CHUYÊN ĐỀ:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIỎI CÁCH HỌC VÀ LÀM BÀI THI
MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9 Ở TRƯỜNG THCS
1
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ trong giai
đoạn hiện nay, giáo dục luôn được coi là “Quốc sách hàng đầu”. vì vậy, để
giáo dục đạt kết quả tốt, trong những năm gần đây Đảng và nhà nước ta đã
thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông cả về nội dung và phương
pháp theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, lấy
học sinh làm trung tâm. Giáo trình đã được thực hiện hơn 10 năm qua và bước
đầu đã có kết quả tích cực. Một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng
dạy học môn Địa lí là bồi dưỡng và nâng cao chất lượng học sinh giỏi.
Là một giáo viên trực tiếp bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi trong
nhiều năm qua bản thân tôi nhận thấy rằng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
hiện nay còn nhiều bất cập, số lượng giải ít và chất lượng giải không cao bằng
các bộ môn khác. Đây là điều trăn trở của những người làm công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi, hầu như đội ngũ dạy bồi dưỡng chưa tiếp cận với cách ra đề của
phòng khảo thí kiểm định chất lượng của Sở GD - ĐT. Dạy bám sát, chuyên
sâu là một yêu cầu bức thiết đáp ứng cho yêu cầu thi học sinh giỏi cấp thành
phố và cấp tỉnh, vì vậy bản thân tôi quyết định chọn đây làm đề tài nghiên cứu
cho mình.
Điểm khác của học sinh (HS) giỏi với học sinh bình thường là ở chỗ
HS giỏi nắm kiến thức cơ bản địa lí vững chắc và toàn diện hơn, có kĩ năng địa
lí hoàn thiện hơn và đặc biệt là có tư duy địa lí linh hoạt và sâu sắc hơn. Ở mức
độ cao hơn nữa, HS giỏi là những người có khả năng sáng tạo, nghĩa là khả
năng tìm ra cái mới, cách giải quyết mới.
2
để đánh giá.
2. Kĩ năng địa lí
a) Học Địa lí ở THCS, HS cần phải củng cố và phát triển các kĩ năng:
3
- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá các sự vật,
hiện tượng địa lí; sử dụng bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống
kê,...
- Thu thập, xử lí, trình bày các thông tin địa lí.
- Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải
quyết một số vấn đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với HS trên cơ sở tư
duy kinh tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán.
b) Kĩ năng địa lí trong nhà trường THCS được chia ra 5 mức độ:
- Bắt chước: Quan sát và cố gắng lặp lại một kĩ năng nào đó.
- Thao tác: Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo chỉ dẫn hơn là bắt chước máy
móc.
- Chuẩn hoá: Lặp lại một kĩ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng,
đúng đắn và thường được thực hiện một cách độc lập, không phải hướng
dẫn.
- Phối hợp: Kết hợp nhiều kĩ năng theo một trật tự, một cách nhịp nhàng và ổn
định.
- Tự động hoá: Hoàn thành một hay nhiều kĩ năng một cách dễ dàng và trở
thành tự động, không đòi hỏi một sự cố gắng về thể lực và trí tuệ.
HS giỏi cần phải đạt được các mức độ 4 và 5 của kĩ năng. Nhờ vậy, các
em mới có thể sử dụng các kĩ năng này để tự học, tự nghiên cứu, tìm ra
những kiến thức cần nắm, hoặc vận dụng các kiến thức vào thực tế cuộc
sống để giải quyết các vấn đề thực tế.
