BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LÊ HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LÊ HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi
Thành phố Vinh, ngày 07 tháng 3 năm 2015
Nguyễn Thị Lê Hà
ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BGH
: Ban giám hiệu
CBQL
: Cán bộ quản lý
CĐ – ĐH
: Cao đẳng – Đại học
CLB
: Câu lạc bộ
CSVC
: Cơ sở vật chất
GDĐT
: Giáo dục và Đào tạo
: Hội đồng nhân dân
HS
: Học sinh
TDTT
: Thể dục thể thao
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
TNCS
: Thanh niên cộng sản
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
Bảng 2.8: Ý kiến của GV về quản lý nội dung chương trình hoạt động
GDNGLL
65
Bảng 2.9: Ý kiến của học sinh về hình thức tổ chức hoạt động GDNGLL
67
Bảng 2.10: Nhận xét về sự phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động
GDNGLL
68
Bảng 2.11: Ý kiến của HS về nguồn quỹ dành cho hoạt động GDNGLL
70
Bảng 3.1. Thăm dò sự cần thiết của các giải pháp được đề xuất
109
Bảng 3.2. Thăm dò tính khả thi của các giải pháp được đề xuất
112
iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
iv
MỤC LỤC
v
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
5
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
7
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
10
1.2.1. Hoạt động giáo dục và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
10
1.2.2. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
12
1.2.3. Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
14
1.3. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
16
1.3.1. Vị trí và vai trò của hoạt động GDNGLL
27
1.4.2. Nội dung, phương pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp ở trường phổ thông
28
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp ở trường phổ thông
35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
40
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
41
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục
huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
41
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội huyện Châu
Thành, tỉnh Tiền Giang
54
2.3.1. Thực trạng về việc thực hiện các chức năng quản lý hoạt động
GDNGLL
54
vii
2.3.2. Thực trạng quản lý việc thực hiện nội dung chương trình hoạt
động GDNGLL
64
2.3.3. Thực trạng quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong
việc thực hiện hoạt động GDNGLL
68
2.3.4. Thực trạng quản lý việc sử dụng kinh phí và CSVC cho hoạt
động GDNGLL
69
2.4. Đánh giá chung về thực trạng
70
75
76
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện
77
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
77
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
78
3.2. Một số giải pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT
huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
78
3.2.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha
mẹ học sinh về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động GDNGLL
78
3.2.2. Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch và chỉ đạo hoạt động
GDNGLL
83
108
3.3.1. Mục đích
108
3.3.2. Nội dung
108
3.3.3. Phương pháp
109
3.3.4. Kết quả
109
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
117
1. Kết luận
117
GDNGLL. Đây là hoạt động nối tiếp và thống nhất hữu cơ với hoạt động
học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học
sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối
với thế hệ trẻ. Thông qua các hoạt động GDNGLL nhà trường có điều kiện
phát huy vai trò tích cực của mình đối với xã hội, mở ra khả năng thuận lợi
để gắn học với hành, nhà trường với xã hội. Như vậy hoạt động GDNGLL
không phải là hoạt động “phụ”, hoạt động “bề nổi” mà nó giữ vị trí quan
trọng trong các hoạt động giáo dục của nhà trường. Tuy nhiên trong thực tế
hoạt động này chưa được các trường phổ thông quan tâm đúng mức và đặt
nó vào đúng vị trí quan trọng vốn có của nó. Học sinh của chúng ta vì thế
sau khi ra trường chỉ có kiến thức khoa học mà thiếu hẳn những kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng sống cần thiết để bước vào đời. Đó cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá trong lối sống của một bộ phận
