BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2015
BÁO CÁO
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI NĂM 2014,
THÁNG 6 ĐẦU NĂM 2015 VÀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THI HÀNH
LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT THÁO GỠ
I. Về những kết quả đạt được
Năm 2014 và năm 2015 là những năm trọng tâm triển khai tổ chức thi
hành Luật Đất đai năm 2013 đã được Quốc hội thông qua và là năm bản lề thực
hiện thành công kế hoạch 05 năm 2011 - 2015. Với sự chỉ đạo quyết liệt của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường; sự
đoàn kết, nhất trí cao của tập thể Lãnh đạo Tổng cục Quản lý đất đai và sự nỗ
lực của các cán bộ, công chức, viên chức trong toàn ngành quản lý đất đai; sự
phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ tích cực của các Bộ, ngành, cơ quan liên quan ở
Trung ương và các địa phương trên cả nước, ngành quản lý đất đai đã hoàn
thành tốt nhiệm vụ được Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ giao, góp phần
quan trọng vào việc giữ ổn định chính trị, xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế của đất nước. Toàn ngành đã nghiêm túc triển khai thực hiện Chỉ thị
01/CT-TTg ngày 22/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thi hành
Luật Đất đai; triển khai thực hiện Chương trình công tác năm 2014, năm 2015 của
Chính phủ, của Bộ Tài nguyên và Môi trường và đã đạt được quan trọng sau đây:
1. Về việc chuẩn bị các điều kiện để tổ chức thi hành Luật Đất đai
a) Về công tác xây dựng chính sách, pháp luật đất đai
Xây dựng chính sách, pháp luật về đất đai là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của công tác quản lý nhà nước về đất đai của năm 2014 và năm 2015.
Cho đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường về cơ bản đã hoàn thành các văn bản
quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai được giao theo kế hoạch đề ra. Cụ thể Bộ
thiệu và trao đổi nhu cầu hợp tác trong triển khai thi hành Luật với các cơ quan
ngoại giao, các nhà tài trợ quốc tế.
Tại địa phương, 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã triển khai công tác
phổ biến Luật Đất đai và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đến các tổ
chức, cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhiều địa phương đã triển khai
cụ thể đến cả các đối tượng là cán bộ cấp huyện, cấp xã.
Nhìn chung, công tác tuyên truyền pháp luật đất đai đã được triển khai
rộng rãi đến mọi đối tượng với những nội dung thiết thực và hình thức phù hợp
được các Bộ, ngành, các địa phương và được dư luận nhân dân đánh giá cao.
Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật đất đai của
các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất.
c) Chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
trong thi hành Luật Đất đai
- Để việc triển khai thi hành Luật đảm bảo đồng bộ, kịp thời khi Luật có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành
văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập
trung chỉ đạo và thống nhất áp dụng pháp luật, đồng thời hướng dẫn việc xử lý
đối với một số vấn đề phát sinh trong quá trình chuyển tiếp giữa Luật cũ và Luật
mới2. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo Tổng cục Quản lý đất
đai ban hành 02 văn bản để chỉ đạo công tác cấp giấy chứng nhận, tập trung xây
dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai theo
1
03 Hội nghị phổ biến Luật cho cán bộ Sở TN&MT của 63 tỉnh, thành phố với khoảng gần 500 lượt cán bộ tham gia;
tổ chức 04 Hội nghị phổ biến, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ báo cáo viên về Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi
hành cho các Bộ, ngành, Sở TN&MT, Phòng TN&MT 63 tỉnh, thành phố với gần 1.130 đại biểu tham gia.
2
Công văn số 1001/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 25/3/2014 và Công văn số 2505/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 18/ 6/2014.
2
đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) cho
63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Đối với cấp huyện: có 352 đơn vị hành chính cấp huyện được Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 49,93%); có
330 đơn vị hành chính cấp huyện đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất (chiếm 46,81%); còn lại 23 đơn vị hành chính cấp huyện chưa triển khai lập
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 3,26%).
