5%, năm 2006 là 25,7%,
năm 2007 là 24,7%, năm 2008 là 19,8% và năm 2009 là 10,1%;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài mới chính thức có trong cơ cấu công nghiệp
Việt Nam từ năm 1989, nhưng phát triển khá nhanh cả về quy mô và tốc độ sản
xuất, 20 năm liên tục tăng, năm cao nhất tăng 45,6% (năm 1991), năm thấp
2009
15
nhất 8,8% (năm 1995), bình quân 20 năm (1989 - 2009) tăng xấp xỉ
20,0%/năm.
Giảm
so với
2008
1
Tổng doanh thu
(Tỷ đồng)
329.699,4
11,0%
382.585
26,6%
341,8
10,2%
2
Thu nhập bình
quân của người lao
động (triệu
đồng/người/tháng)
2,8
10,3%
3,4
trị
Tăng so
với 2007
Giá
trị
Giảm
so với
2008
1
Tổng kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa
(Tỷ USD), trong
đó:
Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài
Khu vực 100% vốn
trong nước
48,387
27,8
20,6
21,5%
21,0%
5,1%
2
Kim ngạch xuất
khẩu hàng hóa
công nghiệp (Tỷ
USD)
36,910
21,5% 44,98
21,86%
29,37
53,15%
Bảng 1.2. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu hàng
hóa công nghiệp trong 03 năm 2007, 2008 và 2009
Trên Hình 1.3 là Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành công nghiệp
giai đoạn 2005 - 2009.
Năm 2008
Năm 2009
17
Ngoài việc tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung, hàng hóa
công nghiệp nói riêng, thị trường xuất khẩu cũng đã được mở rộng ra nhiều khu
vực trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào một số thị trường lớn trong
03 năm 2007, 2008 và 2009 được trình bày trên Hình 1.4.
Hình 1.4. Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường lớn
trong 03 năm 2007, 2008 và 2009
Phát huy những thành tựu thu được sau gần 25 năm đổi mới và phát triển, đồng
thời tích cực rà soát, sửa đổi, bổ sung và sớm ban hành các cơ chế, chính sách linh
hoạt, phù hợp, với phương châm: “Lấy phát triển kinh tế công nghiệp nhà nước
làm nền tảng, công nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài làm động lực phát triển
toàn ngành và coi đầu tư nước ngoài là chìa khóa để công nghiệp Việt Nam cất
cánh và hội nhập với thế giới”, trong giai đoạn đến năm 2020 công nghiệp Việt
Nam kỳ vọng sẽ có những bước đột phá, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển hài
hoà, có chọn lọc và hiệu quả.
1.2. Các ngành công nghiệp mũi nhọn ở Việt Nam. Định hướng và mục tiêu
phát triển đến năm 2020
Trong quá trình phát triển kinh tế, ở mỗi giai đoạn khác nhau, Đảng và Nhà
- Nhóm ngành công nghiệp nền tảng (hay còn gọi là trọng yếu) bao gồm các
ngành công nghiệp cơ bản sản xuất tư liệu sản xuất như các ngành hạ tầng và
năng lượng; một số ngành cơ khí, hoá chất cơ bản; hoá dầu, hoá dược, phân
bón để đảm bảo đáp ứng nhu cầu an ninh, an sinh, bảo đảm tự chủ trong điều
kiện có biến động lớn trên thị trường thế giới và đồng thời làm nền tảng cho
các ngành công nghiệp khác phát triển;
- Nhóm ngành công nghiệp có tiềm năng bao gồm các ngành công nghiệp sử
dụng hàm lượng tri thức và công nghệ cao như điện tử, viễn thông và công
nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, hoá chất là nhóm các ngành công nghiệp tuy
hiện nay giá trị sản xuất còn khiêm tốn nhưng có lợi thế so sánh động sẽ xuất
hiện và chuyển thành sức cạnh tranh hiện thực khi các điều kiện về công nghệ,
về nguồn nhân lực và khả năng tích luỹ tư bản cho phép.
Ba vấn đề lớn, trọng tâm trong Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020 được đề cập đến là khẳng định một số ngành công nghiệp
mũi nhọn, rà soát lại phân bố phát triển công nghiệp và thúc đẩy phát triển công
nghiệp phụ trợ, đặc biệt là trong sản xuất các linh kiện cơ khí. Riêng về các ngành
công nghiệp mũi nhọn, trong giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ khẳng định tiếp tục
lựa chọn các ngành thuộc Danh mục các ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn
2007 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020 trong Quyết định số 55/2007/QĐ - TTg ngày
23/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm:
- Cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tầu, thiết bị toàn bộ, máy nông nghiệp, cơ điện tử);
- Thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin;
- Các ngành sản xuất các sản phẩm từ công nghệ mới (năng lượng mới, năng
lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số).
Đây là những ngành có khả năng cạnh tranh, chiếm tỷ trọng đáng kể tại thị
trường trong nước và quốc tế, có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, dẫn dắt và kéo
theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, của các ngành công nghiệp phụ
- Cơ khí chính xác, khuôn mẫu, vật liệu cắt gọt và gia công áp lực… với mức độ
trang thiết bị có độ chính xác cao, được điều khiển bằng chương trình tự động
hóa.