không nhỏ thanh thiếu niên hiện nay. Các trường THPT ở địa bàn huyện
Châu Thành tỉnh Tiền Giang cũng không ngoại lệ, rất ít quan tâm đến hoạt
động này. Vì nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan, nhà trường tổ chức hoạt
động này một cách hình thức, đối phó, nội dung nghèo nàn, đơn điệu, chưa
thu hút học sinh dẫn đến chất lượng và hiệu quả hoạt động GDNGLL chưa
cao. Hơn nữa trong tình hình hiện nay xã hội quan tâm nhiều đến giáo dục
và thường đánh giá chất lượng giáo dục thông qua tỷ lệ thi tốt nghiệp, đại
học. Từ đó mà áp lực thi cử đè nặng lên tâm lý của học sinh, giáo viên và
đội ngũ cán bộ quản lý. Chính vì thế mà các trường phổ thông hầu hết chỉ
tập trung toàn lực cho hoạt động dạy và học trên lớp. Hoạt động GDNGLL
2
chưa được các cán bộ quản lý thật sự quan tâm và việc triển khai kế hoạch,
tổ chức thực hiện, chỉ đạo và thực hiện đánh giá chưa đúng mức, còn lỏng
lẻo. Để khắc phục tình trạng trên, cần thiết phải có những giải pháp mang
tính chiến lược, những biện pháp cụ thể của cán bộ quản lý trong công tác
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở trường
THPT huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sưu tầm, phân tích và tổng hợp tài liệu, đọc và nghiên cứu các văn
bản về chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước, các văn bản của
ngành giáo dục nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, lịch sử nghiên
cứu đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp nhằm tìm hiểu thực trạng công tác quản lý
hoạt động GDNGLL ở các trường THPT huyện Châu Thành, tỉnh Tiền
giang.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:
- Phương pháp quan sát: Dự giờ sinh hoạt đầu tuần của toàn trường,
giờ sinh hoạt lớp của giáo viên chủ nhiệm, giờ học hoạt động GDNGLL tại
các trường được chọn để nghiên cứu nhằm tìm hiểu về hình thức và
phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL.
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của đối tượng
khảo sát: Xem và phân tích các kế hoạch của Ban giám hiệu, kế hoạch của
Đoàn thanh niên, giáo án của giáo viên chủ nhiệm, giáo án của giáo viên
dạy hoạt động GDNGLL nhằm thu thập thông tin về công tác chỉ đạo và
nội dung hoạt động GDNGLL ở các trường THPT huyện Châu Thành, tỉnh
Tiền giang.
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp chuyên viên Sở GDĐT
tỉnh Tiền Giang, trò chuyện với cán bộ quản lý của các trường, giáo viên và
học sinh nhằm thu thập thông tin về chất lượng hoạt động GDNGLL.
Dùng phiếu câu hỏi để trưng cầu ý kiến của:
4
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ lâu, hoạt động GDNGLL đã trở thành một đề tài nghiên cứu
phong phú và hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu khoa học và càng ngày
họ càng phát hiện ra vai trò to lớn của hoạt động GDNGLL trong việc hình
thành và phát triển nhân cách toàn diện của con người. Trong lịch sử, tư
tưởng giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục xã hội, giáo dục gia đình
đã được nhiều tác giả đề cập tới.
Khổng Tử (551 – 479 TCN), một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc
của Trung Hoa cổ đại đã đánh giá rất cao vai trò của giáo dục. Ông đưa ra
nguyên tắc và phương pháp giáo dục: “Học phải đi đôi với hành”. Ông luôn
dạy học trò học gì phải thực hành ngay điều ấy, củng cố tri thức đã học
không chỉ bằng cách ôn luyện trong sách vở mà phải bằng việc làm, gắn
việc học tập với sinh hoạt, với đời sống của tự nhiên và xã hội. Ông khẳng
định: “Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việc hành chính
không làm được, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp học kiểu
như vậy chẳng có ích gì” [21].
J.A Cômenxki (1592 - 1670) được coi là “ông tổ của nền giáo dục
cận đại”, là danh nhân văn hóa thế giới, đã có nhiều đóng góp lớn cho nền
giáo dục của nhân loại. Trong đó ông đặc biệt chú trọng đến việc kết hợp
học tập ở trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm thoát khỏi hình thức học
tập “giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống nhà trường giáo hội thời
trung cổ. Ông khẳng định “học tập không phải là lĩnh hội những kiến thức
trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây
dẻ” [21].
