VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành
: Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
TỈNH VĨNH PHÚC................................................................................................... 35
2.1. Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc.....................................................................................................35
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách ĐTN&GQVL tại tỉnh Vĩnh Phúc...................... 37
2.3. Đánh giá hiệu quả của các giải pháp...................................................................40
2.4. Đánh giá năng lực chủ thể.................................................................................. 56
2.5. Đánh giá môi trường thể chế chính sách tại tỉnh Vĩnh Phúc............................. 61
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN............................... 65
3.1. Nhu cầu, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách đào tạo nghề và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn.................................................................... 65
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm....... 70
KẾT LUẬN................................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................. 79
PHỤ LỤC
CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTC
:
Bộ tài chính
BLĐTBXH :
Bộ Lao động Thương binh Xã hội
Nghị định – Chính phủ
NQ
:
Nghị quyết
TT
:
Thông tư
UBND
:
Ủy ban nhân dân
XKLĐ
:
Xuất khẩu lao động,
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, an sinh xã hội được cải thiện và chính trị
ổn định. Đặc biệt là sự liên tục phát triển của lực lượng lao động cả về lượng và
chất. Trong đề án phát triển xã hội hóa dạy nghề đến năm 2010 Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội có đưa ra nhận định: “Trong hơn mười năm qua, ngành đào
tạo nghề đã phục hồi và có một số bước tiến đáng kể, hệ thống đào tạo nghề trên cả
nước được thành lập, giáo trình đào tạo được sửa đổi trên cơ sở khung chương trình
quốc gia. Giáo viên dạy nghề cũng có những bước tiến nhảy vọt về trình độ, bằng
cấp và tay nghề kỹ thuật bao gồm trình độ chuyển giao công nghệ tiên tiến phục vụ
cho sản xuất trong các nhà máy, khu công nghiệp. Hệ thống quy chuẩn được thiết
lập, các chuẩn tay nghề cấp quốc gia cũng được đề ra tạo nền tảng cho việc đào tạo
và đánh giá đào tạo nghề. Nhìn chung hệ thống quản lý thực hiện khá tốt từ trung
ương đến địa phương”.
Đảng và nhà nước luôn xác định vấn đề phát triển và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực là vấn đề chiến lược. Theo Nghị quyết đại hội đảng lần thứ XI
quyết định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 trong đó khẳng định
“Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và
ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững. Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi,
đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa
học, công nghệ đầu đàn. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng
của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề. Thực hiện liên
kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà
nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Thực hiện các chương trình,
2
Mặc dù trong giai đoạn 2006-2010, mỗi năm bình quân giải quyết việc làm
được khoảng 20.140 người, nhưng lao động trong nông nghiệp còn 314.000 người
(chiếm 55,9%); lao động làm việc trong doanh nghiệp thuộc các KCN của tỉnh chỉ
khoảng 37.000 người; lao động ngoài tỉnh khoảng 60.000 người và lao động xuất
khẩu là trên 5.700 người; Chất lượng lao động nói chung còn thấp, tay nghề chưa
cao, nhiều người còn làm chưa đúng nghề đào tạo hoặc chưa được đào tạo. Thu nhập
thực tế của đa số người lao động vẫn rất thấp; lao động ở khu vực nông nghiệp khó
tìm được việc làm để tăng thu nhập; năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh (theo tiêu chí
mới) còn 11,05% với 27.612 hộ; hộ cận nghèo là 7,06% với 17.651 hộ. Rõ ràng là tỷ
lệ lao động nông thôn còn cao và tỷ lệ lao động có việc làm còn thấp sẽ dẫn đến tỷ lệ
nghèo còn cao.
Cho đến nay, tỉnh Vĩnh Phúc đang nghiên cứu, xây dựng kế hoạch thực hiện
Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số
1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trước đó, công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn gắn với giải quyết việc làm cho đối tượng này chưa được nghiên
cứu kỹ lưỡng với quy mô lớn, chặt chẽ hoặc cũng chỉ xới xáo vấn đề đào tạo và việc
làm ở bề mặt, chưa có những phân tích chuyên sâu cũng như các khuyến nghị cụ thể
để giải quyết triệt để khó khăn, thách thức.
