ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM
ĐẶNG THỊ KIM TUYẾN
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ NHẰM
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN 2015
ĐẶNG THỊ KIM TUYẾN
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ NHẰM
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN ĐIỀN
phòng Lao động TB&XH Thành phố, Trung tâm Dạy nghề Thành phố, Chi cục
thống kê thành phố Thái Nguyên và các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ tôi về
nguồn tư liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Thường trực cơ quan Liên đoàn Lao
động Thành phố, các đồng nghiệp nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, ủng hộ giúp đỡ để
tôi có thời gian tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Thị Kim Tuyến
MỤC LỤC
1.1.1....................................................................................................
1.2.
Đánh giá kết quả công tác đào tạo nghề giải quyết việc làm cho lao
DANH M ỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CĐ, ĐH
: Cao đẳng, Đại học
CĐN
: Cao đẳng nghề
CN-TTCN
TDTT
: Thể dục thể thao
TP
: Thành phố
TT
TTDN
: Trung tâm
: Trung tâm dạy nghề
TTGD
: Trung tâm giáo dục
UBND
: Ủy ban Nhân dân
VH
: Văn hóa
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng:
Bảng 3.1. Tình hình dân số và lao động của TP. Thái Nguyên giai đoạn
người, trong đó số lao động nông thôn gần 24 nghìn người chiếm 16,4% tổng số lao
động toàn Thành phố. Hàng năm, khu vực này được bổ sung khoảng 1.000 - 1.200
lao động [2].
Nông nghiệp là một thế mạnh nhưng sản xuất ở ngành này mạng tính thời vụ
nên nhiều lao động ở ngành này vẫn có nhiều thời gian rảnh dỗi bên cạnh đó
trình quá trình
quá
đô thị hóa của Thành phố đang ngày một phát
triển và mở rộng, nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, Nhà máy được xây
dựng... do vậy một phần diện tích đất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử
7
dụng dẫn tới diện tích đất canh tác ngày càng giảm trong khi đó dân số nông thôn
ngày một tăng, tỷ lệ lao động nông nhàn ngày một lớn. Điều đó cho chúng ta thấy
tình trạng thiếu việc làm cho người lao động nông thôn đang ngày một gia tăng và
thời gian sử dụng của người lao động ở khu vực nông thôn chưa cao và chưa hợp lý,
do đó chưa khai thác triệt để nguồn lực sẵn có.
Thực tế cho thấy, trong thời gian qua Thái Nguyên đã chú trọng nâng cao
chất lượng lao động nông thôn, đào tạo nghề cho nông dân, hỗ trợ vay vốn phát triển
kinh tế tạo việc làm cho người lao động nông thôn và hướng dẫn tư vấn giới thiệu
xuất khẩu lao động. Nhờ đó các cơ sở sản xuất đã thu hút được nguồn nhân lực có
tay nghề cao, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ,
duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống. Có thể nói thời gian qua hoạt động
đào tạo nghề đã đáp ứng được mục tiêu tạo việc làm, tăng thu nhập, chuyển một
phần lao động từ nông nghiệp sang làm nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn của thành phố Thái
Nguyên trong giai đoạn 2010 - 2014, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh
công tác đào tạo nghề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của thành phố giai
đoạn 2015 - 2020.
2.1.2.
-
Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về đào tạo nghề cho
người lao động.
-
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa
bàn thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2012-2014
-
Đánh giá tác động của một số chương trình đào tạo nghề đến đời sống và
phát triển sản xuất kinh tế nông thôn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
-
Đề xuất một số giải pháp, giải quyết những hạn chế nâng cao hiệu quả công
tác đào tạo nghề nhằm tạo việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần
cùng thành phố Thái Nguyên thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
chỉ tập trung nghiên cứu đến công tác dạy nghề cho
lao
động
nông thôn tại thành phố Thái Nguyên với các nội dung sau:
-
Đánh giá phân tích thực trạng phát triển nguồn lao động ở thành phố, thực
trạng đào tạo nghề cho lao động ở thành phố Thái Nguyên về các nội
dung liên quan đến công tác đào tạo nghề như: tình hình phát triển các cơ sở dạy
nghề, tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề; lực lượng giáo viên dạy nghề;
kết quả tuyển sinh; kết quả đào tạo nghề; tình hình lao động có việc làm sau học
nghề; qua đánh giá thực trạng sẽ chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và
nguyên nhân của hạn chế.