6
Pétxtalôgi (1746 - 1827), nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và người
đương thời gọi ông là “ông thầy của các ông thầy”. Bằng con đường giáo
dục thông qua thực nghiệm ông muốn cứu vớt trẻ em mồ côi, con nhà
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu về hoạt động GDNGLL đã thu hút được sự tham gia của
các nhà nghiên cứu, của các nhà giáo trong cả nước từ những năm 80 của
thế kỷ 20 trở lại đây. Chúng ta có thể chia làm hai giai đoạn sau:
* Giai đoạn từ năm 1979 trở về trước:
Điểm nổi bật ở giai đoạn này là khái niệm “Hoạt động GDNGLL”
chưa được định hình và chưa có tên gọi như ngày nay, nhưng nội hàm cơ
bản của khái niệm đã được đề cập trong “ Thư gửi học sinh” nhân ngày
khai trường tháng 9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người viết: “...
Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu
quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một
vài việc nhẹ nhàng trong công cuộc giữ gìn đất nước”. Trong “Thư gửi Hội
nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc” Hồ Chủ tịch đã viết: “Trong
lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng
học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học”.
Trong bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Vinh, ngày
15/5/1964, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói: “Phải giáo dục cho các em
có đầy đủ sức khoẻ để sống, để làm việc, trên cơ sở đó mà phát huy những
tài năng, để cống hiến cho sự nghiệp chung, đồng thời được sống một đời
sống phong phú nhất” [15].
Những nội dung liên quan đến hoạt động GDNGLL cũng được đề cập
tại điều 7, Điều lệ nhà trường phổ thông tháng 6/1976, đó là:
- Việc giảng dạy và giáo dục được tiến hành thông qua các hoạt động
giảng dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể….
- Hoạt động tập thể của học sinh do nhà trường phối hợp với Đoàn
thanh niên Lao động Hồ Chí Minh và Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí
Minh tổ chức, bao gồm các hoạt động văn hóa, chính trị, xã hội của Đoàn,
8
9
quan cách mạng; ngoài các hoạt động giáo dục trên đây, cần tổ chức thêm
những hoạt động ngoại khoá khác như thể dục thể thao, văn nghệ để công
tác giáo dục thêm phong phú”.
Theo Phạm Minh Hạc “Toàn bộ công tác giáo dục của chúng ta nhằm
xây dựng toàn diện nhân cách của con người Việt Nam sống và làm việc
trong thời đại đổi mới. Đó là nhân cách của người lao động sáng tạo năng
động, có tay nghề, có tâm hồn….chứ không phải là con người sống cốt cân
bằng với ngoài giới hay chỉ thích nghi với xã hội. Nhân cách sinh thành và
phát triển bằng các hoạt động đã nêu ở trên, trong đó có một hoạt động có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách là
hoạt động giao tiếp, vì tất cả các mối quan hệ có ở con người, quan hệ
người – vật, quan hệ người – máy,…. đều gắn bó bằng cách này hay cách
khác với quan hệ người - người” [22].
Điều 26, trong Điều lệ trường trung học cơ sở, trường THPT và trường
phổ thông có nhiều cấp học, (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TTBGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) có nêu:
-
Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và
hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Để đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục, đã có nhiều công trình nghiên
cứu làm rõ khái niệm “hoạt động ngoài giờ lên lớp” và xác định các hình
thức tổ chức có chất lượng hoạt động GDNGLL trong nhà trường. Cụ thể
chia theo hai hướng chính sau:
Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu cơ bản, mang tính lý luận nhằm xác
dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà
trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Nguyên lý giáo
dục là nguyên tắc chung, phương pháp tổng quát của hoạt động giáo dục.
11
Cán bộ quản lý giáo dục tất cả các cấp đều phải vận hành hệ thống giáo dục
theo nguyên lý này. Các chương trình bộ môn, kế hoạch dạy – học đều phải
được xây dựng theo nguyên tắc chung đó. Nội dung của nguyên lý này gồm
bốn điểm quan trọng cần lưu ý: Học đi đôi với hành, Giáo dục kết hợp với
lao động sản xuất. Lý luận gắn liền với thực tiễn, Giáo dục nhà trường kết
hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
1.2.1.2. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động GDNGLL là một hoạt động giáo dục được thực hiện một
cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực thi quá
trình đào tạo học sinh, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội.
