ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ KIM THƯ
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CÁC KIẾN THỨC
CHƯƠNG“DAO ĐỘNG CƠ” (VẬT LÍ 12) THEO HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Vật lí
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Xuân Quế
THÁI NGUYÊN - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được
công bố trong bất kỳ một công trình của các tác giả nào khác.
Thái Nguyên, 20 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim Thư
i
Danh mục chữ viết tắt trong luận văn .................................................................... iv
Danh mục các hình .................................................................................................... v
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI
KHÓA VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG
PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH ................................................ 5
1.1. Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập ................................................. 5
1.2. Dạy học các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí ........................................................ 8
1.2.1. Khái niệm về ứng dụng kĩ thuật của Vật lí ................................................... 8
1.2.2. Bản chất của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong DH............... 8
1.2.3. Vai trò của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật trong dạy học Vật Lý............... 9
1.2.4.Các con đường nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong dạy học ............ 10
1.3. Hoạt động ngoại khóa ở trường phổ thông về ứng dụng kĩ thuật của vật lí với
việc phát huy năng lực sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh 11
1.3.1. Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ
chức dạy học ở trường phổ thông ......................................................................... 11
1.3.2. Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa Vật lí ................................................. 13
1.3.3. Nội dung hoạt động ngoại khóa Vật lí gắn liền với việc phát huy năng lực
sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh ...................................... 14
1.3.4. Hình thức hoạt động ngoại khóa Vật lí gắn liền với việc phát huy năng lực
sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh ...................................... 15
1.3.5. Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa Vật lí gắn liền với việc phát
huy năng lực sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh ................ 20
iii
1.3.6. Qui trình tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí gắn liền với việc phát huy
năng lực sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh ....................... 22
1.3.7. Các biểu hiện về năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động ngoại
2.3.5. Dự kiến các bước tiến hành hoạt động ngoại khóa .................................... 45
2.3.6. Dự kiến các khó khăn của học sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ
và các phương án hỗ trợ ........................................................................................ 63
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................................... 67
3.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm .............................................................. 67
3.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm ............................................................. 67
3.3. Đối tượng của thực nghiệm sư phạm ............................................................. 68
3.4. Phương pháp thực nghiệm ............................................................................. 69
3.5. Nội dung thực nghiệm ................................................................................... 69
3.6. Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................... 70
3.6.1. Phân tích diễn biến của hoạt động ngoại khóa ........................................... 70
3.6.2. Sơ bộ đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa.................................... 79
PHẦN 3: KẾT LUẬN ............................................................................................. 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 89
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt
Viết đầy đủ
HĐNK
Hoạt động ngoại khóa
GV
TN
Thí nghiệm
DH
Dạy học
DĐĐH
Dao động điều hòa
VTCB
Vị trí cân bằng
VTB
Vị trí biên
PTĐLH
Phương trình động lực học
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
thức mà phải vừa có kiến thức vừa có kĩ năng sản xuất, vừa có văn hóa nhà trường
vừa có tri thức về đời sống xã hội. Tuy nhiện thực trạng dạy học môn Vật Lý hiện
nay tại nhà trường khiến nhiều học sinh có cùng suy nghĩ và đều gặp khó khăn khi
học môn học này. Nguyên nhân có thể do việc dạy học vẫn còn mang tính hàn lâm,
nhiều lý thuyết xa rời cuộc sống thực tế nên không gây hứng thú cho người học và
người dạy. Với mong muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động nội khóa, giúp học
sinh nắm bắt kiến thức và hiểu vấn đề một cách sâu sắc nhất đặc biệt là phát triển
năng lực sáng tạo của học sinh, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Tổ chức hoạt
động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật các kiến thức chương “Dao động cơ” ( Vật lý
12) theo hướng phát triển năng lực sáng tạo của học sinh”.
1
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khóa về dạy học các ứng dụng kĩ thuật
của chương “Dao động cơ” lớp 12 trung học phổ thông theo hướng phát huy năng
lực sáng tạo của học sinh và góp phần củng cố, mở rộng kiến thức về chương dao
động cơ mà học sinh đã học trong nội khóa.
3. Khách thể, phạm vi và đối tượng nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 12 học chương trình vật lí phổ thông.
b. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các ứng dụng kĩ thuật của kiến thức vật lí chương dao động cơ trong
chương trình vật lí lớp 12.
- Hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh nhằm phát triển tư duy
sáng tạo của học sinh trong tiến trình tổ chức hoạt động ngoại khóa.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật của các kiến thức thuộc
chương “Dao động cơ” theo hướng tăng cường cho học sinh tham gia giải thích một số
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá tính khả thi của quy trình ngoại
khóa đã xây dựng, bước đầu đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa.
6. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản, văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị và thông
tư của Bộ giáo dục và Đào tạo.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về xu hướng đổi mới phương pháp dạy học.
- Nghiên cứu các tài liệu về phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (khái
niệm, các biểu hiện, biện pháp phát huy, phát triển và tiêu chí, công cụ đánh giá
trong hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật vật lí).
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động ngoại khóa để xây dựng
hoạt động ngoại khóa phù hợp.
- Nghiên cứu các tài liệu về dạy học ứng dụng kĩ thuật vật lí và vai trò của các
ứng dụng kĩ thuật vật lí trong dạy học.
- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài
liệu tham khảo để xác định mục tiêu dạy học ở chương “Dao động cơ” mà học sinh
cần tiếp thu được.
3
b. Phương pháp điều tra
- Tìm hiểu việc dạy (thông qua phỏng vấn trao đổi với giáo viên) và việc học
(thông qua trao đổi với học sinh, phiếu điều tra cơ bản) nhằm đánh giá tình hình dạy
học nội và ngoại khóa chương “Dao động cơ” Vật Lý lớp 12.
c. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo kế hoạch. Phân tích kết quả thu được
trong quá trình thực nghiệm sư phạm để kiểm tra đánh giá giả thuyết khoa học đã đề ra.
7. Dự kiến đóng góp của đề tài
- Đề xuất nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện được sử dụng và quy
so với đối tượng cùng loại ra đời trước đó về mặt thời gian.) và tính ích lợi như
tăng năng suất, tăng hiệu quả, tiết kiệm, giảm giá thành, thuận tiện khi sử dụng, thân
thiện với môi trường... Tóm lại, “sáng tạo là quá trình hoạt động của con người để
tạo ra cái mới có giá trị giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu
xác định của con người” [3].
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những cái mới, sản phẩm mới
các giá trị mới về vật chất và tinh thần trên cơ sở dựa vào những hiểu biết đã biết
lúc ban đầu để hình thành lên cái mới. Hay như Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Năng
lực sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ
của con người” [13, tr29]. Trong tâm lí học, năng lực sáng tạo được định nghĩa: “Là
5
tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt
động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [16, tr178].
Nói cách khác, năng lực sáng tạo chính là khả năng thực hiện được những điều
sáng tạo. Biết làm thành thạo, luôn luôn đổi mới có những nét độc đáo riêng và phù
hợp với thực tế. Năng lực sáng tạo phản ánh hoạt động lí tính của con người, đó là khả
năng nhận thức thế giới, phát hiện ra các quy luật khách quan và sử dụng những quy
luật đó vào việc cải tạo thế giới tự nhiên phục vụ loài người và biểu hiện trình độ tư
duy phát triển ở mức độ cao của con người.
b) Biểu hiện của năng lực sáng tạo
Những hành động, biểu hiện của HS trong hoạt động học tập có mang tính sáng
tạo cụ thể như sau:
Dựa vào mục đích thí nghiệm đã có HS đề xuất các phương án tiến hành
thì nghiệm kiểm chứng một giả thuyết hay cùng một thí nghiệm có thể đưa ra nhiều
cách chế tạo khác nhau.
Khả năng phán đoán, phát hiện vấn đề mấu chốt, tìm ra ẩn ý của vấn đề
Hướng dẫn HS lựa chọn thông tin, tạo ra mỗi liên hệ giữa kiến thức ở trường và
kiến thức tiếp nhận được từ xã hội, làm cho chúng trở thành một hệ thống thống
nhất, nhằm giúp các em củng cố bổ sung, đào sâu những điều đã học ở trường; Cải
tiến phương pháp kiểm tra, đánh giá để đảm bảo tính tiết kiệm, gọn nhẹ, sử dụng
thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại như máy tính điện tử, phương pháp trắc
nghiệm…để đảm bảo tính khách quan, toàn diệntrong đánh giá.
Tăng cường dạy học sáng tạo.
Giáo viên có thể tăng cường rèn luyện năng lực sáng tạo cho người học
theo hai hướng chính sau:
o Xây dựng hệ thống tri thức mới, theo cơ chế:Từ cụ thể đến trừu tượng.
o Vận dụng kiến thức lí thuyết, giải thích hoạt động của ứng dụng kĩ thuật
và chế tạo những công cụ mới, giải quyết các vấn đề thực tiễn, theo cơ chế: Tư duy
trừu tượng trở về thực tiễn.
d) Công cụ kiểm tra đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh
Kiểm tra, đánh giá học sinh là những khâu rất quan trọng trong quá trình dạy
học và giáo dục. Bộ GD&ĐT đã có nhiều giải pháp nhằm cải tiến kiểm tra, đánh giá
bước đầu đã có chuyển biến tích cực, song kết quả đạt được vẫn còn hạn chế, chưa
hướng đến đánh giá năng lực sáng tạo của HS.