- Đối với cấp xã: có 6.516 đơn vị hành chính cấp xã được cấp có thẩm
quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 58,41%); có 2.907 đơn
vị hành chính cấp xã đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm
26,06%); còn lại 1.733 đơn vị hành chính cấp xã chưa triển khai lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất (chiếm 15,53%).
b) Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử
dụng đất kỳ cuối (2016-2020): Trong 6 tháng đầu năm, Bộ đã tập trung triển
3
khai việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử
dụng đất 05 năm kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia theo chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ tại Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20/5/2015. Đến hết tháng 6 năm 2015
đã có 06 Bộ, ngành và 52 tỉnh gửi Báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất và đăng ký nhu cầu sử dụng đất giai đoạn 2016-2020 và còn
một số tỉnh, thành phố chưa gửi báo cáo 3. Bộ cũng đã xây dựng kế hoạch và tổ
chức thực hiện việc kiểm tra các địa phương trong việc thực hiện quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) các cấp.
3. Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Trong năm 2014 và 6 tháng đầu năm 2015, đặc biệt là sau khi Luật Đất đai
có hiệu lực thi hành, Bộ TN&MT đã tích cực, chủ động chỉ đạo, hướng dẫn các
địa phương thực hiện công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, bảo đảm theo
đúng các quy định của pháp luật về đất đai. Bộ đã có Công văn số 1622/BTNMTTCQLĐĐ ngày 06/5/2014 và Công văn số 3398/BTNMT-TCQLĐĐ ngày
4
Năm 2014 và 06 tháng đầu năm 2015, Tổng cục đã tiếp nhận 190 văn bản của các địa phương và đã xử lý trình
Bộ trình Thủ tướng Chính phủ.
4
định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từng bước được điều chỉnh, bổ sung phù
hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường, đảm bảo tốt hơn quyền lợi hợp pháp
của người bị thu hồi đất. Việc tổ chức thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư của Trung tâm phát triển quỹ đất bước đầu đã phát huy hiệu quả tốt,
góp phần đáp ứng nhu cầu "đất sạch" để thực hiện các dự án đầu tư nhất là các
dự án đầu tư nhằm mục đích công cộng.
5. Về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu
địa chính
Đến nay cả nước đã cấp được 41.757.000 Giấy chứng nhận với diện tích
22.963.000 ha, đạt 94,9% diện tích cần cấp các loại đất chính. Tất cả các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương đều cơ bản hoàn thành mục tiêu cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 của Quốc hội.
Thực hiện mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai,
trong thời gian qua, Bộ đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc tổ chức
thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trong trên phạm vi cả nước. Đến nay,
đã có 121/709 đơn vị cấp huyện5 đang vận hành cơ sở dữ liệu đất đai (59 đơn vị
cấp huyện thuộc 9 tỉnh, thành phố thực hiện dự án VLAP, 62 đơn vị cấp huyện
thuộc Dự án tổng thể), trong đó có 59 đơn vị cấp huyện thuộc Dự án VLAP đã
vận hành và quản lý cơ sở dữ liệu đất đai liên thông ở cả 3 cấp: Xã - Huyện Tỉnh, điển hình là Vĩnh Long đã hoàn chỉnh mô hình xây dựng và vận hành cơ
sở dữ liệu đất đai toàn tỉnh. Đối với Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu đất lúa, đến
nay, đã hoàn thiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất lúa cho 9027 đơn vị cấp xã.
Một số các tỉnh đã cơ bản hoàn thành công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
nhưng vẫn chưa vận hành cơ sở dữ liệu đất đai như: thành phố Yên Bái - Yên
Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố, hiện đã có:
- 10840 đơn vị hành chính cấp xã đã hoàn thành việc điều tra khoanh vẽ
các chỉ tiêu kiểm kê ngoài thực địa (chiếm 97,09% tổng số xã).
- 8.662 đơn vị hành chính cấp xã đã hoàn thành việc xây dựng bản đồ kết
quả điều tra điều tra kiểm kê (chiếm 77,58% số xã).
- 5.875 đơn vị hành chính cấp xã hoàn thành tổng hợp số bộ số liệu cấp xã
(chiếm 52,61% tổng số xã).
