Ảnh hưởng của môi trường giáo dục nhà trường đến sự phát triên nhân cách học sinh - Pdf 33

HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
A. Phần mở đầu
Mỗi người sinh ra và lớn lên đều cần không gian sống tối thiểu, để sinh hoạt, vui
chơi, nghỉ ngơi, sản xuất…. Không gian đó chính là môi trường vật chất, tinh thần;
hay nói cách khác đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Ở mỗi giai đoạn phát triển của con người, môi trường tác động đến nhân cách có
mức độ khác nhau. Nhiều nhà khoa học cho rằng lứa tuổi quan trọng hình thành nhân
cách đó là từ 0 đến 3 tuổi. Trẻ em tiếp xúc với thế giới khách quan thông qua các giác
quan, vì vậy có câu nói “bé lên ba, cả nhà học nói”. Tiếp nối lứa tuổi Mầm non là trẻ
em tuổi thiếu niên, học sinh tiểu học, trung học cơ sở lứa tuổi từ 6 đến 15, và học sinh
trung học phổ thông tuổi thanh niên 16 đến 18. Sinh viên ở các trường Đại học, Cao
đẳng tuổi từ 18 đến 23 đó là giai đoạn trưởng thành. Ở lứa tuổi này, các thanh niên tiếp
tục được giáo dục và tự giáo dục để phát triển, hoàn thiện dần nhân cách. Sự phát
triển, hoàn thiện được biểu hiện tập trung về mặt xã hội, vì vậy dễ dàng nhận thấy
thanh niên rất nhiệt tình, hào hứng tham gia các hoạt động tập thể, thậm chí cả những
hoạt động không phù hợp với bản thân họ. Điều này dẫn đến tình trạng có một số ít
sinh viên thiếu ý thức, hoạt động quậy phá không rõ nguyên nhân, có những biểu hiện
lệch lạc trong cuộc sống…
Nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập hiện nay, đòi hỏi cấp
bách là chất lượng nguồn nhân lực. Trong ba nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực thì
nguồn nhân lực quan trọng và quyết định nhất. Giáo dục và đào tạo có nhiệm vụ nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Tất cả các trường học, bậc học phải
căn cứ vào tâm sinh lý lứa tuổi để có biện pháp giáo dục phù hợp. Macarenco, nhà
giáo dục vĩ đại Xô Viết đã từng nói “Không có trẻ em hư, chỉ có phương pháp giáo dục
không đúng”. Trẻ em, thanh thiếu niên sẽ bất hạnh nếu không được sống, lớn lên, phát
triển trong môi trường tự nhiên, xã hội tốt, không được hưởng nền giáo dục tiên tiến
và phương pháp tích cực.
Xuất phát từ thực tế và tình yêu nghề, yêu thế hệ trẻ, bản thân mạnh dạn chọn đề
tài “Tìm hiểu sự ảnh hưởng của môi trường Xã hội đến việc hình thành và phát
triển nhân cách Sinh viên bậc Cao đẳng, Đại học” để nghiên cứu và vận dụng vào
công tác thực tế của mình.