- Các kĩ năng sẽ có được một cách vững chắc nhờ vào việc luyện tập
thường xuyên và có kết quả trên cơ sở những hiểu biết cần thiết về kĩ năng.
phải hiểu và vận dụng được các quy luật của trí nhớ.
a) Trí nhớ là hoạt động phản xạ có điều kiện. Muốn lập được phản xạ có
điều kiện, thông tin phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Do vậy, trong ghi nhớ
kiến thức, việc ôn tập thường xuyên tỏ ra hết sức cần thiết. Sau một số bài,
sau một chương hoặc một số chương, cần phải ôn tập để tăng cường ghi
nhớ.
b) Nhớ lâu được dựa trên ấn tượng mạnh. Một kiến thức hay, một cách
giải quyết vấn đề độc đáo, một lần bị sai lầm và nhận ra được,... là những
ấn tượng khó quên, lưu lại lâu bền trong trí nhớ mỗi HS. Vì vậy, khi học
bài địa lí, cần chú ý tạo ra các ấn tượng sâu về kiến thức. Các ấn tượng có
thể bắt nguồn từ việc sử dụng phương tiện trực quan trong khi học bài (ví
dụ khi học về các sự vật, hiện tượng địa lí nên sử dụng Atlát địa lí, hay bản
đồ trong SGK, bản đồ treo tường; khi học về hình thái địa hình nên dựa
vào lát cắt địa hình....), từ việc kết hợp nghe và nhìn (quan sát videoclip,
băng hình địa lí...), từ việc làm (trao đổi, tranh luận với bạn; làm các bài
thực hành, giải các bài tập địa lí...). Một kết quả nghiên cứu sư phạm đã
chỉ ra: kiến thức được nhớ là nhờ 10% qua đọc, 20% qua nghe, 30% qua
nhìn, 50% qua nghe và nhìn, 80% qua nói và 90% qua làm. Vì vậy, để tăng
cường ghi nhớ, nên chọn các biện pháp học tập đề cao vai trò của trao đổi,
5
thảo luận, thực hành, hoặc kết hợp nghe và nhìn, hỏi thầy và bạn về những
điều chưa rõ...
c) Nhớ lâu bắt nguồn từ hứng thú học tập: Nếu một HS đam mê với
việc giải thích các hiện tượng địa lí, HS đó sẽ nhớ về các mối liên hệ nhân
quả tốt hơn; nếu thích thú với các hiện tượng địa lí diễn ra xung quanh môi
trường sống, HS đó quan tâm nhiều hơn đến việc quan sát thực tế và vận
dụng kiến thức địa lí vào giải quyết những vấn đề đó... Như vậy, hứng thú
có thể ví như một chất men kích thích việc học tập. Hứng thú học tập phải
không cần thiết. Việc xác định những kiến thức cơ bản cần thiết khi học
địa lí là việc làm cần thiết đối với mỗi HS giỏi. Có thể chỉ cần nhớ những
kiến thức "chìa khoá", khi cần sẽ sử dụng nó để phát triển đến những kiến
thức khác.
2. Rèn luyện kĩ năng tư duy
Tư duy được biểu hiện bằng các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp,
so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá). Để đánh giá một người có tư duy
tốt hay không tốt thường dựa vào việc đánh giá khả năng của các thao tác
tư duy. Do vậy, rèn luyện kĩ năng tư duy, chính là rèn luyện việc sử dụng
các thao tác tư duy.
a) Việc rèn luyện tư duy một cách thông dụng nhất trong thực tế học
tập là dựa vào việc tự trả lời các câu hỏi: Ứng với mỗi thao tác tư duy có
một loại câu hỏi tương ứng để tập trung rèn luyện thao tác tư duy đó.
Trong ôn thi HSG địa lí hiện nay, HS nên rèn luyện kĩ năng tư duy theo
các loại câu hỏi sau :
+ Câu hỏi phân tích: nhằm gợi ý HS tách riêng từng phần của sự vật
và hiện tượng địa lí, hoặc các thành phần của mối liên hệ.
Ví dụ:
Phân tích những điều kiện để Đồng bằng sông Cửu Long thành
vùng lương thực, thực phẩm hàng đầu của cả nước.
Phân tích sự thay đổi về mối tương quan giữa xuất khẩu và nhập
khẩu ở nước ta từ năm 1980 đến nay.