- 3.492 đơn vị hành chính cấp xã đã hoàn thành xây dựng bản đồ hiện
trạng sử dụng đất (chiếm 31,27% tổng số xã).
- 2.924 đơn vị hành chính cấp xã đã hoàn thành xây dựng báo cáo kết quả
thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp xã năm 2014
(chiếm 26,29% tổng số xã).
Nhìn chung công tác thống kê, kiểm kê đất đai được thực hiện theo quy
định của Luật Đất đai, phục vụ cho việc đánh giá và hoàn thiện chính sách pháp
luật về đất đai, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, góp phần xây dựng
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
7. Về công tác định giá đất
7.1. Tại Trung ương
Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, Bộ đã chủ trì xây dựng trình Chính phủ
ban hành Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất;
Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 quy định về khung giá đất. Bộ
đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 quy định chi tiết
phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể
và tư vấn xác định giá đất; Thông tư số 20/2015/TT-BTNMT ngày 20/4/2015
ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật để lập dự toán ngân sách nhà nước phục vụ
công tác định giá đất.
Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã tạo hành lang pháp lý đồng
bộ cho công tác định giá đất tại địa phương. Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi
trường đã tổ chức 03 lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ định giá đất cho hơn
300 cán bộ làm công tác định giá đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường của 63
cho ngân sách nhà nước, bảo đảm quyền lợi của người có đất thu hồi.
8. Về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất
Đến tháng 6 năm 2015, Tổng cục quản lý đất đai đã triển khai 17 cuộc
thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai, cụ thể: 04 cuộc thanh tra việc quản
lý, sử dụng đất đai của các tổ chức sử dụng đất theo Chỉ thị 134/CT-TTg tại các
tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Bình Dương, Khánh Hoà, Đà Nẵng; 02 cuộc thanh
tra việc quản lý, sử dụng đất nông, lâm trường tại tỉnh Hoà Bình và Lâm Đồng;
02 cuộc thanh tra việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố Hà
Nội và TP. Hồ Chí Minh; 09 cuộc thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai tại
20 Dự án phát triển nhà ở tại các tỉnh, thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bắc
Ninh, Bình Thuận, Nghệ An, Long An, Sóc Trăng, Đồng Nai.
Tổng cục cũng đã tiến hành triển khai kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng
đất và thực hiện chính sách pháp luật đất đai tại 5 tỉnh: Lạng Sơn, Long An, Trà
Vinh, Yên Bái và Hải Dương. Qua kiểm tra, bước đầu đã phát hiện những sai
phạm trong việc tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Bên cạnh đó, trên cơ sở báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương và báo cáo của các đoàn thanh tra, kiểm tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
cho công khai 148 trường hợp vi phạm tại 09 tỉnh, thành phố (Quảng Bình, Vĩnh
Phúc, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lạng Sơn, Thanh Hoá, Đồng Tháp, Hà Tĩnh và An
Giang) trên Cổng thông tin điện tử của Bộ.
Thông qua đợt kiểm tra liên ngành theo Quyết định số 1732/QĐ-BTNMT
ngày 18/8/2014 về việc kiểm tra việc cấp Giấy chứng nhận tại các dự án nhà ở
trên địa bàn thành phố Hà Nội, đã phát hiện 12 trường hợp vi phạm và đã được
7
công khai thông tin trên trang điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
9. Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai
Trên cơ sở Luật đất đai năm 2013, các văn bản hướng dẫn thi hành, thực
hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 347/TB-VPCP ngày
lập Văn phòng đăng ký đất đai và đi vào hoạt động (gồm: Đà Nẵng, Hà Nội, Hải
Phòng, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Quảng Ngãi, Thái
Bình, Bắc Ninh, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lào Cai, Lâm Đồng, Bình Dương, Gia
Lai, Bình Thuận, Khánh Hoà, Tiền Giang, Cao Bằng, Bình Phước, Hưng Yên và
Trà Vinh, Long An); 40 tỉnh đã lập Đề án, đang trình phê duyệt.