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và lý luận
1.1. Nhân cách và sự phát triển nhân cách
1.1.1. Khái niệm nhân cách
-Nhân cách là toàn thể những thuộc tính đặc biệt mà một cá thể có được trong hệ
thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở hoạt động và giao lưu nhằm chiếm lĩnh các giá trị
vật chất và tinh thần. Những thuộc tính đó bao hàm các thuộc tính về trí tuệ, đạo đức,
thẩm mỹ, thể chất…
-Nhân cách là tổ hợp các thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng
trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài
người sáng tạo, với xã hội và bản thân.
-Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ quan hệ
qua lại của người đó với người khác, với tập thể, với xã hội và cả thế giới xung quanh
trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại, tương lai. Nó là một thứ giá trị được
xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc
trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại
mang tính xã hội sâu sắc. Nhà tâm lý học Xô Viết, X.L.Rubinstein cho rằng: “Con
người là cá tính do nó có những thuộc tính đặc biệt không lập lại, con người là nhân
cách do nó xác định được quan hệ của mình với những người xung quanh một cách có
ý thức”.
Theo Bách khoa Toàn thư Liên Xô, nhân cách được thể hiện ở hai mặt: thứ nhất
là con người với tư cách là chủ thể các mối quan hệ và hoạt động có ý thức, thứ hai là
một hệ thống giá trị có ý nghĩa xã hội đặc trưng cho cá thể trở thành một nhân cách.
Do cấu trúc nhân cách rất phức hợp nên một số nhà nghiên cứu giáo dục thường
nhấn mạnh đến các thuộc tính liên cá nhân (phản ánh mối quan hệ đa dạng, phong phú
của cá nhân với cộng đồng, xã hội) các thuộc tính nội cá nhân (phản ánh những nét
tính cách tính cách riêng, độc đáo trong cuộc sống nội tâm); các thuộc tính siêu cá
nhân (phản ánh những phẩm chất, năng lực sáng chói có ý nghĩa xã hội, trở thành một
nhân cách bất tử).
Mặt dù các quan điểm, định nghĩa trên có khác nhau, xuất phát từ mục đích
nghiên cứu riêng, nhưng nhìn chung có sự thống nhất khi xem xét nhân cách, đó là:

-Sự phát triển về mặt thể chất: Đó là sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ
bắp, sự hoàn thiện các chức năng giác quan, sự phối hợp các chức năng vận động của
cơ thể.
-Sự phát triển về mặt tâm lý: Thể hiện sự biến đổi cơ bản trong quá trình nhận
thức, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, ý chí…
-Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các mối
quan hệ với những người xung quanh, ở tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạt
động cải biến, phát triển xã hội.
Sự phát triển cá nhân là quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh thể chất và tinh
thần, các sức mạnh bản chất con người. Vì nhân cách là bộ mặt xã hội – tâm lý của
mỗi người nên sự phát triển nhân cách phải được hiểu sự phát triển mặt tâm lý xã hội
của con người.
Trong các sách giáo dục học trước đây, một số tác giả có sự hiểu biết lẫn lộn giữa sự
phát triển nhân cách và sự phát triển cá nhân. Nếu quan niệm như vậy thì có thể hiểu
khái niệm cá nhân là khái niệm nhân cách. Nhưng thực tế, hai khái niệm này không
phải là một.
Sự phát triển nhân cách là quá trình biến đổi không chỉ về lượng mà cả những
biến đổi về chất trong mỗi nhân cách. Đó là quá trình nảy sinh cái mới và hủy diệt cái
cũ.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

4


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
1.1.2.3. Sự hình thành và phát triển nhân cách chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố

lý thông qua khâu trung gian là phương thức sống.
-Nhân tố xã hội: Bao gồm cả một hệ thống quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội-lịch
sử, văn hóa, giáo dục được thiết lập. Con người hòa nhập với xã hội thông qua nhân tố
này.
Vai trò: Nhân tố xã hội có có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và phát
triển nhân cách. Rõ ràng là không có sự tiếp xúc với con người thì cá nhân lớn lên

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

5


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
trong trạng thái động vật, không thể trở thành một con người, một nhân cách. Nhân
cách đó là một sản phẩm của xã hội.
Yếu tố giáo dục
Giáo dục là những tác động tự giác (có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, có sự
chuẩn bị một lực lượng nhất định có năng lực, có phẩm chất..) của thế hệ trước đến thế
hệ sau, nhằm hình thành ở thế hệ sau những phẩm chất, những năng lực,…theo yêu
cầu của xã hội.
Giáo dục là hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển
nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất
định.
Vai trò: Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân
cách, thông qua giáo dục, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã
hội - lịch sử đã được kết tinh trong các sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần của
nhân loại. Giáo dục có thể đem lại cho con người những cái mà các yếu tố bẩm sinh –
di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được và nó có thể phát huy tối đa

HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
đòi hỏi con người thực hiện nó và tạo điều kiện cho con người thực hiện các yêu cầu
đó nên mỗi cá nhân cần rèn luyện phát huy những tài năng của bản thân.
Mối quan hệ giữa hoạt động và sự phát triển nhân cách là mối quan hệ biện
chứng. Tuỳ thuộc vào tính chất và nội dung của hoạt động khác nhau, mà hoạt động có
thể tạo điều kiện cho sự phát triển nhân cách ở những mức độ khác nhau. Nói chung,
hoạt động càng phong phú, phức tạp sẽ càng thuận lợi và tạo điều kiện cho cá nhân
phát triển hơn. Mặt khác, cá nhân càng phát triển thì càng có thể tham gia vào các hoạt
động phức tạp hơn.
*Các nhân tố này tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách, không phải
có giá trị song song hoặc bằng nhau hoặc đối lập nhau. Vì vậy, khi xem xét mối quan
hệ giữa các yếu tố thúc đẩy đến sự hình thành và phát triển nhân cách cần phải thật sự
khách quan, đúng đắn và khoa học.
1.1.3. Đặc điểm phát triển nhân cách của sinh viên bậc Đại học, Cao đẳng.
- Sự thích nghi với môi trường sống và phương pháp học tập mới: Khi bước chân
vào giảng đường đại học, Cao đẳng các tân SV phải đối mặt với những thay đổi to lớn
cả về nếp sinh hoạt hàng ngày và phương pháp học tập tại trường CĐ, ĐH. Chính vì
vậy, trở thành SV đồng nghĩa với việc các em phải nhanh chóng thích nghi với điều
kiện, hoàn cảnh sống mới, môi trường và phương pháp học tập mới. Sự thích nghi này
hoàn toàn khác nhau ở mỗi người tùy thuộc vào tính cách, năng lực bản thân, sự tự chủ
của các em…
- Sự phát triển nhận thức của SV: Nếu như trong môi trường học tập phổ thông,
HS được trang bị kiến thức chung trong sự giám sát chặt chẽ của gia đình, thầy cô giáo
thì trong môi trường học tập ở bậc CĐ, ĐH, SV được trang bị những kiến thức chuyên
ngành để có thể trở thành người lao động, người chuyên gia trong lĩnh vực mình được
đào tạo. Hoạt động nhận thức của SV luôn phải đi liền với tính tự giác, chủ động cao.
Nếu như trước kia, các em được các thầy cô hướng dẫn, giảng giải kỹ càng các kiến
thức phổ thông thì trong môi trường CĐ, ĐH, phương pháp truyền thụ theo kiểu “đọc
– chép” không còn phổ biến nữa mà chủ yếu là trang bị cho các em những kỹ năng tự
học tập, tự trau dồi tri thức thông qua hệ thống thư viện, phòng thí nghiệm,… Đây là

với trách nhiệm của bản thân cũng như để tình yêu đó phù hợp với hoàn cảnh, điều
kiện học tập của mình.
- Động cơ và định hướng giá trị của SV: Động cơ và định hướng giá trị của SV cũng
có sự phát triển phong phú đa dạng. Điều đó phản ánh trong mục đích học tập, phấn
đấu của các em có thể là những yếu tố tâm lý chủ quan như hứng thú, lý tưởng sống,
tình yêu với môn học… cũng có thể là những yếu tố nằm ngoài bản thân như học tập
vì gia đình, vì thành tích…. Mặt khác, trong môi trường tập thể, SV dần chấp nhận
những phong cách, lối sống, giá trị sống của người khác và hướng đến những giá trị
sống mình cho là phù hợp. Có thể nói, việc định hướng giá trị sống cho SV là việc làm
cần thiết để hướng các em vào những mục đích, giá trị sống cao đẹp.
Có thể nói, sinh viên là lứa tuổi sung mãn nhất của đời người, các em có sức khỏe dồi
dào, nhiều ước mơ hoài bão, tuổi trẻ và cả quãng đời dài đang ở phía trước. Điều cần
nhấn mạnh là việc các em có phát triển hết các khả năng, điều kiện của mình hay
không phụ thuộc nhiều vào định hướng đúng đắn cũng như tính tích cực hoạt động,
học tập rèn luyện của các em. Nếu có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống và có chí hướng
vươn lên trong rèn luyện, học tập các em sẽ trở thành những chuyên gia, những trí
thức trong tương lai.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

8


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Chương 2: Vai trò và Đặc điểm của môi trường giáo dục Xã hội trong việc
hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của Sinh viên bậc Cao đẳng, Đại
học.
2.1. Khái niệm môi trường Xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người.