+ Câu hỏi tổng hợp: nhằm làm cho HS xác lập được tính thống nhất và
mối liên hệ giữa các thuộc tính của các sự vật, bộ phận hay dấu hiệu của
chúng. Câu hỏi tổng hợp không phải là tổng cộng đơn thuần các bộ phận
của sự vật địa lí. Sự tổng hợp đúng sẽ là một hoạt động tư duy mang lại kết
quả mới nhất về chất.
Ví dụ:
Chứng minh rằng nền công nghiệp nước ta có cơ cấu ngành khá
đa dạng.
Ví dụ :
Tại sao trong mùa hè ở nước ta vẫn phát triển được các sản phẩm
nông nghiệp cận nhiệt và ôn đới?
Tại sao ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm trở
thành ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta?
+ Câu hỏi khái quát hóa: là loại câu hỏi dùng để khái quát hóa các kiến
thức cụ thể, nêu lên cái chính, cái căn bản, cái "chung", thường dùng vào
cuối chương hay tổng quát cuối bài.
Ví dụ:
8
Hãy nêu các thế mạnh của vùng Đông Nam Bộ trong việc phát
triển tổng hợp các ngành kinh tế?
Tại sao ở Duyên hải miền Trung có khả năng kết hợp cơ cấu kinh
tế nông - lâm – ngư?
b) Khi đã có các kĩ năng tư duy tốt, HS sẽ có điều kiện vận dụng chúng một
cách linh hoạt để trả lời các câu hỏi thi: Nên nhớ, câu hỏi thi địa lí không
phải được nêu ra dưới dạng phân tích, tổng hợp hay trừu tượng hoá, khái
quát hoá... đòi hỏi chỉ sử dụng một thao tác tư duy tương ứng. Câu hỏi thi
buộc phải sử dụng nhiều thao tác tư duy một cách tổng hợp trên cơ sở vận
dụng các tri thức địa lí đã có ở mỗi HS.
Ví dụ:
Dựa vào Atlát Địa lí Việt Nam, hãy so sánh hai vùng chuyên canh
cây công nghiệp Đông Nam Bộ và Trung du - miền núi phía Bắc (Đề thi
năm 2006);
Dựa vào Atlát hãy trình bày và giải thích tình hình phân bố dân cư ở
nước ta (Đề thi năm 2012)
Dựa vào Atlát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích sự
phân hóa đa dạng của địa hình đồi núi nước ta. Độ cao đồi núi nước ta
cơ sở trên (hoặc là riêng Atlát, hoặc riêng kiến thức đã học) để làm bài.
Việc làm đó không cho phép trình bày kiến thức một cách đầy đủ. Nếu chỉ
dựa vào kiến thức đã học, nhiều kiến thức từ Atlát bị bỏ sót, đặc biệt là các
kiến thức về sự phân bố cụ thể, mối quan hệ về mặt không gian lãnh thổ
của các sự vật, hiện tượng địa lí.... Nhưng nếu chỉ dựa vào Atlát địa lí,
nhiều kiến thức như tình hình phát triển, nguyên nhân phát triển, về đường
lối, chính sách, kinh nghiệm và truyền thống sản xuất của dân cư... không
được đề cập đến một cách đầy đủ và hợp lí.
Kinh nghiệm ôn luyện HS giỏi cho thấy, trong những trường hợp như
vậy phải chú ý phân biệt các loại kiến thức có thể khai thác từ Atlát địa lí,
các loại kiến thức không thể hoặc rất khó thể hiện rõ trên Atlát, phải khai
thác từ vốn kiến thức đã có của bản thân. Trong mỗi ý trình bày của bài
làm, cần kết hợp hai loại kiến thức này với nhau một cách thích hợp.
- Để khai thác các kiến thức địa lí theo những chủ điểm trên, cần lưu
ý kĩ thuật sử dụng các trang của Atlát Địa lí Việt Nam:
+ Sử dụng trang mở đầu của Atlát Địa lí Việt Nam: HS cần hiểu được ý
nghĩa, cấu trúc, đặc điểm của Atlat; nắm chắc kí hiệu chung ở trang mở đầu.