Từ nhận thức trên đây, tác giả chọn đề tài: “Chính sách đào tạo nghề và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận
văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là một
trong những vấn đề quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, trong những năm qua, vấn đề đào tạo nghề và
giải quyết việc làm luôn được lãnh đạo đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm cụ
triển các ngành kinh tế nhằm giải quyết việc làm đồng thời tác giả cũng đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về việc làm cho
người lao động.
4
- Chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, 2014, luận văn Thạc
sĩ Chính sách công, Học viện khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam. Tác giả tập trung nghiên cứu lý luận về chính sách việc làm, thực
trạng chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Ðà Nẵng. Trên cơ sở đó đề xuất
những giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm ở thành phố Ðà Nẵng.
- Chính sách việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất từ
thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, 2015. Luận văn Thạc sĩ Chính sách công,
Học viện khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách việc làm cho người lao động nông thôn khi
nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam. Thực tế việc thực hiện chính sách việc làm cho
người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh
Quảng Ngãi, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm cho
người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng
Ngãi.
Nguồn tư liệu và các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu quý giá
để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài của mình. Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình
nào nghiên cứu trực tiếp chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc. Trên góc độ chính trị - xã hội, tác giả
mong muốn tiếp tục làm rõ những thực trạng, hiệu quả đã đạt được, đồng thời đề
xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng thực hiện chính sách đào tạo
nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin, phân tích các văn bản và phỏng vấn các chủ
thể tham gia hoạch định và thực hiện chính sách.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
Ý nghĩa lý luận của luận văn:
Luận văn góp phần làm sáng rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính
sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Đồng thời nghiên cứu cũng góp phần tìm
hiểu về mối quan hệ giữa các quá trình hoạch định và thực hiện chính sách đào tạo
nghề và việc làm trong thực tiễn;
6
Bước đầu khảo sát thực trạng việc triển khai, thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc, từ đó những phát hiện của nghiên cứu có thể đóng góp cho việc hoàn thiện
quá trình hoạch định và thực hiện chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm
của Việt Nam hướng tới các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và ổn
định xã hội.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận văn có thể cung cấp thêm các luận cứ khoa học giúp các cấp lãnh đạo
của tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn tiếp theo.
- Những phát hiện của nghiên cứu này cũng sẽ giúp đưa ra những khuyến nghị
để góp phần nâng cao hiệu quả của các cơ sở đào tạo nghề gắn kết với tình hình giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn tại Vĩnh Phúc.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách đào tạo nghề và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc
môn là một lĩnh vực lao động, mà ở đó, con người sử dụng chủ yếu các năng lực
tinh thần như các hoạt động khoa học, công nghệ, văn hóa và nghệ thuật, nên mang
tính chuyên biệt, đòi hỏi sự đào tạo cao hơn và lâu hơn và gắn với những địa vị xã
hội nhất định. Vì thế lao động chuyên môn hóa sẽ có vai trò chủ đạo trong công
cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước hiện nay và trong tương lai.
8
Khái niệm đào tạo nghề
Khi nói về đào tạo nghề chúng ta thường nghĩ đó là một hoạt động đào tạo với
mục tiêu cơ bản là giúp người được đào tạo chuẩn bị một nghề. Đây là cách hiểu cơ
bản và phổ biến nhất.
Cụ thể hơn, đào tạo nghề là bộ phận của hệ thống giáo dục nói chung, có
mục tiêu đem lại cơ hội nghề nghiệp và việc làm cho người lao động trên cơ sở
rèn luyện và phát triển kiến thức và kỹ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu công việc.
Như vậy, có thể nói đào tạo nghề:
- Là một hoạt động giáo dục được định hướng để cung cấp những kiến thức và kỹ
năng cần thiết cho việc đảm nhận một vị trí hay một chuyên môn nghề nghiệp nhất định.
