ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ
MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH
KHOA KHOA CƠ KHÍ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC
THIẾT KẾ DÂY CHUYỀN TỰ ĐỘNG LẮP
RÁP BÚT BI (TL 034)
SVTH : VƯƠNG QUỐC
MSSV : 20001882
SVTH :PHAN ĐÌNH QUANG
MSSV : 20001834
CBHD : Thầy TRẦN ĐẠI NGUYÊN
Thầy HUỲNH HỮU NGHỊ
BỘ MÔN : CAD/CAM/CNC
TP Hồ Chí Minh, 1 / 2005
TP HCM
BK
MỤC LỤC
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU.
…………………………………………………………………………………………….
…………………………………
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỰ ĐỘNG HOÁ , SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỰ ĐỘNG
HOÁ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1 Tình hình ngành cơ khí Việt Nam và triển vọng trong tương lai.................................
1.1.1 Những nét cơ bản................................................................................................
1.2 Khái niệm về tự động hoá sản xuất
1.2.1 Định nghĩa về tự động hoá
1.2.2 Các hình thức của tự động hoá
1.3 Sự phát triển của tự động hoá
4.2 Thiết kế sơ đồ động
4.3 Mô tả hoạt động của dây chuyền
Chương 5: PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT DÂY CHUYỀN
5.1 Các phương pháp vận chuyển phôi
5.2 Cơ cấu cấp phôi
5.3 Cảm biến kiểm tra
5.4 Cơ cấu điều khiển
5.5 Bộ phận công tác
Chương 6: TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ CÁC BỘ PHẬN TRONG DÂY CHUYỀN
6.1 Hệ thống dẫn động
6.1.1 Cơ cấu di chuyển
6.1.1.1 Thiết kế bộ truyền xích từ trục cam đến đầu cơ cấu di chuyển
6.1.1.2 Thiết kế bộ truyền xích từ đầu đến cuối cơ cấu di chuyển
6.2 Tính toán thiết kế phễu rung động
Chương 7: TÍNH TOÁN ,THIẾT KẾ CÁC CỤM CHI TIẾT KHÁC TRONG DÂY
CHUYỀN
7.1 Cụm cấp cán
7.2 Cụm cấp ruột
7.3 Cụm cấp tảm
7.4 Cụm vặn tảm
Chương 8: HỆ THỐNG ĐIỂU KHIỂN
8.1 Mô tả hoạt động của dây chuyền
8.2 Tính toán hệ thống cam
Chương 9: HƯỚNG DẪN VẬN HÀNH VÀ BẢO TRÌ DÂY CHUYỀN
9.1 Hướng dẫn vận hành
9.2 Bảo trì
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta hiện nay đang trong quá trình phát triển, nhu cầu về tự động hoá
Phần nội dung của đề tài tập trung chủ yếu vào việc đưa ra phương án thiết kế,
từ đó lựa chọn, tính toán để đưa ra phương án thiết kế hợp lí nhất, hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót
trong thiết kế cũng như trong cách trình bày. Rất mong sự chỉ bảo, hướng dẩn thêm của
quý thầy cô.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Trung Thực, Tự động hoá sản xuất, Khoa Cơ Khí-Bộ môn Chế Tạo Máy-
Trường ĐH Bách Khoa TPHCM
2. PTS. Đặng Văn Nghìn, Tự động hoá quá trình sản xuất, Trường ĐH Bách
Khoa TP. Hồ Chí Minh, 1991.
3. Đặng Thế Huy-Nguyễn Khắc Thường, Giáo trình nguyên lý máy, Nhà xuất
bản Nông Nghiệp, Hà Nội, 1982.
4. PGS. Trần Hữu Quế, Vẽ kĩ thuật cơ khí, Nhà xuất bản Giáo Dục, 2002.
5. Trịnh Chất-Lê Văn Uyển, Tính toán thiết kế Hệ dẫn động cơ khí [1, 2], Nhà
xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 2001.
6. Nguyễn Hữu Lộc, Cơ sở thiết kế máy (Phần 1), Trường Đại học Bách Khoa
TP. HCM, 2001.
7. KS Lê Ngọc Cương, Hướng dẫn lắp ráp điện dân dụng-Sơ đồ đấu dây, Nhà
xuất bản thống kê 2003.