+ Sử dụng các trang bản đồ của Atlat Địa lí Việt Nam: Làm việc với
các trang của Atlát, HS phải xác định được vị trí địa lí, giới hạn của lãnh
thổ, vùng kinh tế; nêu đặc điểm của các đối tượng địa lí (đất, khí hậu,
nguồn nước, khoáng sản, dân cư, dân tộc); trình bày sự phân bố các đối
tượng địa lí, như: khoáng sản, đất đai, địa hình, dân cư, trung tâm công
nghiệp, mạng lưới giao thông, đô thị,...; giải thích sự phân bố các đối
tượng địa lí; phân tích mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí, phân tích mối
quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên với nhau (khí hậu và sông ngòi, đất và
10
sinh vật, cấu trúc địa chất và địa hình,...), giữa các yếu tố tự nhiên và kinh
tế, dân cư và kinh tế, kinh tế và kinh tế, tự nhiên - dân cư và kinh tế,...
số liệu (nghĩa là đọc bảng số liệu) để rút ra các nhận xét cần thiết.
- Đọc bảng số liệu về bản chất là phân tích, so sánh các số liệu theo
hàng ngang và cột dọc, rút ra các nhận xét cần thiết. HS cần phải nắm
vững tên bảng, các tiêu đề của bảng, đơn vị tính, yêu cầu cụ thể của bài
11
tập, hiểu rõ các tiêu chí cần nhận xét (ví dụ: để nhận xét về một loại cây
trồng, người ta thường quan tâm đến sản lượng, cơ cấu, năng suất; để nhận
xét về đô thị, thường quan tâm đến chức năng, quy mô, phân cấp, sự phân
bố,...). Việc phân tích nhìn chung không phức tạp, nhưng HS thường phạm
lỗi phân tích thiếu, hoặc nêu không đầy đủ các nhận xét cần thiết. Để tránh
trường hợp này, cần lưu ý so sánh các số liệu theo cột dọc và hàng ngang
với một trình tự hợp lí. Chú ý so sánh các mốc thời gian đầu và cuối của
bảng, các mốc thời gian liền kề nhau theo thứ tự, các mốc có tính đột biến.
Đối với các lãnh thổ, cần lưu ý so sánh các lãnh thổ lớn với nhau, nhỏ với
nhau, lớn với nhỏ và ngược lại,...
Trong một số trường hợp cần thiết, cần phải tính toán bảng số liệu
trước khi nhận xét.
- Một cách chung nhất, khi phân tích số liệu, để khỏi bị sót ý,
cần lưu ý một số điểm sau:
+ Phân tích câu hỏi, làm rõ yêu cầu và phạm vi cần phân tích, nhận
xét, phát hiện những yêu cầu chủ đạo để tập trung làm rõ. Nếu không xác
định được yêu cầu chủ đạo, dễ bị lạc đề.
+ Tái hiện các kiến thức cơ bản đã học có liên quan đến yêu cầu của
câu hỏi và đến các số liệu đã cho để xác định các tiêu chí phù hợp với yêu
cầu của bảng số liệu, phác thảo dàn ý trình bày.
- Việc phân tích và nhận xét bảng số liệu, thông thường được
tiến hành như sau :
cũng cần lưu ý mối liên quan về bản chất giữa các loại biểu đồ với nhau.
Chẳng hạn, biểu đồ miền thực chất là biểu đồ cột chồng nối tiếp, khi thu
nhỏ các cột đến tối đa thì biểu đồ cột chồng thành biểu đồ miền; hoặc biểu
đồ vuông và tròn về bản chất không khác nhau; biểu đồ đường kết hợp với
cột về thực chất là hai biểu đồ cột có các đại lượng (thời gian/lãnh thổ)
chung nhau trên trục hoành; biểu đồ cột thể hiện hai đại lượng khác nhau
thực chất là hai biểu đồ cột có chung tiêu chí trên trục hoành, khác nhau
đại lượng theo hai trục tung (ví dụ biểu đồ thể hiện nhiệt độ và lượng mưa
trong năm); biểu đồ thanh ngang chính là biểu đồ đường; tháp tuổi thực
chất là các biểu đồ thanh ngang (biểu đồ cột) kết hợp với nhau,...Vì vậy,
đối với bảng số liệu thích hợp cho vẽ biểu đồ tròn thì cũng có khả năng
thích hợp cho vẽ biểu đồ cột chồng và biểu đồ miền.