2.3.1. Tác động tích cực
Xã hội ngày càng tiến bộ thì các sinh viên có nhiều hơn những điều kiện để phát
triển như sự phát triển của khoa học công nghệ, sự giao lưu văn hóa của các dân tộc

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

9


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
trong nước và ngoài nước, có sự tiếp xúc với cuộc sống cộng đồng được nhiều hơn…
những điều đó tạo môi trường thuận lợi cho các em hình thành và phát triển nhân cách.
Sinh viên phải được sống trong xã hội mà mọi cá nhân, tổ chức đều tạo những
điều kiện tốt nhất cho các em phát triển, bởi vì các em là nguồn nhân lực trẻ của đất
nước. Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để đào tạo, bồi dưỡng,
giáo dục, nâng cao trình độ kiến thức, kĩ năng và nâng cao ý thức trách nhiệm công
dân. Chăm lo, phát triển và phát huy tài năng của các em; tạo điều kiện cho các em học
tập nâng cao trình độ văn hóa, kiến thức, chuyên môn, tay nghề; có cơ chế, chính sách
giải quyết việc làm, tạo vốn cho các em mưu sinh, lập nghiệp khi ra trường; xây dựng
cơ sở vật chất các trung tâm văn hóa, thể dục thể thao, giúp các em rèn luyện, nâng cao
thể chất; lãnh đạo phát triển các phong trào hành động cách mạng trong thanh niên,
khơi sức sáng tạo, khả năng cống hiến để thanh niên vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh
cao khoa học, kỹ thuật, đi đầu trong giải quyết những vấn đề bức bách của xã hội.
Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng phát biểu: “Các ngành, các địa phương,
các trường học phải xem các gương mặt trẻ tiêu biểu như tấm gương cần phải nhân
rộng, tạo thành phong trào trong thanh niên, từ đó đẩy lùi tệ nạn tiêu cực”.
Hình ảnh xung kích đi đầu trong các phong trào tình nguyện (Tiếp sức mùa thi,
Mùa hè Xanh, Xuân Tình Nguyện…) của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh đã trở

người Việt Nam. Sinh viên xem nhưng thiếu người định hướng và giáo dục nên sẽ dễ
nhận thức sai lầm kéo theo hành vi sai và phạm tội. Hơn nữa, việc thường xuyên chơi
game online và sống trong ảo giác sẽ gây ra những hành vi dần ảnh hưởng đến đạo
đức, làm tha hóa nhân cách, lệch lạc về nhận thức, từ đó dẫn đến những hành vi tiêu
cực, có thể hủy hoại tương lai của giới trẻ.
Tốc độ lan truyền thông tin trên Intenet nhanh chóng là một tiện ích, các trang
mạng xã hội như Facebook, Twiter… lại được các em sử dụng rất nhiều, nhưng nó
mang lại hệ quả khó lường. Tuổi trẻ luôn được xem là nhanh nhạy trong việc nắm bắt
các thành tựu kỹ thuật mới, các bạn trẻ rất am hiểu việc sử dụng các công cũ kỹ thuật
như điện thoại di động có quay phim chụp ảnh, chuyển tải dữ liệu lên mạng … Thế
nhưng, tuổi trẻ cũng lại rất chậm để cảm nhận được hậu quả của những đoạn phim,
bức ảnh được gửi lên mạng. Ngày nay, chỉ một chuyện nhỏ trong lớp cũng có thể dễ
dàng được quay phim lại bằng điện thoại di động, cũng nhanh chóng được chuyển tải
lên mạng, có hàng ngàn đến hàng triệu lượt người xem. Là lứa tuổi dễ bị kích động, dễ
bắt chước, không ít những bạn trẻ tự làm hại mình khi sử dụng không kiểm soát các
tiến bộ của công nghệ
Mặt khác, xã hội ngày nay phát triển đa dạng, phong phú. Những mặt trái của sự
phát triển nền kinh tế thị trường để lại hậu quả suy thoái về đạo đức. Con người vì lợi
nhuận bất chấp thủ đoạn hại nhau, vì lợi sẵn sàng giết nhau,… Môi trường sống xung
quanh cùng với những tệ nạn xã hội đang diễn ra tràn lan và ngày càng xâm nhập sâu
vào học đường cũng là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức…. Do vậy, các em
ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đó, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
triển nhân cách.
Phải thừa nhận rằng, do ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường
cũng như của xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do không nghiêm túc trong rèn luyện,
phấn đấu, một bộ phận sinh viên ở nước ta đang có những biểu hiện tiêu cực đáng lo
ngại, như phai nhạt lý tưởngchạy theo lối sống buông thả, lười học tập và tu dưỡng
đạo đức, thích hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinh hoạt thiếu lành mạnh
hoặc phản văn hóa, nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật ...
Xã hội càng phát triển thì có nhiều vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, các em phần