Mục tiêu đến năm 2020 ngành cơ khí đáp ứng 55 - 60% nhu cầu sản phẩm cơ
khí của cả nước, trong đó khoảng 50% - 55% nhu cầu thiết bị toàn bộ, 25% - 30%
nhu cầu các máy điều khiển số bằng máy tính, 70% - 75% nhu cầu về máy động
lực, 70% các trang thiết bị y tế thiết yếu, đồng thời đảm bảo hoàn thành đúng tiến
độ, chất lượng Chương trình sản xuất các sản phẩm cơ khí trọng điểm và các sản
phẩm trọng điểm quốc gia.
Ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin
Ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin
là một trong những ngành có tiềm năng phát triển lớn và giữ vị trí then chốt trong
nền kinh tế hiện đại. Tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp sản xuất thiết bị
điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin được thể hiện ở khả năng khai thác lợi
thế so sánh động của Việt Nam là nguồn nhân lực dồi dào, cơ cấu lao động trẻ,
khéo léo, cần cù và tiếp thu nhanh công nghệ, kỹ thuật mới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn
thông và công nghệ thông tin có xu hướng chia nhỏ quá trình sản xuất thành các
công đoạn và quốc tế hóa từng công đoạn sản xuất. Các công ty đa quốc gia luôn
tìm kiếm những địa điểm thích hợp nhất để tổ chức các cơ sở sản xuất, phân phối
và liên kết với các cơ sở sản xuất khác trên toàn thế giới. Việt Nam được đánh giá
là quốc gia có cơ hội tham gia tích cực vào mạng lưới sản xuất thiết bị điện tử,
20
viễn thông và công nghệ thông tin của Đông Á và là một địa điểm thích hợp để
xây dựng các nhà máy, vì vậy công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn thông và
mạnh các dạng năng lượng mới, năng lượng tái tạo và nếu đầu tư khai thác đúng
hướng, trong tương lai nguồn năng lượng này có thể thay thế 100% năng lượng
truyền thống của Việt Nam. Hiện tại, điện hạt nhân là dạng năng lượng được các
nhà chiến lược và công nghệ năng lượng nước ta quan tâm, bởi sự hội tụ những ưu
điểm nội tại về mặt công nghệ và kinh tế, đặc biệt là trong xu thế cả thế giới đang
phải đối phó hiểm họa biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo kế hoạch, năm 2014 Việt
Nam sẽ tiến hành khởi công tổ máy đầu tiên theo nghị quyết của Quốc hội, đến
năm 2020 tổ máy điện hạt nhân này sẽ được đưa vào hoạt động và đến năm 2025,
mạng lưới điện quốc gia sẽ được bổ sung 11.000MW công suất điện hạt nhân
(bằng 5,5 lần công suất của nhà máy thủy điện Hòa Bình hiện nay), tăng tỷ trọng
điện hạt nhân trong toàn bộ hệ thống điện quốc gia lên đến con số 20 - 30%. Với vị
trí địa lý thuận lợi, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học cũng
21
là những dạng năng lượng có tiềm năng lớn cần được nghiên cứu để sớm khai thác
không những góp phần giảm gánh nặng về cung cầu năng lượng khi các nguồn
năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững. Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia
của Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050, được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt từ cuối năm 2007 đặt mục tiêu đến năm 2020, sản lượng điện từ năng
lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học chiếm khoảng 5% tổng năng
lượng thương mại sơ cấp và đến năm 2050 là 11%.
Công nghiệp phần mềm và Công nghiệp nội dung số là những ngành kinh tế tri
thức, công nghệ cao, có nhiều tiềm năng phát triển, đem lại giá trị gia tăng cao, tạo
ra giá trị xuất khẩu cao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Mục tiêu trong giai đoạn đến năm 2020 là vẫn duy trì được tốc
độ tăng trưởng trung bình khoảng 35 - 40%/năm. Tổng doanh thu từ công nghiệp
phần mềm đạt trên 1 tỷ USD/năm, từ công nghiệp nội dung số đạt khoảng 500 triệu
USD/năm, trong đó giá trị xuất khẩu đạt ít nhất là 40%. Để đạt được các mục tiêu
thế nào".
- Thành phần Tổ chức (O - Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực
tiễn, và bố trí để vận hành hiệu quả việc sử dụng Technoware bởi Humanware.
Nó có thể được thể hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ
chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ
công việc.
Bốn thành phần này bổ sung cho nhau và tác động lẫn nhau. Chúng đòi hỏi
phải có mặt đồng thời trong hoạt động sản xuất và không có hoạt động chuyển đổi
nào có thể hoàn thành nếu thiếu một trong bốn thành phần nêu trên.
Khảo sát sự biến đổi của công nghệ tự động hoá cho ta thấy được mức độ gia
tăng bên trong của mỗi thành phần. Khi mức độ phức tạp trong vận hành gia tăng,
nhu cầu về phát triển và sử dụng phần kỹ thuật có các cấp tinh xảo hơn sẽ tăng lên
và do đó cũng đòi hỏi phần năng lực tức là con người phải có sự tinh xảo phù hợp.