- Đào tạo nghề bao hàm cả nhân tố lý thuyết và thực hành nhưng nhấn mạnh
về thực hành. Có mối quan hệ mật thiết với các nhân tố kỹ thuật công nghệ và gắn
liền với những thay đổi của quá trình lao động.
Luật Dạy nghề đã chỉ rõ đào tạo nghề là “hoạt động dạy và học nhằm trang bị
những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để
có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. Trong
hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, đào tạo nghề bao hàm hệ thống các trường,
các cơ sở dạy nghề và các trường trung học chuyên nghiệp.
1.1.2. Khái niệm giải quyết việc làm
Khái niệm việc làm
Theo Điều 13 Bộ luật lao động quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập,
động của thị trường chưa đáp ứng được với cung lao động. Sự di dân ra thành thị
từ các vùng nông thôn là nguyên nhân chính làm tăng tình trạng thiếu việc làm ở
thành thị. Ở các vùng nông thôn do người dân còn thiếu trình độ nên khó có cơ
hội tìm được việc làm. Với nền kinh tế phát triển ngày càng cao, đòi hỏi người
lao động phải có trình độ nhất định. Các cơ sở đào tạo nghề ở nước ta nhiều
nhưng năng lực đào tạo vẫn còn yếu kém, chương trình đào tạo nặng về lý thuyết
chưa chú trọng đến thực hành. Vì vậy, nhiều sinh viên ra trường nhưng không
đáp ứng được yêu cầu công việc dẫn đến thất nghiệp.
Trong tổng số 53,748 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động
của cả nước, chỉ có 9,99 triệu người đã được đào tạo, chiếm 18,6% tổng lực lượng
lao động. Ngược lại, hiện cả nước có hơn 43,76 triệu người (chiếm 81,4% lực lượng
lao động) chưa được đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT) nào
đó. Như vậy, nguồn nhân lực của nước ta trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và
chuyên môn kỹ thuật còn thấp.
11
Cơ cấu nghề đào tạo đã được điều chỉnh theo nhu cầu thị trường lao động;
theo cơ cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ cho việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho
người lao động. Trong bảng 1 dưới đây cho thấy lực lượng lao động nông
nghiệp trong nông thôn cho đến năm 2010 vẫn còn chiếm đa số trong lực lượng
lao động cả nước. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp là chính sang
công nghiệp và dịch vụ đang diễn ra nhưng còn chậm. Chất lượng và hiệu quả
dạy nghề có bước chuyển biến tích cực (khoảng 70% học sinh tìm được việc
làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số cơ
sở dạy nghề tỷ lệ này đạt trên 90%). Các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy
nghề đã từng bước được cải thiện.
Bảng 1.1: Dân số từ 15 tuổi trở lên làm công việc chiếm nhiều thời gian nhất
Tổng
Dạy
Trung
Cao
Đại học
số
18,6
20,8
16,3
34,7
11,5
nghề
4,9
7,6
2,2
7,8
3,7
cấp
3,7
3,4
4,0
5,7
2,9
4,8
6,5
6,2
trung
Tây Nguyên
12,6
2,7
3,3
1,6
5,1
Đông Nam bộ (*)
16,7
4,5
3,5
1,8
6,9
Đồng bằng sông cửu long
10,4
2,4
2,3
1,2
4,5
Hà Nội
39,0
9,3
5,3
3,2
21,2
2014
Số lao động
%
Quý II/2015
Số lao động
%
69 344
1,09
70 859,5
1.03
33 563
35 781
1,0
1,01
34 145,4
36 714,1
1,02
1,03
13
1,0
27 371
25 875
16 042
37 203
27 561
26 187
16 526
37 222
1,0
1,01
1,03
1,0
27 658
26 049,4
16 262,5
37 444,9
1,01
1,0
1,01
1,0
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2014 và Báo cáo điều tra lao
động việc làm quý II/2015 – Tổng cục thống kê.
