Dạy học giải quyết vấn đề theo tư tưởng kiến tạo chương Dao động cơ Vật lí 12 Trung học phổ thông - Pdf 33

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------------

NGUYỄN CÔNG HIẾU

DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THEO TƯ TƯỞNG
KIẾN TẠO CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ” VẬT LÝ 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC

Nghệ An, năm 2015


ii

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN CÔNG HIẾU

DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THEO TƯ TƯỞNG
KIẾN TẠO CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ” VẬT LÝ 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Vật lý
Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang


vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt

Viết đầy đủ

GQVĐ

Giải quyết vấn đề

THPT

Trung học phổ thông

THCS

Trung học cơ sở

GV

Giáo viên

HS

Học sinh


lượng giáo dục nói chung và chất lượng bộ môn nói riêng. Việc cải tiến
phương pháp dạy học là cần thiết, bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên
môn, việc phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Bởi vì xét cho cùng công việc giáo dục phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận
thức, tự hành động, khơi dậy phát triển ý thức năng lực tư duy, bồi dưỡng
phương pháp tự học là con đường phát triển tối ưu của giáo dục. Cũng như
trong học tập các bộ môn khác, học Vật lí lại càng cần phát triển năng lực tích
cực, năng lực tư duy của học sinh để không phải chỉ biết mà còn phải hiểu để
giải thích hiện tượng Vật lí cũng như áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các
hoạt động trong cuộc sống.
Một trong những con đường thích hợp để từng bước đưa nền giáo dục
nước nhà phát triển ngang tầm với các nước trên thế giới đó là vận dụng một
cách sáng tạo các chiến lược dạy học tích cực trong đó có dạy học giải quyết
vấn đề theo tư tưởng kiến tạo. Dạy học giải quyết vấn đề theo tư tưởng kiến


2
tạo học sinh vừa chiếm lĩnh được tri thức mới vừa có được phương pháp
chiếm lĩnh tri thức đó.
Môn Vật lí trong nhà trường phổ thông ở nước ta là môn học quan trọng
nó giúp cho học sinh có được hành trang cơ bản để tham gia học nghề, tham
gia lao động sản xuất hay đi sâu vào nghiên cứu thế giới vật chất.
Chương “ Dao động cơ” vật lí 12 là chương có vị trí quan trọng trong
chương trình vật lí 12, có nhiều khả năng vận dụng lý thuyết dạy học giải
quyết vấn đề theo tư tưởng kiến tạo.
Với những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài: Dạy học giải quyết vấn đề theo
tư tưởng kiến tạo chương “ Dao động cơ” vật lí 12 trung học phổ thông.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu vận dụng dạy học giải quyết vấn đề theo tư tưởng kiến tạo
chương “ Dao động cơ” Vật lí 12 trung học phổ thông nhằm nâng cao chất

chương “Dao động cơ” Vật lí 12 trung học phổ thông.
6.3. Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm ở trường trung học phổ thông để kiểm chứng giả
thiết khoa học và đánh giá tính khả thi kết quả nghiên cứu của đề tài.
6.4. Phương pháp thống kê toán học
Dùng công cụ toán học thống kê xử lý các kết quả điều tra và thực
nghiệm sư phạm
7. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt lý luận:
Hệ thống được cơ sở lý luận về dạy học giải quyết vấn đề theo tư tưởng
kiến tạo trong dạy học Vật lí ở trường THPT
- Về mặt thực tiễn.
Thiết kế một số giáo án áp dụng dạy học giải quyết vấn đề theo tư tưởng
kiến tạo về chương “Dao động cơ” Vật lí 12 THPT


4
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 03 chương:
Chương 1. Dạy học giải quyết vấn đề theo tư tưởng kiến tạo trong môn
Vật lí ở trường THPT
Chương 2. Dạy học giải quyết vấn đề theo tư tưởng kiến tạo dạy học
chương “Dao động cơ” Vật lí 12 trung học phổ thông
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm


5
CHƯƠNG 1:
DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THEO TƯ TƯỞNG KIẾN TẠO
TRONG MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