-
Đưa ra các quan điểm, định hướng, mục tiêu và giải pháp đẩy mạnh đào tạo
nghề cho lao động ở thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2015-2020, nhằm đáp
ứng nhu cầu lao động ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng lao động
của thành phố cũng như của tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
4.1.
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa khoa học là góp phần hệ thống hóa
một số vấn đề về lý luận và thực tiễn cơ bản về đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho
tạo
lại và đào tạo nâng cao.
-
Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề: gồm đào tạo ngắn hạn và đào tạo dài hạn.
1.11.4.
Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo
nghề a. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở dạy
nghề
Trong sự nghiệp giáo dục của toàn Đảng, toàn dân ta nói chung và trong công
tác đào tạo nghề nói riêng thì yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở dạy
nghề là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp tới chất lượng đào tạo nghề.
Để công tác đào tạo nghề đạt được kết quả tốt, việc dạy không chỉ chú ý đến dạy lý
thuyết mà việc dạy thực hành cũng chiếm một vị trí quan trọng không thể thiếu. Thời
lượng thực hành trong chương trình dạy nghề chiếm
tương đối
lớn,
để tạo điều kiện dạy
một tỷtrọng
thực hành cho
người học được tốt thì cần phải được trang bị cơ sở vật chất và trang thiết bị tốt đáp
ứng yêu cầu dạy và học. Ứng với mỗi nghề dù đơn giản hay phức tạp cũng cần phải
hiện nay. Bất kể một cơ sở nào muốn tồn tại và phát triển được thì đều phải có kinh
phí để hoạt động. Đây là nhân tố chủ yếu, nhân tố quyết định xem cơ sở đào tạo
nghề nên hoạt động như thế nào, nên đào tạo những ngành nghề gì, nên nâng cấp,
sửa chữa và mua sắm những trang thiết bị gì để phục vụ cho dạy nghề cũng như trả
lương cho cán bộ công nhân viên. Do đó cơ sở dạy nghề nào khi đưa ra một quyết
định nào thì cũng đều dựa trên nền tảng là liệu có kinh phí để thực hiện không, và
nếu đủ thì quyết định đó mới được đưa ra. Kinh phí đào tạo cũng có ảnh hưởng rất
quan trọng đến quy mô và chất lượng công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề.
Muốn phát triển
công tác đào tạo nghề đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động trong
tương lai ngày một tăng cần phải được đầu tư kinh phí để xây dựng mới và nâng cấp
các cơ sở đào tạo nghề hiện có, để có thể tăng quy mô đào tạo và nâng cao chất
1
3
lượng
đào
tạo do học viên được
có cơ hội tiếp cận
với trang
thiết bị dạy học phù hợp với yêu cầu.
Kinh phí để các cơ sở dạy nghề hoạt động được huy động và tận dụng từ nhiều
nguồn khác nhau. Trong đó nguồn quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn là kinh phí do
ngân sách Nhà nước cấp và phân bổ cho các trường. Ngoài ra còn kể đến là nguồn
hơn so với toàn bộ lao động trên thị trường và sẽ có cơ cấu trẻ hơn, đa dạng hơn.
Hơn nữa, nếu mọi người nhận thức được rằng giỏi nghề là một phẩm chất quý giá
của người lao động, là cơ sở vững chắc để có việc làm và thu nhập ổn
định
công tác
nguồn lực
đào tạo nghề
sẽ
nhận
thêm nhiều
thì
hỗ trợ cần thiết của xã hội để phát triển mạnh hơn.