8. CODIFOR, người dịch TS. Phan Đình Huấn, Kỹ thuật khí nén [1,2,3], Trung
tâm Bảo Dưỡng Công Nghiệp, 2000.
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỰ ĐỘNG HOÁ ,SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TỰ ĐỘNG HOÁ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trước khi đi tìm hiểu về vấn đề chính trong chương này là khái niệm về tự
động hóa và sự phát triển của nó trong giai đoạn mới, ta xem sơ lược về tình
hình ngành cơ khí của nước nhà và sự phát triển của nó trong tương lai để thấy
rõ sự cần thiết phải có tự động hoá như thế nào? Việc áp dụng tự động hoá cho
các nhà máy, xí nghiệp trong việc lắp ráp các chi tiết với nhau là cần thiết hay
không ? Có được cái nhìn chung như thế,ta mới nắm vững, hiểu rõ và phát huy
hết tác dụng của nó và áp dụng một cách linh hoạt và phù hợp với nền sản xuất
thiết bị – công nghệ đồng bộ với một hướng sản xuất rõ rệt ban
đầu
- Vốn đầu tư thấp, thiết bị đầu tư lẻ tẻ nhưng lại cố tạo ra một khả
năng khép kín công nghệ nên lại càng non yếu về năng lực sản
xuất về trình độ công nghệ.
- Một vài năm gần đây một số xí nghiệp đã cố đổi mới công nghệ-
thiết bị nhưng rất chật vật trên nền cũ của mình
- Năng lực sản xuất
- Máy động lực và phụ tùng nông ngư nghiệp
- Phụ tùng đơn giản cho làm đất
- Thiết bị chế biến nông lâm sản, thực vật
- Lắp ráp ô tô xe máy
- Đóng xà lang và tàu nhỏ ven biển
- Thiết bị điện: động cơ, máy biến thế
- Cơ khí tiêu dùng: xe đạp, quạt điện, phụ tùng x e gắn máy …
- Giá trị tổng sản lượng 1996, là 200 tỷ đồng
- Năng suất lao động trung bình 40triệu /người /năm
• Qui mô và nhân lực:
- Nhỏ, chủ yếu là sản xuất đơn chiếc, loạt nhỏ
- Tổng tài sản cố định: trên 70tỷ rất bé.
- Tổng số công nhân sản xuất trên 3000. Trong đó có hơn 13000
công nhân bậc 4 trở lên.
- Trên 400 cán bộ kỹ thuật có trình độ kỹ sư trở lên, nhưng ít có cơ
hội được đào tạo lại thường xuyên theo sự phát triển của khoa học
– công nghệ
• Về khoa học và công nghệ
- Trong bối cảnh chung của cả nước: lạc hậu khoảng 50năm
- Đặc biệt yếu về các công nghệ vật liệu và tạo phôi
- Đáng chú ý la ømột số xí nghiệp quốc doanh và tư doanh đầu tư
nhập công nghệ thiết bị hiện đại trong khuôn mẫu. Tỷ trọng thiết
chính xác ; lưu trữ và thay đổi dễ dàng trong khi thiết kế các sản phẩm. Khi dùng
CAD cần hiểu đúng:
Yù tường và những vấn đề thuộc về tư duy linh hoạt thì do người thực
hiện. Những công việc phân tích, so sánh, chọn lựa, tính toán theo một qui luật
xác định do máy tính thực hiện tự động
Máy tính thực hiện nhanh việc thể hiện thành bản vẽ 2 hoặc 3 chiều.
Mỗi lĩnh vực có từng loại CAD chuyên dùng thích hợp mới có sức mạnh
thực thụ cho người dùng.
Dùng công cụ CAM
Trên cơ sơ về dữ liệu về sản phẩm đã thiết kế nhờ CAD.
Với sự quyết định cách thức và qui trình gia công của nhà công nghệ.
Tạo ra các máy tính từ máy gia công CNC tự động thực hiện một cách
chính xác quá trình gia công.
Dùng công cụ CIM. Tích hợp các bộ phận của quá trình sản xuất từ CAD,
CAM kiềm tra chất lượng CAQC, kế hoạch sản xuất … Thành một hệ thống
được điều chỉnh nhờ máy tính.