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, cả nước đã có 62/63 Tổ chức phát triển
6
Quyết định số 1839/QĐ-BTNMT ngày 27/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Thông báo số 347/TB-VPCP ngày 27/8/2014
8
Văn bản số 5705/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 25/12/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
7
8
quỹ đất cấp tỉnh được thành lập (tỉnh Lào Cai chưa thành lập). Đối với cấp
huyện, cả nước có 338/696 huyện, thị xã, quận, thành phố thuộc tỉnh đã thành
lập Tổ chức phát triển quỹ đất cấp huyện. Thực hiện quy định của Luật Đất đai
năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, tính đến hết tháng 6 năm
2015, hầu hết các địa phương mới chỉ xây dựng đề án thành lập Tổ chức phát
triển quỹ đất theo mô hình một cấp.
II. Đánh giá chung về những mặt được, những tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân
1. Những mặt được
Trong năm 2014 và 6 tháng đầu năm 2015, ngành quản lý đất đai đã
nghiêm túc triển khai thực hiện Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, ý kiến chỉ đạo
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Chương trình công tác của Bộ Tài
nhằm dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp
9
khi thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai.
2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
2.1. Về công tác xây dựng chính sách, pháp luật đất đai và triển khai thi
hành Luật Đất đai: Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hiện nay một số văn
bản quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai do các Bộ, ngành khác được giao chủ
trì xây dựng vẫn chưa được ban hành, gây khó khăn cho địa phương trong việc
tổ chức thi hành Luật Đất đai. Có một số nội dung, tuy đã giao trách nhiệm
nhưng nhiều địa phương chưa ban hành quy định như trình tự, thủ tục cưỡng chế
thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Thực tiễn triển khai thi hành
Luật cho thấy vẫn còn có một số nội dung pháp luật về đất đai chưa có quy định
điều chỉnh; một số nội dung mặc dù đã có quy định nhưng khó khả thi vì chưa
phù hợp với điều kiện thực tiễn triển khai tại các địa phương.
2.2. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Một số địa phương phê
duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2015 cấp huyện muộn so với quy định, dẫn đến
việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo kế
hoạch bị ảnh hưởng. Có nhiều địa phương còn gặp khó khăn khi giải quyết đối
với trường hợp phát sinh các dự án, công trình chưa có trong kế hoạch sử dụng
đất hàng năm cấp huyện do chưa có quy định về việc điều chỉnh kế hoạch.
2.3. Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất: Tại nhiều địa
phương, việc áp dụng thực hiện quy định về điều kiện để được giao đất, cho thuê
đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai còn
lúng túng. Nguyên nhân là do vẫn còn thiếu các quy định để xử lý chuyển tiếp
giữa Luật cũ và Luật mới về các trường hợp giao đất, cho thuê đất, cho phép
chuyển mục đích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện
dự án đầu tư; dự án triển khai tại các khu vực nhạy cảm về an ninh, quốc phòng.
2.4. Về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Công tác bồi
Giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai còn hạn chế. Hệ thống hồ sơ
địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính chưa được cập nhật, chỉnh lý biến động
thường xuyên, kịp thời theo quy định.
Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc nêu trên là do:
- Kinh phí đầu tư của địa phương và hỗ trợ của Trung ương cho thực hiện
đo đạc, cấp giấy chứng nhận trong những năm qua còn hạn chế so với nhu cầu
do nguồn thu từ đất giảm mạnh trong những năm qua và ngân sách Trung ương
gặp nhiều khó khăn;
- Việc đo đạc lập bản đồ địa chính còn chậm, nhiều địa phương chưa có bản
đồ địa chính nhất là khu vực đất nông nghiệp, nông thôn, các nông, lâm trường;
- Nhiều địa phương trong nhiều năm qua, sau khi cấp giấy chứng nhận đã
triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với quy hoạch lại
đồng ruộng, dồn điền đổi thửa, dẫn đến thay đổi cơ bản so với các giấy chứng nhận
đã cấp; do đó, phải thực hiện đo đạc, chỉnh lý lại bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính
và cấp đổi giấy chứng nhận cho người dân trong những năm tới để đáp ứng yêu cầu
quản lý đất đai và thực hiện các quyền của người sử dụng đất;
- Việc rà soát, sắp xếp, xác định ranh giới, mốc giới, giải quyết tranh
chấp, vi phạm pháp luật đất đai của các nông, lâm trường, ban quản lý rừng thực
hiện còn chậm, kém hiệu quả.