Để kiểm tra đánh giá năng lực sáng tạo của HS cần sử dụng các phương pháp sau:
- GV đánh giá (thông qua quá trình dạy học, bài kiểm tra viết, trắc nghiệm,
giao các nhiệm vụ giải quyết vấn đề từ đó xem HS có những biểu hiện (chỉ ra trong
tiêu chí) sáng tạo không)
7
- HS tự đánh giá (thông qua quá trình học, học nhóm, thực hiện các nhiệm
vụ giải quyết vấn đề từ đó tự đánh giá xem có những biểu hiện (chỉ ra trong tiêu
chí) sáng tạo không. Do đó cần lập bảng kiểm.
cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lý phải là sự lĩnh hội vững chắc những khái quát
hóa kỹ thuật.
Cùng với việc nghiên cứu những thiết bị cụ thể, HS cần được vận dụng các
kiến thức vật lí vào việc nghiên cứu các lĩnh vực kĩ thuật quan trọng nhất, có vai trò
quyết định tới sự phát triển của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Quá trình này
góp phần chỉ ra cho HS thấy mối quan hệ gắn bó của sự phát triển vật lí và kỹ thuật
trong đời sống con người và sự phát triển xã hội.
Tuy nhiên, không chỉ vật lí là nền tảng của kỹ thuật mà kỹ thuật cũng thúc
đẩy nhưng nghiên cứu khoa học vật lí tạo ra những phương tiện kỹ thuật mới để
nghiên cứu vật lí có hiệu quả hơn.
Việc nghiên cứu các ứng dựng kỹ thuật của vật lí trong dạy học thực chất là
sự “sắp xếp” các kiến thưc vật lí trong các mối quan hệ khác nhau, mối quan hệ có
tính chất vật lí – kỹ thuật. Thông qua việc nghiên cứu cấu tạo, hoạt động của các
thiết bị kỹ thuật, HS xác định được mối quan hệ có tính quy luật vật lí tồn tại trong
hoạt động của thiết bị, giải thích được hoạt động của nó trên cơ sở những định luật,
nguyên lí vật lí đã biết.
1.2.3. Vai trò của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật trong dạy học Vật Lý
Nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lí được thực hiện trên cơ sở các
kiến thức khoa học cơ bản, cho HS làm quen với những nguyên lí chủ yếu của
những ngành sản xuất chính, đồng thời tạo cho HS những kỹ năng kỹ xảo cần thiết
trong lao động sản xuất, trong việc sử dụng những công cụ đơn giản của nền sản
xuất hiện đại. Điều cần chú ý ở đây là việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của
vật lí là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa bài học vật lí và đời sống.
Xét về phương diện lí luận dạy học thì việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật là
giai đoạn củng cố kiến thức (khái niệm, định luật, hiệu ứng, nguyên lý…) vật lí thông
qua việc vận dụng nó trong trường hợp cụ thể. Qua đó sự hiểu biết về nội dung kiến
thức (khái niệm, định luật, hiệu ứng, nguyên lý…) vật lí sẽ sâu sắc và mềm dẻo hơn.
Đồng thời việc nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật sẽ tạo điều kiện xác định tính thống nhất
giữa cái trìu tượng (khái niệm, định luật, hiệu ứng, nguyên lý…) với cái cụ thể (các
thiết bị, máy móc…)
Dựa vào phân tích ở trên việc dạy học theo con đường thứ hai có thể tiến
hành theo các bước sau:
Bước 1 : Ôn tập các định luật ,nguyên lý Vật lý và nguyên tắc hoạt động của
thiết bị trên các định luật nguyên lý.
10
Bước 2 : Đưa ra nhiệm vụ thiết kế một thiết bị có chức năng nào đó cho học sinh.
Bước 3 : Hướng dẫn học sinh vận dụng các mối quan hệ có tính quy luật, có
tính nhân quả về Vật lý đã biết để đề xuất những dự án thiết kế thiết bị đó. Tổ chức
cho học sinh thảo luận các dự án thiết kế thiết bị theo phương án khả thi nhất.
Bước 4: Đưa ra mô hình vật chất chức năng ứng với dự án đã lựa chọn và mô
hình vận hành để kiểm tra tính đúng đắn của thiết bị này.