Định hướng và khả năng ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến và cơ
khí tại nước ta:
Định hướng về mục tiêu qui hoạch phát triển
Sở công nghiệp thành phố đã đưa ra “ Định hướng quy hoạch phát triển
ngành công nghiệp cơ khí Thành Phố thời kỳ 1996 –2000 và 2001 “
• Nội dung cơ bản:
Làm xương sống cho nền kinh tế: Sản xuất lại và trang bị lại cho mình và
các ngành kinh tế.
Đầu tư chiều sâu vào những khâu quyết định khả năng cạnh tranh của sản
phẩm.
Đi thẳng vào công nghệ tiên tiến một số lĩnh vực tạo ra sản phẩm có chất
lượng cao.
Chú trọng xây dựng trung tâm nghiên cứu – phát triển.
Qui hoạch và tổ chức lại ngành thành 4 khối lớn.
máy tính CNC.
Cần phân biệt máy công cụ NC và CNC. Năng lực của 2 loại khác nhau rất
nhiều. Chỉ có máy CNC mới dùng công nghệ CAD được và mới thực sự hiệu
quả.
Hiện tại có một cơ sở đã dùng máy này, đáng chú ý là doanh nghiệp tư
nhân lại đầu tư mạnh hơn doanh nghiệp nhà nước.
Cần lựa chọn công nghệ thích hợp của máy cho mặt hàng cụ thể của cơ sở
sản xuất.
Không quên đầu tư cho công việc tạo phôi và xử lý vật liệu, xử lý bề mặt là
khâu kém hiện nay ở TP_HCM
Muốn chất lượng sản phẩm cơ khí được năng cao, không thể thiếu sự đóng
góp đồng bộ các công nghệ truyền thống như gia công các dậng bánh răng, các
bề mặt có dạng có độ chính xác và độ bóng cao bằng công nghệ mài, nghiền,
đánh bóng …
Đào tạo nhân lực cho các công nghệ tiên tiến
• Đào tạo nhân công:
Đủ năng lực vận hành thiết bị tiên tiến, biết phát hiện những bất thường để
kịp xem xét.
• Đào tạo kỹ sư:
Hiểu nguyên lý hoạt động, chọn công nghệ thích hợp, nắm chắc các phần
mềm và thiết bị
Làm chủ, sử dụng các phần mềm và thiết bị để điều khiền và lập trình một
cách hiệu quả.
Có năng lực và công nghệ tốt để quyết định qui trình và thông số công
nghệ khi sử dụng CAM.
Khả năng bảo dưỡng thiết bị hiệu quả.
• Khả năng đào tạo trong nước.
Ngoài việc gửi tu nghiệp nước ngoài, hiện nay ở trong nước cũng có một
số cơ sở có năng lực đào tạo:
Viện máy công cụ tại Hà Nội, trường đại học BK HN
khí, điện tử, máy tính để hoạt động, điều khiển sản xuất. Công nghệ này bao
gồm:
• Những công cụ máy móc tự động.
• Máy móc lắp ráp tự động.
• Người Máy công nghiệp.
• Hệ thống vận chuyển và điều khiển vật liệu tự động.
• Điều khiển có hồi tiếp và điều khiển quá trình bằng máy tính.
• Hệ thống máy tính cho việc thảo kế hoạch, thu nhập dữ liệu và ra quyết
định để hỗ trợ các hoạt động sản xuất.
1.2.2 Các hình thức tự động hoá
- Tự động hoá cứng:
Là một hệ thống trong đó một chuỗi các hoạt động (xử lý hay lắp ráp ) cố
định trên một cấu hình thiết bị. Các nguyên công trong dây chuyền này thường
đơn giản. Chính sự hợp nhất và phối hợp các nguyên công như vậy vào một thiết
bị làm cho hệ thống trở nên phức tạp. Những đặc trưng chính của tự động hoá
cứng là:
• Đầu tư ban đầu cao cho những thiết bị thiết kế theo đơn đặt hàng.
• Năng suất máy cao.
• Tương đối không linh hoạt trong việc thích nghi với các thay đổi sản
phẩm.
- Tự động hoá lập trình:
Thiết bị sản xuất được thiết kế với khả năng có thể thay đổi trình tự các
nguyên công để thích ứng với những cấu hình sản phẩm khác nhau.
Chuỗi các hoạt động có thể điều khiển bởi một chương trình, tức là một tập
lệnh được mã hoá để hệ thống có thể đọc và diễn dịch chúng.