Thực tế công tác đào tạo nghề hiện nay chưa được xã hội nhận thức đầy đủ và
đúng đắn. Việc làm chuyển biến nhận thức của từng gia đình và toàn xã hội sẽ có ý
nghĩa quan trọng trong dạy nghề và học nghề. Nhận thức không đúng về vai trò của
đào tạo nghề đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, dẫn đến
tăng dần chỉ tiêu đào
tạo CĐ, ĐH mà thiếu hụt
việc
1
5
hợp lý và sát với
nghề đào tạo để học viên có thể nắm vững được
nghề sau khi ra trường là vấn đề hiện đang được quan tâm của các cơ sở dạy nghề
nói riêng và của cả nước nói chung.
f. Thị trường lao động
Hiện nay đang
tồn tại nhiều định nghĩa về thị trường lao động từ các
nguồn tài liệu khác nhau:
-
Theo Adam Smith, thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao
động (hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ
sử dụng lao động) và người bán sức lao động (người lao động).
Định nghĩa này nhấn mạnh vào đối tượng trao đổi trên thị trường là dịch vụ lao
động, chứ không phải là người lao động [20].
-
Theo Từ điển Kinh tế học Pengiun, thị trường lao động là thị trường trong đó
tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động được xác định trong bối cảnh
quan hệ của cung lao động và cầu lao động (Định nghĩa này nhấn mạnh kết
quả của quan hệ tương tác cung - cầu trên thị trường lao động là tiền công,
tiền lương và các điều kiện lao động) [20].
một nước công nghiệp. Trong lĩnh vực đào tạo nghề, Nhà nước đã ban hành hệ thống
văn bản pháp luật chính sách tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi khuyến
khích đào tạo nghề phát triển. Chính sách của Nhà nước có vai trò quan trọng trong
phát triển công tác đào tạo nghề, ảnh hưởng đến số lượng cũngnhư
lượng
đào
tạo nghề.
chất
Chủ trương và định hướng của
1
7
Đảng về phát triển dạy nghề: Nghị quyết Đại hội Đảng VI (1986); Nghị quyết Đại
hội Đảng VII (1991); Nghị quyết 4 - Khoá VII; Nghị quyết đại hội Đảng VIII
(1996); Nghị quyết TW2 Khoá VIII (1996); Nghị quyết Đại hội Đảng IX, X, XI đều
khẳng định phải mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên
nghiệp vụ nhiều trình độ; coi trọng đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao, kỹ sư
thực hành và phát triển đào tạo nghề nhiều cấp trình độ.
Đào tạo nghề hiện nay đang được quan tâm phát triển với nhiều chính sách
khuyến khích và hỗ trợ phát triển. Đây là điều kiện thuận lợi cho công tác đào tạo
nghề phát triển.
Công tác đào tạo nghề được quan tâm của Đảng và Nhà nước dưới nhiều hình
thức như ban hành các văn bản pháp luật, chính sách khuyến khích phát triển đào tạo
nghề. Mặc dù có vai trò quan trọng nhưng các chính sách đào tạo nghề vẫn còn
nhiều hạn chế gây trở ngại cho công tác đào tạo nghề như phần lớn các chính sách
cho phùhợp
với
1
8
ASEAN. Việc
sửa đổi chương trình giảng dạy sẽ tập trung vào ba lĩnh
vực
như ngôn ngữ, công nghệ thông tin và kỹ năng làm việc. Việc học tập ngôn ngữ sẽ
được sửa đổi trú trọng vào tiếng Anh để học sinh, sinh viên có thể giao tiếp với
người nước ngoài trong lĩnh
vực nghề nghiệp của họ. Việc đào tạo
công nghệ thông tin sẽ nhằm vào củng cố kỹ năng, trong khi việc cải thiện kỹ năng
làm việc sẽ tập trung đào tạo sinh viên, học sinh có thể tiếp cận được các nền văn
hóa khác nhau.
Thái Lan và các đối tác ASEAN đang từng bước hợp tác trong việc kết nối
thông tin về
thị
trường
này có
9
vị xí nghiệp phải dành một khoản kinh phí cho giáo dục đào tạo tại chỗ theo quy
định của Nhà nước [19].
1.11.6.
Kinh nghiệm về đào tạo nghề của một số địa phương trong nước
* Kinh nghiệm của Bình Dương
Theo báo cáo của Sở LĐTB&XH tỉnh Bình Dương, công tác đào tạo nghề cho
LĐNT là một trong những nhiệm vụ được Sở LĐTB&XH Bình Dương đặc biệt chú
trọng. Từ 2004 - 2010, Sở đã phối hợp với các DN, Trung tâm dạy nghề và các tổ
chức kinh tế - xã hội trong tỉnh tổ chức 325 lớp đào tạo cho 9.273 LĐNT các nghề:
may công nghiệp, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nghề nông nghiệp, cơ điện, điện
tử... hơn 70% số học viên đã tìm được việc làm sau đào tạo.