C. HƯỚNG DẪN CÁCH LÀM BÀI THI HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÍ
1. Do yêu cầu về tính sáng tạo cao, nên đề thi HS giỏi môn Địa lí
không theo một khuôn mẫu nào nhất định về dạng đề, cách làm bài theo
từng dạng. Tuy nhiên, thống kê các dạng câu hỏi trong đề thi HS giỏi từ
năm 2004 đến năm 2014 tôi thấy có một số dạng sau xuất hiện:
- Trình bày về đối tượng địa lí
- Giải thích ngắn gọn một số kiến thức địa lí
13
- So sánh các đối tượng địa lí với nhau
- Làm việc với bảng số liệu (nhận xét, nhận xét và giải thích, phân tích,
giải thích, trình bày và giải thích, xác định loại biểu đồ thích hợp, vẽ biểu
đồ và nhận xét,).
- Làm việc với với Atlát Địa lí Việt Nam (so sánh, phân tích, giải thích,
trình bày).
- Tính toán (áp dụng hoặc biến đổi công thức có sẵn).
câu hỏi mà khả năng mình có thể thực hiện được thuận lợi. Những câu hỏi
khó hơn để sau.
4. Phác thảo đề cương cho mỗi câu hỏi: Việc phác thảo đề cương giúp cho
HS giỏi khỏi bỏ sót các ý trong bài làm và phân bổ thời gian hợp lí cho từng
câu hỏi.
Trong khi lập đề cương, việc phác thảo ra các ý tưởng về cách giải, địa chỉ
của các kiến thức "gốc" liên quan đến câu hỏi cần được lưu ý ghi rõ.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, HS giỏi cần căn cứ vào yêu cầu của câu hỏi
để nhanh chóng phác thảo các ý chính cần phải trả lời, giữa chúng nên có
những khoảng trống để ghi các ý nhỏ và có thể ghi thêm những ý bổ sung
cần thiết chợt nghĩ ra trong khi làm bài.
5. Trong quá trình làm bài trên giấy thi, cần làm rõ các ý lớn và nhỏ theo
như đề cương chi tiết. Có thể dùng cách đánh số thứ tự và gạch đầu dòng,
dấu cộng theo các ý khác nhau để bài làm được mạch lạc.
Cũng cần chú ý diễn đạt bài thi bằng các câu văn ngắn gọn, súc tích,
dễ hiểu, tránh trình bày dài dòng, rườm rà, dùng văn nói thay cho văn viết
trong bài thi. Phải chú ý tránh phạm những lỗi sơ đẳng về chính tả, ngữ pháp.
Sau khi hoàn thành bài thi, HS nên giành 2-3 phút để kiểm tra lại nội
dung bài làm của mình để khắc phục những sai sót trong quá trình viết bài
trước khi nộp bài cho giám thị.
Chất lượng giáo dục có vai trò quan trọng vì nó phản ánh trình độ dân trí,
hiểu biết của người dân một nước, là nền tảng cho chiến lược phát triển con
người. Vì vậy việc nâng cao chất lượng học tập lớp chuyên địa và đội tuyển
học sinh giỏi là rất cần thiết, nó góp phần quan trọng trong việc trang bị kiến
thức chắc chắn cho các em, tạo cho các em sự tự tin vững chắc bước tiếp con
đường học vấn và tích lũy kĩ năng sống, có bản lĩnh, có trình độ, có đạo đức, có
kiến thức để tham gia lao động sáng tạo đạt hiệu quả cao nhất về sau.
Do phương pháp này có rất nhiều ưu điểm nên tôi và các đồng nghiệp của