Những chương trình mới có thể được chuẩn bị và nhập vào thiết bị để tạo
ra sản phẩm mới. Một vài đặc trưng của tự động hoá lập trình là:
+ Đầu tư cao cho những thiết bị có mục đích tổng quát
+ Năng suất tương đối thấp so với tự động hoá cứng.
+ Sự linh hoạt khi có sự thay đổi trong cấu hình sản phẩm.
nghiệp ở châu âu tự động hoá mới xâm nhập vào thực tế sản xuất.
• Năm 1765 xuất hiện bộ điều chỉnh tự động mức nước trong nồi hơi của
Pondunóp
• Năm 784 bộ điều chỉnh tốc độ trong nồi hơi của Johnoát đã xuất hiện.
• Giai đoạn phát triển này của tự động hoá đã đóng vai trò quan trọng trong
khoa học kỹ thuật, thúc đẩy việc tự động hoá quá trình sản xuất trong chế
tạo máy. Trong quá trình lao động con người đã bắt đầu cải tiến công cụ
thô sơ thành những máy đơn giản chẳng hạn máy tiện gỗ đặc trưng. Dần
dần người ta tiến hành cơ khí hoá, thay lực đặc trưng bằng động cơ, thay
tay người cầm dao tiện bằng bàn dao chạy theo sống trượt của máy. Tiếp
tục bổ sung các bộ phận cơ khí hoá khác, thêm và cải tiến dần các cơ cấu
điều khiển, càng ngày máy càng thay đổi và càng tiến bộ và trở thành
máy bán tự động, rồi tự động.
• Năm 1712 thợ cơ khí người Nga NARTOP đã thiết kế máy tiện chép hình
để tiện các chi tiết định hình. Việc chép hình theo mẫu được tiến hành tự
động, chuyển động dọc của bàn dao là do bánh răng – thanh răng thực
hiện. Và đến năm 1798 Henry Nandsley ở nước Anh mới dùng vít – Đai
óc để dịch bàn máy.
• Năm 1873 Spender đã chế tạo máy tiện tự động có ổ cấp phôi và trục
phân phối với cam đĩa và cam thùng.
• Đến năm 1880 thì nhiều hãng trên thế giới như: Pittler, ludwig, lowe( đức
), RSA( Anh ) … Đã chế tạo máy tiện tự động Rơvonve dùng phôi thép
thanh. Sau đó xuất hiện máy tiện tự động tiên dọc định hình.
• Vào đầu thế kỉ 20 bắt đầu có máy tự động nhiều trục chính, máy tự động
tổ hợp và đường dây tự động.
Ngày nay nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã có nhiều đường dây tự động
phân xưởng tự động và cả nhà máy tự động gia công các sản phẩm hàng loạt lớn,
hàng khối như vòng bi, pittong, chốt ắc …
Để áp dụng tự động hoá vào điều kiện sản xuất hàng loạt nhỏ và sản xuất
đơn chiếc khi mà số lượng chi tiết trong loạt ít mà chủng loại lại nhiều, người ta
lắp ráp vỏ máy. Thao tác kiểu này thường được làm bằng tay trong một tế bào
lắp ráp hoặc dây chuyền lắp ráp.
Việc lắp các phần tử trên và việc vặn bằng tay có thể dễ dàng thực hiện
bằng tay, vì con người là một cái máy cực kỳ khéo léo và thông minh. Tuy nhiên
nếu việc này mà tự động hoá thì thật không đơn giản chút nào. Cái khó nhất là
cho đinh ốc vào lỗ ghép hai phần tử, mà đôi khi các lỗ trên mỗi phần tử chưa
chắc đã trùng nhau. Khi lắp bằng tay người lắp có thể trông thấy được và canh
lại vị trí cho khớp, còn khi lắp bằng máy thì việc này không thể làm được. Khó
khăn nữa là sau khi lắp được đinh vít vào lỗ rồi thì phải lắp vòng đệm và đai ốc.
Người thợ một tay giữ đinh ốc, một tay giữ con tán xoay nhẹ cho con tán
ăn khớp với đinh ốc. Còn đối với máy tự động thì việc này rất khó thực hiện.
Việc vặn chặt ren là việc cuối cùng thì máy có thể làm việc không khó khăn gì.