Nam.
Chương 3: Biện pháp xây dựng môi trường giáo dục Xã hội tích cực cho
Sinh viên bậc Cao đẳng Đại học.
Hơn lúc nào hết, hiện nay việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị sống,
kỹ năng sống cho sinh viên, lý tưởng sống, giáo dục lòng yêu nước cho sinh viên là rất
quan trọng và cấp thiết. Nó góp phần xây dựng thành công con người mới xã hội chủ
nghĩa để phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
3.1. Bồi dưỡng về đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng
cách mạng
-Ngày nay giáo dục đạo đức cho sinh viên là giáo dục tình yêu Tổ Quốc, yêu quê
hương đất nước, có lòng vị tha nhân ái, cần cù liêm khiết và chính trực. Đó là đạo đức
Xã hôi Chủ nghĩa, là đạo đức của cá nhân , tập thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính
chân thực, tích cực, khác với đạo đức vị kỉ cá nhân. Giáo dục đạo đức sinh viên gắn
chặt với giáo dục tư tưởng- chính trị, giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc văn
hóa dân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước XHCN, cung cấp cho sinh viên những
phương thức ứng xử đúng đắn trước các vấn đề của xã hội, bồi dưỡng lý tưởng cách
mạng… giúp các em có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự
giác, có khả năng chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống.
-Bồi dưỡng về chính trị là nâng cao khả năng nhận thức cho các em về chủ quyền
dân tộc, về sự tồn tại và toàn vẹn lãnh thổ, về sự giàu mạnh của đất nước. Thực hiên

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
12

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
đường lối của Đảng của nhà nước về chiến lược phát triển đất nước và tuân thủ các
chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia. Về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân thể

và các cuộc vận động lớn: Dân chủ- kỉ cương- tình thương- trách nhiệm”, “mỗi thầy cô
giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, các phong trào thi đua “Dạy tốt,
học tốt”, Xây dựng “ Trường học thân thiện, sinh viên tích cực”, “Xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh trong trường học”.
-Tổ chức chỉ đạo, thực hiện tốt công tác giáo dục đạo đức đạo đức, chính trị,
pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho sinh viên.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
13

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Đối với các phòng, khoa, cơ sở cần có kế hoạch khoa học, toàn diện, hợp lý và
thực tế, có thể làm được, tránh chung chung, đại khái, làm cho có.Người xây dựng và
chỉ đạo việc triển khai phải có uy tín và hiệu lực.
Đối với giáo viên bộ môn: Phấn đấu dạy tốt môn học của mình, tích cực lồng
ghép các vấn đề về đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách
mạng cho sinh viên thông qua giảng dạy chuyên ngành.
Đối với tổ chức Đoàn thanh niên: Tuyên truyền các nghị quyết của đoàn, tổ chức
thực hiện “Nề nếp - Kỷ cương”, các phong trào thi đua trong học tập sinh hoạt, các
hoạt động nội ngoại khóa: các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa - uống nước nhớ
nguồn”… nhằm giáo dục về lòng nhân ái, truyền thống, đạo lý con người, giáo dục các
em truyền thống dân tộc.
Đối với cha mẹ cần trở thành tấm gương tốt cho con, động viên, răn dạy các em
những điều hay, lẽ phải, những chủ trương của Đảng và nhà nước.
Đối với các tổ chức chính trị xã hội ( Chính quyền địa phương, tổ dân phố…):
cần chú trọng xây dựng mối quan hệ gia đình với xã hội, xây dựng gia đình văn hóa,
khu phố văn hóa,ông bà mẫu mực,con cháu thảo hiền, triển khai các kế hoạch của cấp