Vì cấp tinh xảo của phần kỹ thuật, con người tăng, nên cấp tinh xảo của phần
thông tin cần có để chỉ dẫn sử dụng các phần này cũng tăng theo. Cuối cùng là khi
một hoạt động biến đổi theo cấp gia tăng số lượng và phạm vi hoạt động, các chức
năng quản lý trở nên ngày càng phức tạp và do vậy càng đòi hỏi mức độ tinh xảo
lớn hơn trong phần tổ chức để kết hợp một cách có hiệu quả các phần kỹ thuật, con
người, thông tin.
Như vậy, hiểu và nắm bắt sâu sắc 4 thành phần của công nghệ tự động hoá sẽ
giúp các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, thiết kế, các nhà sản xuất thuận tiện
trong việc phân tích sự mất cân đối, không đồng bộ, chỉ ra chỗ yếu, điểm mạnh
của hệ thống hiện có và từ đó định ra hướng tăng cường, nhằm đáp ứng các nhiệm
vụ do yêu cầu của sản xuất đặt ra với những chi phí ít nhất về nguồn lực.
1.3.2. Vai trò của tự động hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
các ngành công nghiệp mũi nhọn nói riêng
cấu nền kinh tế. Các ngành công nghiệp áp dụng công nghệ tự động hóa hiện đại,
hiệu quả cao, có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng tăng trưởng và điều chỉnh cơ
cấu nền kinh tế. Việc hình thành và phát triển với tốc độ cao của các ngành nghề
mới nhờ ứng dụng tự động hóa đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ
cấu nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao (ở
những nước phát triển, dịch vụ chiếm tỷ trọng trên 70% GDP). Tự động hóa cũng
góp phần tạo ra các ngành nghề, các sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao, có khả
năng cạnh tranh và tiềm năng thị trường lớn; hiện đại hóa và có tác động mạnh mẽ
đến sự phát triển của các ngành nghề truyền thống.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển có quy mô dân số trên 85 triệu
dân, có nhiều tiềm năng về nguồn lực con người, tài nguyên, việc ứng dụng và
phát triển tự động hóa trong các ngành kinh tế nói chung, các ngành công nghiệp
mũi nhọn nói riêng càng là giải pháp quan trọng để thúc đẩy chuyển dịch và thực
hiện tối ưu hóa cơ cấu nền kinh tế cũng như thay đổi phương thức tăng trưởng
kinh tế. Ứng dụng và phát triển tự động hóa sẽ nâng cao được hàm lượng công
nghệ và trình độ phát triển theo chiều sâu nền kinh tế quốc dân, giảm thiểu tỷ trọng
các công nghiệp sơ chế, tiêu hao tài nguyên và áp lực đối với môi trường, thúc đẩy
và nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế. Ngoài ra, ứng dụng và phát triển tự
động hóa còn cho phép cải tạo, nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống trên
cơ sở thực hiện hiện đại hóa, tự động hóa các quá trình sản xuất và thay đổi các thế
hệ công nghiệp truyền thống.
Thứ ba, tự động hóa thúc đẩy đa dạng hoá mặt hàng, linh hoạt hoá quá trình
sản xuất. Tự động hoá có mặt từ khâu thiết kế đến khâu đóng gói sản phẩm trong
một dây chuyền sản xuất. Tự động thiết kế CAD không chỉ cần thiết kế sản phẩm,
mà còn dùng để mô phỏng, tính toán, phân tích, so sánh. Bộ chương trình máy tính
EPC (Engineering, Procurement, Construction - thiết kế kỹ thuật, cung cấp vật tư,
thiết bị, thi công xây lắp, chạy thử và bàn giao), một công cụ đắc lực giúp việc trở
24
tranh khốc liệt trên thị trường. Những bước đi từ số hoá đến máy tính hoá hệ thống
sản xuất ngày càng thực hiện theo con đường mềm hoá, linh hoạt hoá để thích nghi
với thị trường biến động. Hệ thống sản xuất linh hoạt FMS (Flexible
Manufacturing Systems) trở thành biểu tượng cho nền sản xuất hiện đại. Hệ thống
sản xuất tự động này cho phép đáp ứng nhanh với yêu cầu thay đổi mẫu mã và đặc
tính kĩ thuật của sản phẩm trong thị trường cạnh tranh. Hệ thống FMS cũng rất
thích hợp với quy mô sản xuất vừa và nhỏ. Hệ thống sản xuất tích hợp với máy
tính CIM (Computer Integrated Manufacturing) trở thành cốt lõi cho hệ thống
quản lý công nghệ và kinh tế của các doanh nghiệp hiện đại. Như vậy, càng ngày
tự động hoá càng nổi lên với vai trò chủ đạo, dẫn dắt nhiều ngành kinh tế kỹ thuật
phát triển.
Bản thân tự động hoá là một liên ngành, không thuộc một ngành kinh tế - kỹ
thuật riêng biệt nào, nhưng lại có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế - kỹ thuật. Nếu
hình ảnh “máy tính nhúng” (embeded) trong từng thiết bị và trong cả doanh nghiệp