Chính vì những khó khăn trên khâu lắp ráp các mối lắp ren là khó tự động hoá
nhất. Khâu này thường phải dùng đến con người để lắp sơ bộ trước sau đó máy
sẽ thực hiện việc kẹp chặt. Giá cao của lao động chân tay dẫn đến phải việc tìm
kiếm các công nghệ thích hợp và thiết kế các thiết bị tự động lắp ráp hoàn hảo.
Sau đây là những chỉ dẫn và những nguyên tắc có thể ứng dụng trong thiết
kế sản phẩm để việc lắp ráp tự động thực hiện dễ dàng.
1.4.2 Nguyên tắc ứng dụng trong thiết kế sản phẩm
• Giảm số lượng khâu lắp ráp:
Nguyên tắc này có thể triển khai trong quá trình thiết kế bằng cách kết hợp
nhiều chức năng trong cùng một chi tiết nào đó mà trước đây phải do nhiều chi
tiết ghép lại. Việc sử dụng các chi tiết từ chất dẽo là một ví dụ về nguyên tắc
này. Những hình dạng khá phức tạp của một miếng Plastic có thể thay thế cho
một vài chi tiết kim loại, mặc dù vật liệu Plastic có thể đắt hơn nhưng thời gian
tiết kiệm được trong quá trình lắp ráp đã chứngminh nó có thể thay thế được
trong nhiều trường hợp
• Sử dụng kết cấu tổ hợp:
Trong lắp ráp tự động, sự gia tăng số lượng của những bước lắp ráp riêng
lẻ đưa đến kết quả là gia tăng thời gian ngừng máy trong hệ thống. Reley cho
đoạn, không đồng bộ.
Nhận xét do đó nhu cầu tự động hoá là rất lớn. Nó góp phần năng cao nâng suất,
giảm tải công việc cho người công nhân.
1.5 Sự cần thiết phải có tự động hoá.
Các công ty hỡ trợ các dự án về vấn đề tự động hoá và CIM vì nhiều lý do
khác nhau. Một số lý do quan trọng gồm:
• Năng cao nâng suất:
Tự động hoá các quá trình hoạt động sản xuất hứa hẹn việc tăng năng suất
lao động. Điều này có nghĩa tổng sản phẩm đầu ra đạt năng suất cao hơn ( đầu
ra trên giờ ) so với hoạt động bằng tay tương ứng.
• Chi phí nhân công cao:
Xu hướng trong xã hội công nghiệp của thế giới là chi phí cho công nhân
không ngừng tăng lên. Kết quả là đầu tư cao lên trong các thiết bị tự động hoá
đã trở nên kinh tế hơn để có thể thay đổi chân tay. Chi phí cao của lao động
đang ép các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thay thế con người bằng máy móc. Bởi
vì máy móc có thể sản xuất ở mức cao, việc sử dụng tự động hoá đã làm cho chi
phí trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn.
• Sự thiếu lao động:
Trong nhiều quốc gia phát triển, có sự thiếu hụt lớn lực lượng lao động.
Chẳng hạn như Tây Đức đã bị ép buộc phải nhập khẩu lao động để làm tăng
nguồn cung cấp lao động của mình.
Việc thiếu hụt lao động cũng kích thích sự phát triển của tự động hoá
• Xu hướng dịch chuyển của lao động về thành phần dịch
vụ:
Xu hướng này đặc biệt thịnh hành ở Mỹ vào lúc 1986, tỷ lệ lao động được
thuê trong sản xuất 20%. Năm 1947, nó vào khoảng 30%. Trước năm 2000, ước
lượng làđạt con số khoảng 2%. Chắc chắn là tự động hoá sản xuất đã tạo ra sự
dịch chuyển này. Tuy nhiên còn có nhiều sức ép xã hội, đoàn thể chịu trách
nhiệm cho xu hướng này. Sự phát triển của lực lượng lao động văn phòng được
thuê được chính phủ liên bang, tiểu bang và địa phương đã tiêu thụ một phần
Thuận lợi này không thể phơi bày được dưới hình thức uỷ thác của công ty. Ưu
điểm của tự động hoá thường được thấy một cách bất ngờ và không lường
trứơc, thí dụ như hàng chất lượng cao, bán hàng nhiều hơn quan hệ lao động tốt
hơn. Công ty mà không tự động dễ thấy mình bị bất lợi với khách hàng, nhân
viên của họ và xã hội công cộng.