năng lực thực hành. Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh,
coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn. Tổ chức cho sinh viên tham
gia công tác xã hội, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao phù hợp với yêu cầu
giáo dục toàn diện.
Nhìn rộng ra các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, họ đặc biệt
quan tâm đến việc phát triển tư duy sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và khả năng
làm việc theo nhóm của người học. Các quốc gia này áp dụng nhiều phương pháp khác
nhau nhằm khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để người học phát triển khả năng sáng tạo
của mình. Nhiều trong số các phương phương pháp, chúng ta có thể học tập và áp
dụng cho Việt Nam ngay cả ở những trường, đơn vị chưa áp dụng phương thức đào tạo
theo tín chỉ.
-Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học, đưa Tin học vào quản lý và đổi
mới phương pháp : Thay thế, bổ sung cơ sở vật chất và thiết bị cho các trường phổ
thông. Tích cực đưa Tin học vào giảng dạy, thay đổi phương pháp dạy học theo hướng
tích cực. Hiện nay trên thế giới đang thực hiện những phương tiện dạy học hiện đại
như: học với máy tính, với đèn chiếu overhead, với giáo án điện tử… Chúng ta từng
bước tiếp cận, nhân rộng, từng bước đưa vào sử dụng để thay đổi phương pháp dạy
học.
-Đổi mới công tác quản lý giáo dục : Xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan
quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo với cơ quan quản lý nhân lực và việc làm
Hiện nay ngành giáo dục đang lệ thuộc nhiều vào các lực lượng khác ngoài
ngành, ví dụ tỉ lệ tốt nghiệp, tỉ lệ lên lớp, lưu ban… “bệnh thành tích” đang làm cho
ngành mất đi tính độc lập, chủ động, thậm chí quản lý nhân sự ở các ngành học phổ
thông cũng không phải thuộc ngành giáo dục quản lý. Nên có định hướng quản lý
ngành giáo dục theo ngành dọc toàn bộ, độc lập chỉ đạo về chuyên môn, nhân sự ,
ngân sách, thanh tra kiểm tra, kể cả xây dựng cơ bản, cơ sở vật chất thì ngành mới chủ
động thay đổi phương pháp giáo dục .
Xử lý nghiêm túc các hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục ( thi cử , luận
văn , cấp bằng …)
Tăng cường sắp xếp lại hệ thống các trường phổ thông và đại học, hệ thống

giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục
trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước
về giáo dục nặng về hành chính sang quản lý chất lượng và từ quản lý nhà nước theo
cách kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã
hội nghề nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội Khuyến học, liên hiệp hội các
trường ngoài công lập… trong phát triển giáo dục.
3.3. Bồi dưỡng nâng cao về kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và ứng xử
Bên cạnh việc thiếu kinh nghiệm làm việc thì không ít bạn trẻ đánh mất cơ hội
lập nghiệp do thiếu kỹ năng mềm. Nhiều người không nhận thức đúng, đủ về vấn đề
này. Hầu hết rất bị động, hiểu mơ hồ về kỹ năng mềm, vai trò của kỹ năng mềm đối
với công việc của mình. Điều này khiến cho kỹ năng mềm của sinh viên hiện nay còn
yếu.
-Bồi dưỡng văn hóa-thẩm mỹ cho các em là bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận
thức cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống xã hội và nghệ thuật. Bồi dưỡng cho các
em đánh giá cái đẹp, nhận biết cái chân thiện mỹ trong cuộc sống con người từ đó hình
thành tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn, phù hợp với các giá trị dân tộc và thời
đại.
-Kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống, đặt vấn đề, kỹ năng team work, giao tiếp
tiếng Anh… vẫn là những điểm hạn chế của các em. Hình thành kỹ năng sống cho sinh