Lực lượng lao động trung bình cả nước tính đến quý II/2015 là 53 707,4 triệu
trò điều tiết của Nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động còn hạn chế. Sự
kiểm tra, giám sát thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ. Chưa phát huy
được vai trò của “tòa án lao động” trong giải quyết tranh chấp lao động. Cải cách
hành chính hiệu quả thấp đối với bản thân người lao động và cả xã hội.
Cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo và
đào tạo nghề thấp. Kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong
làm việc công nghiệp chưa cao.
Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm
và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh, gây áp lực cho
vấn đề giải quyết việc làm. Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở những lĩnh vực yêu
cầu lao động có trình độ cao. Cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa
đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi.
Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém. Hệ thống thông tin thị
trường lao động, việc làm chính thức chưa phát triển mạnh, chưa có các trung tâm
giao dịch lớn đạt hiệu quả khu vực. Cả nước chỉ có khoảng 200 trung tâm và trên
3.000 doanh nghiệp giới thiệu việc làm, lại tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh và
Hà Nội, song hoạt động chưa hiệu quả, chưa thường xuyên nên mới chỉ đáp ứng
khoảng 20% nhu cầu thông tin của người lao động tìm việc làm.
Trong khi đó, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn trong
quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Cạnh tranh diễn ra ngày
càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện
trong nước đến ngoài nước. Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có
15
nguy cơ phá sản, tính đến cuối năm 2014 cả nước có 58.322 doanh nghiệp khó khăn
phải ngừng hoạt động, tăng 14,5% so với năm 2013… Người lao động có nguy cơ
thất nghiệp cao, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Chất lượng
Tập trung xây dựng cơ chế, chính sách, kế hoạch đào tạo nghề, nâng cao trình
độ cho người lao động một cách hợp lý, khả thi giúp nâng cao tỷ lệ lao động có tay
nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Tập trung giải quyết việc làm cho lao động ở thành thị và nông thôn. Phát triển
nguồn nhân lực có chất lượng cao. Mở rộng thị trường lao động không chỉ ở trong
nước mà cả nước ngoài. Giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng tỷ lệ người lao động đã qua đào
tạo. Tạo cơ hội việc làm mới cho người dân thông qua phát triển các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế hộ gia đình, tổ chức các hội, hiệp hội nghề.
Tạo việc làm thông qua các dự án nhỏ, chương trình kinh tế - xã hội lớn của nhà nước,
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xây dựng mô hình làm việc tại nhà, tạo việc làm
cho đối tượng lao động đặc biệt.
1.2.2. Giải pháp/ công cụ
Giải pháp theo từ điển tiếng việt là cách giải quyết một vấn đề khó khăn. Như
vậy ta có thể hiểu giải pháp có nghĩa là những cách thức hay phương tiện để đi tới
được cái "đích" cần đến hay mục tiêu mong đợi. Với chính sách đào tạo nghề và
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, việc xác định các giải pháp cần chỉ ra
được các cách thức và phương tiện để hoạch định và thực thi chính sách đào tạo
nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
Các giải pháp này có thể thuộc: 1) lĩnh vực kinh tế, như phân bổ ngân sách
phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện chế độ thu nhập hay kinh phí đào tạo nguồn nhân
lực; 2) giải pháp chính trị hay hành chính như cải tiến công tác hoạch định và tổ
chức thực hiện chính sách đối với các cấp ủy và chính quyền địa phương; 3) giải
pháp giáo dục-đào tạo và giải quyết việc làm đối với người lao động.
Trong Chính sách công về đào tạo nghề và giải quyết việc làm không thể thiếu công
cụ để thực hiện giải pháp như: Kinh tế, chính trị và giáo dục đào tạo. Cụ thể như sau:
Giải pháp kinh tế: theo Quyết định số 1956/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính
phủ: Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. “Hỗ
trợ đầu tư phát triển các trường trung cấp nghề thủ công mỹ nghệ ở các tỉnh tập
trung nhiều làng nghề truyền thống.
Giải pháp giáo dục – đào tạo: Tại Quyết định số 1956/QĐ-TTG của Thủ
tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020”. Có quy đinh đối với giáo dục - đào tạo phải “Đổi mới chương trình và nâng
19