gọi để chỉ cơ sở của các phương pháp dạy học có khả năng kích thích học sinh
tham gia vào hoạt động nhận thức một cách tích cực chủ động và liên tục dưới
sự hướng dẫn của giáo viên. Chính vì vậy cần để cho dạy học GQVĐ Ơrixtic được thâm nhập vào các phương pháp dạy học khác một cách rộng rãi,
để tạo điều kiện cho việc cải tiến phương pháp dạy học truyền thống, từ đó
nâng cao được chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học.
Ưu điểm của dạy học GQVĐ so với dạy học truyền thống là chuyển học
sinh từ vị trí thụ động thành chủ thể chủ động, tự giác tích cực hoạt động nhận
thức. Dạy học GQVĐ thể hiện được tính sáng tạo trong tư duy người học,
khắc phục được tính chất tái tạo của dạy học thông báo dạy học giảng giải,
minh họa. Dạy học GQVĐ là con đường để dạy tư duy sáng tạo.
1.1.2. Vấn đề và tình huống có vấn đề trong dạy học [5], [8], [12]
a. Vấn đề
Theo từ điển Tiếng Việt , “vấn đề” là điều cần được xem xét, nghiên cứu,
giải quyết. Vấn đề là khái niệm dùng để chỉ mâu thuẩn nảy sinh trong cuộc
sống.
Vấn đề trong dạy học được biểu thị bằng những câu hỏi hay bài toán. Ta
có thể hiểu vấn đề trong học tập là những yêu cầu mà:
- Học sinh chưa trả lời được hoặc chưa thực hiện được hành động;
- Học sinh cũng chưa học một quy luật có tính thuật giải nào để trả lời
câu hỏi hay thực hiện hành động;
“Vấn đề” trong dạy học GQVĐ là câu hỏi học sinh không thể trả lời được
nếu chỉ dựa vào kiến thức và kỹ năng đã có; nghĩa là không thể giải quyết
được nếu chỉ dựa vào tư duy tái hiện. Vấn đề chỉ có tính tương đối, ở thời


7
điểm này thì nó là vấn đề, nhưng ở thời điểm khác thì nó không còn là vấn đề
nữa.
Trong “vấn đề” chứa đựng cả yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan:
Yếu tố khách quan – dẫn liệu xuất phát cho phép giải quyết vấn đề, tìm

- Tình huống không phù hợp: Là tình huống được tạo ra bằng cách giới
thiệu các “nghịch lí” tức là những sự kiện, hiện tượng trái với những quan
niệm thông thường của học sinh. Cách giải quyết tình huống này là phân tích
chỗ sai trong cách hiểu thông thường, từ đó tìm ra cách hiểu phù hợp và khoa
học.
- Tình huống xung đột: Là tình huống xuất hiện khi có những sự kiện,
những quan điểm trái ngược nhau. Học sinh phải tìm hiểu, phân tích hiện
tượng, phê phán quan điểm sai để tìm ra chân lí.
- Tình huống bác bỏ: Là tình huống xuất hiện khi học sinh phải bác bỏ
một kết luận phản khoa học, một luận đề sai lầm.
- Tình huống lựa chọn: Là tình huống xuất hiện khi học sinh phải lựa
chọn trong nhiều phương án hợp lí nhất trong điều kiện cụ thể nhất định.
1.1.3. Lý thuyết kiến tạo [1], [3], [8]
1.1.3.1. Một số cơ sở của lý thuyết kiến tạo
Lý thuyết kiến tạo về học tập có cơ sở từ quan niệm của Piaget về cấu
trúc nhận thức. Trong cấu trúc nhận thức của mỗi người, các kiến thức không
rời rạc mà có sự liên kết với nhau và xác định cách ứng xử khi người đó
tương tác với thế giới xung quanh (lựa chọn, giải thích, tiếp nhận những thông
tin mới). Theo Piaget, sự học là sự đồng hóa và điều ứng, biến đổi nhận thức
để thích nghi với môi trường. Trong đó, đồng hóa giúp chủ thể thích hợp các
thông tin từ môi trường với các thông tin kiến thức cũ đã nắm bắt được. Lúc
này chủ thể giải thích cho thế giới bên ngoài dựa vào các hiểu biết đã có.
Ngược lại, trong quá trình điều ứng, chủ thể thích nghi với yêu cầu của
môi trường bằng cách biến đổi nhận thức của mình khi nhận ra rằng hiểu biết
hiện tại không phù hợp với môi trường.


9
Khi chủ thể xây dựng kiến thức mới, chủ thể phải sắp xếp, liên kết chúng
với nhau thành những kiến thức khác để tạo thành một phần trong toàn bộ hệ