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
16

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
viên không chỉ thông qua hình thức tích hợp trong các môn học có tiềm năng mà còn

Tăng cường sự quan tâm chỉ đạo sát sao hơn nữa của chi bộ Đảng, Ban Giám
hiệu, các tổ chức đoàn thể, các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường đối với công
tác giáo dục đạo đức cho sinh viên.
Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức để giáo dục
cho sinh viên, nhằm thu hút người học tham gia học tập rèn luyện một cách tích cực.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
17

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Việc kiểm tra đánh giá kết quả của hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên
phải đảm bảo công bằng, công khai, khen thưởng, phê bình, nhắc nhở kịp thời.
Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công
dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho sinh
viên tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu
cầu giáo dục toàn diện.
Xã hội:
Các cá nhân, tổ chức ở các địa phương, ban, ngành, đoàn thể nên tạo những điều
kiện thuận lợi nhất để giáo dục cho các em hoàn thiên nhân cách.
* Gia đình cần kết hợp với nhà trường, xã hội trong việc giáo dục giá trị cho các
em, không nên phó mặc trách nhiệm giáo dục giá trị con em mình cho nhà trường và
xã hội.
Thứ nhất, phải thiết lập được mối quan hệ bền vững giữa gia đình – nhà trường –
xã hội. Trong cuộc sống chúng ta luôn có những khó khăn vì nhiều lí do khác nhau.
Cha mẹ phải chăm lo cuộc sống vật chất và tinh thần cho gia đình nên đôi lúc không
thể có được thời gian theo sát con cái để có những biện pháp giáo dục thích hợp hướng
con mình theo cái tốt, cái thiện. Do vậy, cha mẹ muốn con trở thành công dân tốt phải

Thứ ba, những người giáo dục phải gương mẫu, hiểu tâm sinh lý của sinh viên
và có tâm huyết với việc giáo dục thế hệ trẻ thành công dân tốt.
Cha mẹ, giáo viên phải luôn là tấm gương sáng cho sinh viên noi theo, có những
hình thức khen thưởng và xử phạt công bằng giữa các thành viên, không phân biệt đối
xử giữa các con và các sinh viên; phải biết cách khen chê đúng lúc, nên khen nhiều
hơn chê để động viên và khích lệ hiệu quả. Cha mẹ và Thầy Cô phải đặt mình vào vị
trí của sinh viên, phải hiểu được tâm sinh lý của sinh viên để có những phương pháp
giáo dục đúng đắn phù hợp cho từng đối tượng.
Chúng ta phải có sự hòa nhập và hợp tác với chúng, vừa là các bậc tiền bối, cũng
vừa là những người bạn và vừa là những nhà tư vấn tâm lý đáng tin cậy để chúng có
thể chia sẽ những vui buồn và những bế tắc trong cuộc sống, trong học tập và trong
các mối quan hệ bạn bè và xã hội khác.
Thứ tư, phải giáo dục đạo đức cho sinh viên thường xuyên, liên tục, suốt đời;
phải theo dõi các mối quan hệ của sinh viên và giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho
sinh viên, lý tưởng sống và lòng yêu nước
Việc giáo dục đạo đức cho một sinh viên trở thành một công dân tốt là một quá
trình, phải chú trọng ngay từ khi trẻ mới hình thành nhận thức, đó là những lúc ở nhà
và việc giáo dục đạo đức ở trẻ bắt đầu từ các cấp học. Quan trọng nhất là nền tảng giáo
dục ở cấp Tiểu học vì đây là những buổi học đầu tiên mà trẻ làm quen với môi trường
giáo dục. Có lẽ ở nhà các em được cưng chiều nhiều nên khi vào học quí Thầy Cô sẽ là
những người dạy cho các em lẽ sống công bằng, phân biệt đúng - sai và phải làm đúng
theo lẽ phải, dạy cho các em hiểu vai trò, trách nhiệm của một người con trong gia
đình và cách giao tiếp văn hóa trong xã hội,… Ở bậc Trung học cơ sở là thời điểm các
em có sự chuyển biến về tâm sinh lý và luôn hiếu kỳ, tò mò, muốn khám phá thế giới
xung quanh. Vì vậy, phải dạy cho trẻ cách tiếp cận và thu nhận thông tin từ thực tiễn
cuộc sống và vận dụng nó một cách đúng đắn vào cuộc sống. Đối với thanh, thiếu niên
Trung học phổ thông, đây là giai đoạn các em phát triển khá hoàn thiện về mọi mặt,
nhận thức đã sâu sắc và chín chắn hơn, tuy nhiên các em vẫn còn những suy nghĩ bồng
bột, nông cạn nên dễ rơi vào những cám dỗ trong cuộc sống, sa vào cạm bẫy xã hội và
trở thành tội phạm mà bản thân các em không hay biết, hoặc biết nhưng vẫn làm do