Bước 5 : Bổ sung hoàn thiện mô hình về phương diện kỹ thuật phù hợp với
thực tiễn hoặc đưa ra vật chất hoặc mô hình có thêm các chi tiết kỹ thuật để học
sinh có thể hiểu biết thêm đầy đủ về ứng dụng kỹ thuật, cuối cùng là tóm tắt lại
chức năng, cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của ứng dụng kỹ thuật vừa nghiên cứu.
1.3. Hoạt động ngoại khóa ở trường phổ thông về ứng dụng kĩ thuật của vật lí với
việc phát huy năng lực sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh
Để hoàn thành tốt mục tiêu giảng dạy của bộ môn, đặc biệt là mục tiêu
giảng dạy về rèn luyện nâng cao năng lục sáng tạo của HS. Người GV cần có sự
phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa hoạt động nội khóa với hoạt động ngoài giờ lên
lớp (ngoại khóa).
Hoạt động ngoại khóa Vật lí theo quan niệm đổi mới phương pháp dạy học là
một hình thức tự học tích cực, bổ ích và có hiệu quả, nối liền bài giảng trên lớp với
thực tiễn đời sống, mở rộng, kéo dài trường suy tưởng, thẩm định về bài học cho
HS; phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng
dạy học trong giờ học chính khóa. Gây hứng thú cho người học và thậm chí cả GV.
Để vận dụng có hiệu quả hình thức dạy học tổ chức HĐNK vật lí cho HS thì
triển kĩ năng, khám phá bản thân, phát triển những gì đã có. Rèn luyện cho HS thói
quen lập kế hoạch, thực hiện các kế hoạch, mục tiêu đã được vạch ra.
Việc tham gia tích cực vào các hoạt động ngoại khóa giúp HS cân bằng
cuộc sống, thư giãn và tiếp thêm sinh lực từ đó khám phá ra những sở thích mới mẻ,
những trải nghiệm thú vị. Tích cực tham gia các hoạt động để tăng thêm tính
chuyên nghiệp, khám phá cơ hội và mở rộng tầm nhìn ngoài những kiến thức tích
lũy khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường. Hơn nữa, kỹ năng giao tiếp, ứng xử và
giải quyết tình huống, trình bày trước đám đông của HS được cải thiện rõ rệt thông
qua các hoạt động ngoại khóa.
Ngoại khóa Vật lí cho phép GV khắc phục được những bất cập về thời
trong giờ học chính khóa giữa thời gian với khối lượng kiến thức cần truyền đạt, có
12
thể mở rộng, hiểu thực tế hơn. Bổ sung những nội dung chưa được đặt ra trong giờ
học chính khóa.
Ngoài ra, HĐNK còn góp phần phát triển năng lực tư duy như tư duy
lôgic, tư duy trừu tượng và đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo cho HS.
1.3.2. Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa Vật lí
Do sự hạn chế của thời gian học trong giờ chính khóa mà số lượng kiến thức
GV cần truyền đạt, HS cần tiếp thu lại nhiều nên vì vậy cần phải có các hoạt động
ngoại khóa để giúp HS nắm vững kiến thức hơn và hiểu sâu sắc hơn.
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học có các đặc điểm sau:
HĐNK là hoạt động ngoài giờ học trên lớp, không mang tính bắt buộc,
không được quy định trong chương trình nội khóa. Là hoạt động tự nguyện của
cá nhân hay nhóm HS có hứng thú, sở thích, mối quan tâm về một vấn đề nào
đó của bài học.
HĐNK có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: dạng tập thể cả lớp, dạng
nhóm theo năng khiếu, dạng học tập, nhận dịp kỉ niệm, ngày lễ…dưới nhiều hình
chưa có điều kiện tìm hiểu như: thiên văn học, vật lí hiện đại…thì ngoại khoá Vật lí giúp
đưa một số nội dung này vào chương trình học, bổ sung hiểu biết cho HS đặc biệt là
thiên văn học.
Nội dung của HĐNK Vật lí có thể là những kiến thức nằm trong phạm vi
chương trình học nội khóa nhằm giúp HS nắm chắc kiến thức, củng cố, mở rộng kiến
thức đã học trên lớp hay cũng có thể là những kiến thức mới vượt khỏi nội dung
chương trình học nội khóa giúp nâng cao tầm hiểu biết của HS, phát huy óc sáng tạo
của HS. Có thể kể đến một số nội dung HĐNK mà HS có thể thực hiện:
-
Tìm hiểuvà đào sâu nghiên cứu những kiến thức lí thuyết về vật lí và kĩ thuật.