2.6. Về công tác thống kê, kiểm kê đất đai: Việc báo cáo và công bố kết
quả thống kê đất đai hàng năm và kết quả kiểm kê đất đai định kỳ còn chậm so
với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân là do việc triển khai công tác này thường vào
đúng thời điểm trước và sau tết âm lịch nên triển khai chậm. Mặt khác, các địa
phương lại phải thực hiện rà soát, điều chỉnh diện tích đo đạc bản đồ địa chính
chính quy tại các đơn vị cấp xã nên mất nhiều thời gian để cập nhật, chỉnh lý biến
động. Riêng với công tác kiểm kê đất đai lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm
2014, do yêu cầu chất lượng, nội dung thực hiện có sự thay đổi so với kỳ kiểm kê
trước đây, đòi hỏi năng lực, chuyên môn cao của các đơn vị tham gia thực hiện.
Ngoài ra, do chất lượng tài liệu, bản đồ ở một số địa phương để sử dụng cho công
tác khoanh vẽ chưa đảm bảo, số lượng còn thiếu; nhân lực thực hiện cho công tác
chưa cao do một số vụ việc thanh tra không phát hiện được vi phạm; nhiều trường
hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng việc thực hiện kết luận thanh tra
còn chậm; tỷ lệ thu hồi tiền, thu hồi đất qua thanh tra còn thấp; việc phát hiện
hành vi tham nhũng qua hoạt động thanh tra chuyên ngành đất đai còn hạn chế,
chưa tương xứng với thực trạng vi phạm.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do: (1) việc thu thập thông tin, tài liệu
có liên quan phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra chưa được đơn vị quan tâm
thực hiện, dẫn đến việc xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện chậm; (2) tổ
chức thanh tra chuyên ngành thiếu ổn định, lực lượng cán bộ, công chức làm
công tác thanh tra chuyên ngành còn quá mỏng, nhiều công việc đột xuất phát
sinh, bên cạnh đó còn phải tham gia, phối hợp các đoàn công tác của Bộ, ngành
khác chủ trì; (3) việc phân công thực hiện nhiệm vụ thanh tra còn chưa phù hợp,
chức năng thanh tra chuyên ngành còn chồng chéo với các đơn vị khác (như trả
lời đơn thư, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, giải quyết khiếu nại, tố cáo); (4)
quy định về phạt tiền vi phạm mang tính hình thức khó thực hiện và kinh phí cấp
phục vụ cho các đoàn thanh tra, kiểm tra còn chưa kịp thời, khó khăn khi triển
khai công tác tại địa phương.
2.9. Việc kiện toàn tổ chức dịch vụ công và cải cách thủ tục hành chính
trong lĩnh vực đất đai: Việc rà soát, tổ chức lại Văn phòng đăng ký đất đai và
Trung tâm phát triển quỹ đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 còn
chậm. Một số địa phương chưa thật sát sao, quyết liệt trong việc thực hiện cải
cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Hiện vẫn còn hơn 10 tỉnh chưa
12
công bố bộ thủ tục hành chính tại địa phương theo quy định và theo yêu cầu của
Thủ tướng Chính phủ. Trong triển khai thực hiện các quyền của người sử dụng
đất, vẫn còn gặp khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc thực hiện quyền thế
chấp của doanh nghiệp thuê lại đất trong khu công nghiệp; một số thủ tục hành
chính cần được tiếp tục rà soát, hoàn thiện theo tinh thần của Nghị quyết số
văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Bộ, ngành, địa phương mình quản lý
để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
- Đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
nghiêm túc trong việc tổ chức thi hành Luật Đất đai, tăng cường công tác
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai tại địa phương; thực
hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, phản ánh kịp thời những vướng mắc, bất cập
13
trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về Bộ Tài nguyên và Môi trường để có
giải pháp tháo gỡ kịp thời./.
14