cho đến các thiết bị phòng chữa cháy… đều được xây dựng, sắp xếp rất khoa học,
thẩm mỹ, hiện đại.
Cùng với việc đầu tư trang thiết bị và xây dựng môi trường tự nhiên có tính giáo
dục cao, trường Cao đẳng Bách Việt rất chú trọng xây dựng môi trường xã hội lành
mạnh, văn minh thân thiện. Tất cả các tổ chức từ Hội đồng quản trị, Ban Giám hiệu,
các phòng ban chức năng, các khoa chuyên môn cho đến các đoàn thể chính trị, quần
chúng đều đồng thuận về chủ trương, biện pháp giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức
cho HSSV. Tất cả đều có chương trình, kế hoạch, lịch biểu, thời gian, nội dung,
phương pháp giáo dục. Trước hết, đó là xây dựng quy chế, xác định mối quan hệ giữa
các bộ phận với nhau. Mối quan hệ giữa thầy và trò, mối quan hệ giữa thầy và thầy,
giữa học trò với nhau. Mọi người đều được tôn trọng, được tin tưởng, được tự giác
nhận ra nhiệm vụ, quyền hạn và quyền lợi của mình.
Các đoàn thể được tạo mọi điều kiện để hoạt động theo đúng chức năng. Chi bộ
có 15 đảng viên, hoạt động theo chỉ đạo của đảng cấp trên và được đánh giá là Chi bộ
trong sạch vững mạnh. Đoàn trường, Hội sinh viên trường Cao đẳng Bách Việt vận
dụng nghị quyết của Thành Đoàn vào thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo và có tác
dụng giáo dục. Đa số Học sinh, sinh viên trường đã hăng hái, tích cực tham gia các
hoạt động xã hội, nhiều em hào hứng hưởng ứng các phong trào, các cuộc vận động do
thành đoàn tổ chức. Trường Cao đẳng Bách Việt là trường có phong trào thể thao
mạnh của thành phố, ba năm liền đạt vô địch giải bóng đá toàn quốc về phong trào
sinh viên các trường cao đẳng, đại học. Môi trường xã hội ngày càng lành mạnh, nền
nếp kỷ cương trong trường không ngừng được củng cố. Hiện nay, HSSV đã có thói

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
20

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC

trị truyền thống đạo đức dân tộc, cần tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân
loại, tích cực giao lưu và làm giầu đời sống tinh thần cho thế hệ trẻ ngay khi ra nhập
ASEAN.
Cần tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo; coi giáo dục
đào tạo là quốc sách hàng đầu, bởi vì chính giáo dục sẽ góp phần nâng cao dân trí, đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
21

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Trong quá trình giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ cần xây
dựng môi trường tự nhiên và xã hội lành mạnh, trước hết đó là môi trường dân chủ; tạo
cho thế hệ trẻ phát huy tối đa các tiềm lực bản năng theo sự định hướng và giáo dục
đúng đắn; giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức tự học,tự giáo dục, tự tiếp nhận những tri thức
của nhân loại.
Những mong muốn chỉ có thể đạt được trong sự phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị và xã hội, của cả ba môi trường Gia đình, Nhà trường và xă hội.
Thế hệ trẻ sẽ lớn lên là chính nó và là tác phẩm của thời đại nó đang sống, đó là “tổng
hòa các mối quan hệ xã hội”.

E. Nhận xét của giáo viên hướng dẫn.
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status