-
Nghiên cứu những lĩnh vực riêng biệt của vật lí học ứng dụng như kĩ thuật
điện, kĩ thuật vô tuyến…
-
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ vật lí, làm thí nghiệm
vật lí. Nghiên cứu nhũng ứng ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong cuộc sống.
Để lựa chọn được nội dung nào đó phù hợp để tổ chức HĐNK thì GV cần phải
căn cứ vào một số yếu tố sau:
Vai trò của HĐNK vật lí.
Tổ chức HĐNK phải phù hợp với đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức và
hoàn cảnh học tập của học sinh, phù hợp với điều kiện vật chất và thời gian để học
sinh có thể thu xếp thực hiện được, phù hợp với đặc điểm của nhà trường .
14
vào từng điều kiện cụ thể chúng ta có thể vận dụng các loại hình phù hợp với khả
năng. Có thể phân chia các hình thức HĐNK Vật lí như theo số lượng HS tham gia,
15
theo nội dung bài học, địa điểm diễn ra HĐNK… Để giúp HS lĩnh hội kiến thức đầy
đủ và có hiệu quả, tôi nhận thấy có thể tổ chức HĐNK cho các khối lớp theo hai
cách là HĐNK theo nhóm và HĐNK có tính quần chúng rộng rãi, cụ thể:
Tổ chức các sân chơi Vật lí: thiết kế các thiết bị thí nghiệm, giới thiệu sản
phẩm Vật lí tự chế…
Tổ chức tham quan dã ngoại về vật lí kĩ thuật tới những nơi có những dụng
cụ Vật lí như kính thiên văn…
Tổ chức, hướng dẫn học sinh thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí
nghiệm vật lí hoặc máy móc đơn giản.
a) Hoạt động ngoại khóa theo nhóm
Dựa vào đặc thù của môn Vật lí là các kiến thức Vật lí không khó nhưng lại
gắn liền với thực tiễn, được xây dựng chủ yếu bằng thực nghiệm. Vì vậy, việc tổ
chức HĐNK nên chọn nội dung liên quan đến việc sử dụng thí nghiệm. Để HĐNK
về vật lí có liên quan nhiều đến thí nghiệm thành công được thì hình thức tổ chức
HĐNK theo nhóm là ưu việt nhất. Hình thức này vừa đảm bảo cho quá trình thiết
kế, chế tạo và tiến hành thí nghiệm diễn ra nhanh, có chất lượng vừa tạo điều kiện
cho học sinh tự học hỏi lẫn nhau và rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm.
HĐNK theo nhóm là hoạt động đã được lập ra từ trước theo đó HS tiếp
thu được một số kiến thức bổ sung, đào sâu, củng cố cho kiến thức trên lớp. Điều
giá trị nhất của HĐNK theo nhóm là HS học được cách vận dụng kiến thức đã
học vào thực tiễn tức là tham gia vào quá trình sáng tạo, rèn luyện kĩ năng nói
trước đám động.
HĐNK theo nhóm là hình thức dạy học có sự kết hợp tính tập thể mà trong đó
HS trong các nhóm dưới sự chỉ đạo của GV cùng trao đổi các ý tưởng, kiến thức,
hay, phương pháp, cách giải hay.
Kết quả hoạt động của nhóm có thể do từng cá nhân hay nhóm báo cáo. GV cần
có sự động viên, khuyến khích, tuyên dương thích hợp trước lớp để tạo thêm sự hứng
thú, lòng tin vào bản thân cho HS. Ngoài ra, tạo điều kiện cho HS báo cáo ở những buổi
sinh hoạt lớp, đăng kí kết quả lên bảng tin chung, tệp san của nhà trường.
2. Nhóm chế tạo dụng cụ thí nghiệm Vật lí
Như đã nói ở trên, do đặc thù của môn học nên nhóm “chế tạo dụng cụ thí
nghiệm” là phổ biến và phù hợp với HĐNK nhất.
Tại các trường THPT hiện nay đều được trang bị các dụng cụ thí nghiệm để
phục vụ cho giờ học chính khóa. Tuy nhiên, số lượng còn hạn chế đặc biệt là các thí
nghiệm liên quan đến ứng dụng kĩ thuật. Việc tổ chức HĐNK này sẽ giúp phát huy
tính tích cực, khả năng sáng tạo của HS. Nội dung của hoạt động này nên hướng
vào chế tạo dụng cụ thí nghiệm, nằm trong trọng tâm của chương trình,vì HS vốn
17