Trong cách phân chia này, kiến tạo căn bản là một quan điểm nhận thức
nhấn mạnh đến cách thức cá thể xây dựng tri thức cho bản thân mình trong
quá trình học tập. Hay nói cách khác, theo tâm lý học phát triển và tâm lý học
trí tuệ của Piaget và Vygosky, học tập là quá trình cá nhân đồng hóa và điều
ứng tiếp nhận thông tin từ môi trường, xứ lý thông tin đó thích ứng với môi
trường, nhờ đó kiến tạo cho mình một hệ thống về quan niệm về thế giới xung
quanh, quá trình học tập này là kiến tạo căn bản (hay kiến tạo nội sinh)
Kiến tạo căn bản đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình nhận
thức cho bản thân. Kiến tạo căn bản quan tâm đến quá trình chuyển hóa bên
trong của cá nhân trong quá trình nhận thức. Kiến tạo căn bản coi trọng kinh
nghiệm của người học trong quá trình người học hình thành thế giới quan
khoa học cho mình. Sự nhấn mạnh đến kiến tạo căn bản trong dạy học là sự
nhấn mạnh tới vai trò chủ động của người học, nhưng cũng cần nhấn mạnh
đến sự cô lập về tổ chức nhận thức người học. Trong quá trình này chủ thể
nhận thức suy nghĩ để loại bỏ những quan niệm cũ không phù hợp và chọn
lọc những tri thức mới đúng và phù hợp với môi trường để hình thành tri thức
mới phù hợp với thế giới khách quan. Tri thức mới được hình thành bao gồm
cả quá trình loại bỏ, kế thừa và phát triển những quan niệm sẵn có của người
học.
Như vậy, kiến tạo căn bản có mặt mạnh là khẳng định vai trò chủ động
của người học trong quá trình nhận thức. Người học tự xây dựng tri thức cho
bản thân trong quá trình học tập, do vậy người học trở thành người sở hữu tri
thức đó. Tuy nhiên kiến tạo căn bản chỉ tập trung quan tâm đến vai trò của
chủ thể trong quá trình nhận thức mà không thấy được vai trò và những tác
động của những yếu tố xã hội khác đối với quá trình nhận thức.


11
* Kiến tạo xã hội
Con người thường không tồn tại một cách đơn lẻ mà thường sinh sống

viên và các bạn cùng học. Người học sẽ quan sát giáo viên trong hành động,
tư duy và tìm cách tiếp cận nó như một mô hình mẫu. Mỗi cá nhân học sinh
phải tạo được môi trường, điều kiện để trao đổi tương tác với các bạn trong
lớp. Thông qua đó, những kinh nghiệm cũ và kiến thức mới sẽ được kết hợp
và định hướng vào sự hiểu biết của bản thân. Mô hình do giáo viên đưa ra sẽ
không được chủ thể tiếp nhận hoàn toàn mà được điều chỉnh cho phù hợp với
sự hiểu biết riêng của bản thân học sinh.
1.1.3.3. Dạy học vật lí theo tư tưởng kiến tạo [1], [3], [8]
* Quan niệm của học sinh
Theo từ điển Tiếng Việt “quan niệm” là sự nhận thức như thế nào đó về
một vấn đề, một sự kiện
Trong dạy học, quan niệm của học sinh là những hiểu biết của học sinh
có được trước giờ học.
Qua thực tế giảng dạy cho thấy rằng quan niệm được hình thành trước
khi học sinh lĩnh hội tri thức và thậm chí sau khi lĩnh hội tri thức. Đa số các
quan niệm ban đầu của học sinh đều sai lầm hoặc chưa hoàn chỉnh, chưa
chính xác so với kiến thức khoa học. Các quan niệm của học sinh có tính phổ
biến, bền vững nên sẽ là “lực cản”, “chướng ngại” cản trở trong việc hình
thành tri thức mới. Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến quan niệm ban đầu
như sau:
- Hình thành quan niệm sống hàng ngày.
Khi bắt gặp các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày, học sinh
tìm cách giải quyết chúng. Việc giải thích của các em thường bằng cách kết
nối các sự kiện quan sát được, trong đó có nhiều sự kiện ngẫu nhiên hoặc bề
ngoài mà không phải bản chất, nên có thể dẫn đến những quan niệm sai. Khi
cách giải thích sai lại được các em sử dụng “thành công” với nhiều sự vật
hiện tượng thì chúng lại càng được củng cố. Chẳng hạn ngay từ nhỏ, qua quan


13

14
biệt tới những hiểu biết sẵn có của học sinh chính là điểm khác biệt của dạy
học theo quan điểm kiến tạo với các quan điểm dạy học khác nhau.
Một số quan điểm về tiến trình dạy học theo tư tưởng kiến tạo
- Lawson (1988) chú ý tới việc xây dựng kiến thức mới trên cơ sở các
hiểu biết có sẵn đã đưa ra các bước:
+ Thăm dò hiểu biết sẵn có
+ Xây dựng kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức sẵn có
+ Áp dụng kiến thức mới.
- Nhóm nghiên cứu CLIS đã đưa ra tiến trình dạy học kiến tạo một số nội
dung như công, thế năng, động năng... ở trung học cơ sở gồm các bước:
Định hướng, làm bộc lộ hiểu biết sẵn có của học sinh

Làm rõ và thay đổi kiến thức sẵn có.
Kiến tạo và đánh giá kiến thức mới.