Số liệu khảo sát của Sở LĐTB&XH Bình Dương cho biết, đến năm 2015 sẽ
có khoảng gần 12.000 LĐNT của Tỉnh có nhu cầu học nghề, do đó để phục vụ cho
nhu cầu học nghề cũng như để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, mới đây,
UBND tỉnh đã quyết định phê duyệt Đề án “đào tạo nghề cho LĐNT đến năm
2020”. Theo đó, mục tiêu của đề án giai đoạn 2011-2015 là sẽ đào tạo nghề cho
khoảng 11.510 lao động, trong đó nhóm ngành nghề công nghiệp là 2.675 người,
nhóm ngành nghề nông nghiệp là 4.920 người và nhóm ngành nghề dịch vụ là 3.915
người, tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo đạt 80%. Giai đoạn 2016-2020, Bình
Dương phấn đấu đào tạo nghề cho 10.000 LĐNT và tỷ lệ lao động có việc làm sau
đào tạo đạt 90%.
Để hoàn thành được mục tiêu, Bình Dương đã đề ra nhiều chính sách hỗ trợ
cho người học nghề như: hỗ trợ cho người nghèo, người dân tộc thiểu
số 3 triệu đồng/người/khóa học (3 tháng); hỗ trợ cho người có thu nhập thấp 2,5 triệu
đồng/người/khóa học, ngoài ra, các học viên còn được hỗ trợ vay vốn từ Ngân hàng
Chính sách xã hội để học nghề, tự tạo nghề và chuyển đổi nghề. Bên cạnh đó,
UBND tỉnh cũng tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị có chức
đáp ứng đúng nhu cầu của sản xuất - kinh doanh của mỗi địa phương, có kết quả
thiết thực, tránh được tình trạng “cái cần thì không dạy, cái không cần thì lại dạy”;
trên thực tế, việc dạy nghề cho LĐNT chưa đạt yêu cầu do chưa gắn với nhu cầu của
sản xuất - kinh doanh, nhiều người học xong vẫn không tìm được việc làm hoặc nơi
tiếp nhận họ phải tốn thêm thời gian và kinh phí để đào tạo lại. Thực tế cho thấy, để
việc đào tạo nghề cho LĐNT
thu hút
đạt
hiệu quả thiết
sự
tham gia từ
thực,
tất yếu phải
chính quyền địa phương, các cấp, các ban ngành, các trường dạy nghề có chất lượng
đóng trên địa bàn tỉnh. Theo đánh giá của Ban chỉ đạo đề án đào tạo nghề cho LĐNT
tỉnh Bình Dương sau các khóa đào tạo hơn 80% lao động có việc làm ổn định. NLĐ
được các công ty doanh nghiệp may mặc, công ty cao su, các hộ trồng cao su tiểu
điền trên địa bàn tỉnh nhận vào làm việc với mức lương ổn định và cao hơn trước.
* Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc hiện có 9 khu công nghiệp, tổng diện tích 2.284 ha. Với mục tiêu
vào những năm 2020, Vĩnh Phúc cơ bản sẽ là tỉnh công nghiệp. Vấn đề đặt ra ở các
khu công nghiệp hiện nay và trong thời gian tới là tình trạng thiếu nguồn nhân lực có
tay nghề. Chính vì vậy, tỉnh đã xác định: Tăng cường đào tạo nghề là một nhiệm vụ
sở dạy nghề là nhiệm vụ quan trọng. Hiện nay, toàn tỉnh có 47 cơ sở dạy nghề, trong
đó có 4 trường Cao đẳng, 3 trường Trung cấp, 14 Trung tâm dạy nghề, 10 trường
Trung học chuyên nghiệp và 16 cơ sở dạy nghề. Các cơ sở dạy nghề và nhà trường
luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo
viên. Trong tổng số 1.268 giáo viên đang công tác tại các trường dạy nghề, có đến
1.138 giáo viên đạt chuẩn theo quy định của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,
chiếm tỷ lệ 89,7%. Chất lượng đào tạo nghề những năm qua đã được nâng lên đáng
kể. Tỷ lệ học sinh lên lớp bình quân đạt 97,6%, tốt nghiệp các khoá dài hạn chính
quy đạt 96% [18].