Tất cả những nhân tố trên hợp thành một bản đồng ca biến việc tự động
hoá sản xuất thành một công cụ hấp dẫn thay cho phươngpháp sản xuất bằng
tay.
Nhận xét: ta thấy để đảm bảo chất lượng của sản phẩm, đồng thời tăng
năng suất ta chọn hệ thống lắp ráp tự động đó là một quy luật tất yếu phải xảy ra.
Chương 2: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI BÚT BI TRÊN
THỊ TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ LẮP RÁP NÓ HIỆN NAY
2.1 Nhu cầu sử dụng bút bi hiện nay:
Xã hội ngày càng phát triển thì giáo dục càng được quan tâm, giáo dục
vững thì kinh tế mới mạnh và xã hội mới phát triển. Do đó, vấn đề giáo dục luôn
được đặt lên hàng đầu. Đối vơí nước ta, đào tạo, bồi dưỡng giáo dục luôn được
nhà nước và Đảng quan tâm, thể hiện ở các hội nghị trung ương các khoá gần
đây.
Vấn đề giáo dục được các đại biểu đề nghị cần có bổ sung và chỉnh sửa về
chương trình đào tạo, cải cách giáo dục, chú trọng phát triền giáo dục một cách
toàn diện nhất quán. Nhà nước thực sự quan tâm và đầu tư nhiều tiền và công
sức để phát triển giáo dục nước nhà, quan tâm và đầu tư để giải quyết dụng cụ
học tập cho học sinh, sinh viên mà những dụng cụ này trước đây là thiếu, cùng
với những chính sách mở cửa, thu hút thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các
nhà máy, công ty này tiếp xúc thị trường, giới thiệu sản phẩm ủng hộ họ để họ
mạnh dạng đầu tư trang thiết bị và các dây chuyền lắp ráp hiện đại để từng bước
cải thiện chất lượng, mẫu mã để có thể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng đặc
biệt là học sinh, sinh viên, và từng bước tạo được vị thế cho mình …
Chính vì vậy mà nhiều năm gần đây dụng cụ học tập ( thước kẻ, bút bi,
giấy tập…) cho học sinh, sinh viên rất đa dạng và được bán rộng khắp trên cả
được thay thế bởi bút bi do những ưu điểm của nó và thuận lợi so với bút máy
khi sử dụng
2.2.2 Bút bi
Bút bi dần dần thay thế bút máy do có những ưu điểm:
- Sử dụng dễ dàng, thuận tiện
- Không bị lem mực
- Bảo quản dễ
- Nét chữ có thể lựa chọn tuỳ ý.
- Đa dạng về mẫu mã
Dần dần sử dụng bút bi người ta thấy nó khắc phục được các khuyết điểm
của bút máy do đó nó càng được ưa chuộng và được sử dụng rộng rãi.
2.3 Thực trạng, xu hướng lắp ráp bút bi của các công ty hiện nay:
Hầu hết các công ty bút bi trong nước hiện nay thực hiện công đoạn lắp ráp
là bằng tay.
Các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ hoàn toàn lắp ráp bằng tay, chỉ có một số
công ty lớn như Thiên Long, HanSon... thì có trang bị dây chuyền lắp ráp tự
động (nhưng rất hạn chế).
Ơû hình thức lắp ráp bằng tay, do người công nhân trực tiếp lắp ráp từng
bộ phận, năng suất thấp, chất lượng không cao (do phải cầm nắm nhiều nên sản
phẩm dễ ố, dơ không còn vẻ bóng loáng cần thiết cho sản phẩm).
Do đó để tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm, giảm khối lượng công
việc cho công nhân phải có một dây chuyền lắp ráp linh hoạt đáp ứng nhu cầu đó
2.4 Hệ thống lắp ráp:
Để thấy rõ công việc lắp ráp được thực hiện như thế nào ta đi tìm hiểu các
hệ thống lắp ráp và xem xét nó để lựa chọn hệ thống lắp ráp cho hợp lý
Các phương pháp tổ chức quá trình lắp ráp được phân loại như sau:
2.4.1 Lắp ráp bằng tay tại một vị trí là:
Phương pháp lắp ráp trong đó chỉ cómột vị trí làm việc mà tại đó công việc
lắp ráp được hoàn tất, cho cả chi tiết hoặc hoàn tất một cụm nào đó cuả sản
phẩm.