Hoạt động này do nhà trường quản lý, tiến hành ngoài giờ dạy học trên lớp
(theo chương trình, kế hoạch dạy học). Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối
tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã
hội, được diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín
quá trình giáo dục, làm cho quá trình đó có thể được thực hiện mọi nơi, mọi
lúc.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: “Hoạt động GDNGLL là việc tổ chức
giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học kỹ thuật, lao
động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hóa văn nghệ,
thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí... để giúp các em hình thành và
phát triển nhân cách”. [18]
Hoạt động GDNGLL có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động dạy học
và tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận thức với
và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. [38]
Tóm lại, mặc dù có những kiến giải khác nhau, nhưng xét trên tổng
thể, phần lớn các nhà nghiên cứu đã thống nhất: quản lý là sự tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm
làm cho tổ chức hoạt động của hiệu quả cao. Quản lý là một yếu tố không
thể thiếu được trong đời sống xã hội. Xã hội phát triển càng cao thì vai trò
13
của quản lý càng lớn, phạm vi càng rộng và nội dung càng phong phú, phức
tạp.
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, PHHS và các lực
lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và
hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
1.2.2.2. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quản lý hoạt động GDNGLL là hoạt động có mục đích, có tổ chức,
và có kế hoạch của hiệu trưởng đến tập thể giáo viên và những lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động điều khiển họ tổ chức,
chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo những quy luật khách
quan nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhân cách toàn diện ở học sinh.
Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm
vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội do nhà trường quản lý, diễn ra
trong suốt năm học.
Có thể bàn đến nội dung quản lý hoạt động này theo các cách tiếp
cận khác nhau:
- Theo chức năng quản lý: Quản lý hoạt động GDNGLL chính là
thực hiện 4 chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt
động GDNGLL.
- Theo nội dung hoạt động GDNGLL:
quá trình giáo dục. Vì thế khi đưa ra bất kỳ giải pháp quản lý giáo dục nào
cũng cần phải quan tâm đúng mức đến hiệu quả của nó đối với công tác kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá quá trình giáo dục. Đây
chính là điểm khác biệt giữa giải pháp quản lý giáo dục với giải pháp nói
chung.
1.2.3.2. Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Giải pháp quản lý hoạt động GDNGLL là cách làm (hệ thống tác
động) của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cán bộ, giáo viên, học
15
sinh, hoạt động GDNGLL) để giải quyết các vấn đề khó khăn, tồn tại trong
việc thực hiện mục tiêu hoạt động GDNGLL.
Mỗi giải pháp thực hiện hoạt động GDNGLL phải đảm bảo cấu trúc
thành phần sau:
- Thực hiện một mục tiêu hay nhiều mục tiêu giáo dục.
- Xác định được chủ thể tham gia và các lực lượng phối hợp. Thường
hoạt động GDNGLL có hai chủ thể là giáo viên và học sinh. Xác định mối
quan hệ tương hỗ giữa các chủ thể, các lực lượng phối hợp, các tổ chức xã
hội, đoàn thể…góp phần nâng cao hiệu quả của các giải pháp thực hiện
chương trình hoạt động GDNGLL.
- Tính đến điều kiện chủ quan, khách quan chi phối hiệu quả hoạt
động GDNGLL.
- Thông thường khi lựa chọn một giải pháp quản lý hoạt động
GDNGLL là phải xem xét tính khả thi của giải pháp đó đối với việc quản lý
hoạt động GDNGLL. Điều quan trọng để đảm bảo tính hiện thực của giải
pháp là xác định quy trình các bước thực hiện giải pháp.
- Cuối cùng là đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các giải pháp. Để
quản lý hoạt động GDNGLL có rất nhiều giải pháp, nhưng vấn đề cơ bản là
phải biết lựa chọn các giải pháp phù hợp để thực hiện mục tiêu đề ra.