Ứng dụng kiến thức mới

Xem lại sự thay đổi nhận thức
Sơ đồ 1.1. Tiến trình dạy học kiến tạo
- Cô-srô-ve và Ô-sbô-ne đưa ra tiến trình dạy học kiến tạo trong đó chú
trọng tới những quan niệm sai lầm của học sinh:
+ Thăm dò các quan niệm sai sẵn có của học sinh và lựa chọn tri thức
khoa học có thể dùng để thách thức các quan niệm sai có sẵn.
+ Tạo tình huống kích thích học sinh bộc lộ quan điểm sai sẵn có, tạo
điều kiện cho học sinh trình bày ý kiến và xem xát ý kiến của người khác.


15
+ Giới thiệu các chứng cứ khoa học giúp học sinh so sánh quan điểm của

- Đảm bảo tiến độ bền vững cao đối với các kiến thức được xây dựng.
1.1.3.4. Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học kiến tạo
* Vai trò của giáo viên trong dạy học kiến tạo
- Tạo không khí dạy học: dân chủ, tự do, thoải mái
- Tạo điều kiện để học sinh bộc lộ quan niệm riêng.
- Tổ chức cho học sinh tranh luận về những quan niệm riêng của mình.
- Giáo viên là trọng tài điều khiển học sinh tranh luận ý kiến.
- Tạo điều kiện và giúp học sinh nhận ra các quan niệm sai của mình và
khắc phục chúng.
- Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm khoa học.
- Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức thu nhận được
* Vai trò của học sinh trong dạy học theo tư tưởng kiến tạo
- Học sinh có vai trò chủ động, tích cực trong việc đón nhận các tình
huống học tập mới, chủ động huy động kiến thức, kỹ năng đã có vào khám
phá tình huống học tập mới.
- Học sinh chủ động bộc lộ những quan điểm của mình trong tình huống
học tập mới.
- Học sinh chủ động, tích cực thảo luận, trao đổi thông tin với bạn học
với giáo viên để giải quyết những tình huống học tập mới hoặc khám phá sâu
hơn tình huống đó.
- Học sinh có vai trò tự điều chỉnh các kiến thức của bản thân sau khi đã
lĩnh hội tri thức mới thông qua việc giải quyết các tình huống học tập.
Như vậy, trong lớp học kiến tạo người học có vai trò trung tâm. Người
học mang những ý tưởng, những kiến thức, kỹ năng vốn có của họ tới lớp
học. Người học tích cực chủ động bộ lộ những ý tưởng, những quan niệm,
thực hiện những thao tác tư duy và thao tác vật chất, thảo luận với bạn học,
tham khảo ý kiến giáo viên, chấp nhận sự thay đổi, từ đó xây dựng kiến thức


17


Tiếp nhận vấn đề

Định hướng tạo
không khí học tập

Sử dụng quan niệm
sẵn có để dự đoán,
giải thích

Tổ chức thảo luận

Nêu giả thuyết, đề
xuất phương án kiểm
tra

Hướng dẫn, giúp đỡ
làm trọng tài

Tiến hành phương án
kiểm tra, so sánh kết
quả với giả thuyết đã
xây dựng

Phân tích tổng hợp.
Hợp thức hóa kiến
thức

Điều chỉnh quan
niệm cũ. Ghi nhận

+ Nghiên cứu những quan niệm sẵn có của học sinh liên quan đến nội
dung kiến thức cần xây dựng, từ đó đưa ra một hệ thống câu hỏi, phiếu điều
tra hoặc một thí nghiệm đơn giản để đưa học sinh vào vấn đề cần giải quyết.
Vấn đề nêu chọn ở đây là mối liên hệ mà ta cần phát hiện hoặc giải thích giữa
hai đại lượng hoặc hai hiện tượng vật lí...
+ Tổ chức cho học sinh biểu đạt vấn đề học tập
- Học sinh
+ Tích cực hóa các hoạt động tri giác, huy động các kiến thức, kinh
nghiệm có trước tác động vào tình huống mà giáo viên đưa ra để làm xuất
hiện vấn đề học tập.
+ Đón nhận tình huống học tập mới
Như vậy, kết thúc bước một học sinh phải nhận biết được vấn đề học tập
và có nhu cầu nhận kiến thức mới.
Bước 2: Nghiên cứu hướng dẫn giải quyết vấn đề
- Giáo viên
+ Tạo ra môi trường học tập cởi mở, thân thiện, đáng tin cậy
+ Định hướng, động viên học sinh nêu ý kiến riêng của mình
+ Tổ chức cho học sinh thảo luận
+ Định hướng học sinh để dẫn tới nhu cầu tiến hành thí nghiệm kiểm tra
sự đúng sai của các giả thuyết.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status