* Một số bài học rút ra đối với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
ở thành phố Thái Nguyên
-
Nhà nước ở cả cấp Trung ương và địa phương thể hiện vai trò tích cực trong
công tác đào tạo nghề. Các cấp ủy Đảng, chính quyền vào cuộc mạnh mẽ
2
2
quyết liệt và có sự phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị,
từng cá nhân phụ trách thì nơi đó công tác đào tạo nghề được triển khai có
hiệu quả. Chính phủ một số nước đã có những hỗ trợ tích cực trong công tác
huy động vốn, trợ cấp cho đào tạo nghề...
-
Công tác tuyên truyền, tư vấn hướng nghiệp học nghề phải đi trước một bước.
Cán bộ tuyên truyền phải am hiểu chính sách, nắm được thông tin về đào tạo
nghề và khả năng giải quyết việc làm sau học nghề để cung cấp cho người lao
động.
năng lao động
có khả
đều có cơ hội có việc làm”. Khái niệm này được vận dụng
trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam
và được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau:
-
Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc
hiện vật.
-
Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm: Sản xuất nông
2
3
nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh
tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.
-
Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình
thức tiền lương, tiền công cho công việc đó bao gồm: sản xuất nông nghiệp
trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng, hoạt động
kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc
quản lý [21].
1.1.3.
Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông
thôn 1.1.31. Khái niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và
2
4
tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Giải quyết việc làm có thể được hiểu ở một số khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng.
Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động.
Thứ ba, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả
cao, các giải pháp về quản lý thị trường, kỹ thuật... nhằm nâng cao hiệu quả của việc
làm, các công cụ quản lý, kích thích tạo việc làm, quản lý nhà nước về giải quyết
việc làm, bảo vệ quyền lao động và thành quả lao động của con người.
1.1.4.
Các nhân tố tác động tới giải quyết việc làm cho người lao động ở
nông thôn
1.1.41. Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản
kết cấu
xuất trong sản xuất nông nghiệp
là đất đai, vốn, máy móc,
Tuy nhiên đất chưa sử dụng (có cả sông ngòi) vẫn còn 1.027,3 nghìn ha chiếm
30,4%. Diện tích đất lớn cho phép khai thác theo cả chiều sâu và chiều rộng để mỗi
đơn vị diện tích đất ngày càng đáp ứng nhiều sản phẩm theo yêu cầu của con người
và thị trường thế giới. Chính việc sử dụng đất hợp lý kết hợp với sử dụng nguồn lực
con người sẽ tạo ra sự hài hoà cho việc giải quyết việc làm cho người lao động với
việc tăng sản lượng nông, lâm, ngư nghiệp.
Ruộng đất
có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều, nó khác tư
liệu sản xuất khác là không bị hao mòn, không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất
nếu sử dụng hợp lý. Như vậy, ruộng đất có ý nghĩa to lớn trong sản xuất nông
nghiệp. Mỗi một vùng có vị trí địa lý khác nhau. Do vậy, để có việc làm cho người
lao động nông thôn thì Đảng và Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích
họ đồng thời đưa ra những giải pháp tăng sức sản xuất của
ruộng đất, làm tăng số lần quay vòng của đất. Như vậy, ruộng đất có ý nghĩa rất lớn
trong sản xuất nông nghiệp. Yếu tố vốn và sức lao động là hai yếu tố quan trọng nhất
của quá trình tạo việc làm, hai yếu tố này hợp thành năng lực sản xuất, sứclao động
là khả
năng
trí lực,
thể lực của con người. Đó là tri
thức, sức khoẻ, kỹ năng, kinh nghiệm, truyền thống, bí quyết công nghệ...
Theo C.Mác “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực
thể chất hay tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong mỗi con người đang sống và
được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [3].