Hướng dẫn cách học và làm bài thi HSG Địa lý - Pdf 75

Phần hai
HƯỚNG DẪN CÁCH HỌC VÀ LÀM BÀI THI HỌC SINH GIỎI
ĐỊA LÍ
A. MỘT SỐ YÊU CẦU TRONG HỌC TẬP ĐỐI VỚI HỌC SINH GIỎI ĐỊA LÍ
Điểm khác của học sinh (HS) giỏi với học sinh bình thường là ở chỗ HS giỏi
nắm kiến thức cơ bản địa lí vững chắc và toàn diện hơn, có kĩ năng địa lí hoàn
thiện hơn và đặc biệt, có tư duy địa lí linh hoạt và sâu sắc hơn. Ở mức độ cao
hơn nữa, HS giỏi là những người có khả năng sáng tạo, nghĩa là khả năng tìm
ra cái mới, cách giải quyết mới.
Như vậy, để trở thành HS giỏi nói chung và HS giỏi địa lí nói riêng, cần phải
rèn luyện trên cả ba phương diện : kiến thức, kĩ năng địa lí và kĩ năng tư duy.
1. Kiến thức
a) Kiến thức địa lí phổ thông hiện hành gồm cả địa lí đại cương (tự nhiên,
kinh tế - xã hội), địa lí thế giới (tự nhiên, kinh tế - xã hội), địa lí Việt Nam
(tự nhiên, kinh tế - xã hội). Chương trình địa lí THPT yêu cầu HS phải nắm
vững một số kiến thức phổ thông, cơ bản, mang tính hệ thống, thiết thực về :
- Trái Đất - môi trường sống của con người (các thành phần cấu tạo và tác
động qua lại giữa chúng, một số quy luật của môi trường tự nhiên trên Trái
Đất ; dân cư và các hoạt động của dân cư trên Trái Đất ; mối quan hệ giữa
dân cư, hoạt động sản xuất và môi trường).
- Đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại. Đặc điểm tự nhiên, dân cư,
kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới.
- Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế và những vấn đề
đặt ra đối với tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của đất nước, của các vùng
và địa phương nơi HS đang sinh sống.
b) Trong mỗi lĩnh vực, những kiến thức cơ bản mà HS cần hiểu sâu, nhớ lâu,
vận dụng được là các khái niệm, mối liên hệ nhân quả địa lí, quy luật địa lí,
các học thuyết, quan điểm địa lí. Những loại kiến thức này làm rõ bản chất
tri thức địa lí.
- Các khái niệm địa lí nhằm phản ánh bản chất của sự vật, hiện tượng địa lí và
mối quan hệ giữa chúng với nhau. Trong chương trình địa lí THPT, chúng

núi, khi lên cao, nhiệt độ, lượng mưa và áp suất không khí thay đổi, do đó
sinh vật phân bố theo từng vành đai thẳng đứng cũng khác nhau ; địa hình
có tác động đến sự phân bố lại lượng nhiệt và ẩm trong đá mẹ, nhiệt và ẩm
đó có tác động đến chiều hướng và cường độ của quá trình hình thành đất,...
- Các quy luật địa lí thường được học tập trung ở chương cuối của một phần
hay một số phần (trong một lớp), có tính khái quát các mối liên hệ nhân quả
phổ biến và lặp đi lặp lại thường xuyên. Học thuyết được học trong chương
trình địa lí tuy không nhiều, nhưng rất cần thiết cho việc hiểu được nhiều
129
kiến thức địa lí khác (Ví dụ, học thuyết BicBang về sự hình thành Vũ trụ,
thuyết kiến tạo mảng. Đặc biệt thuyết kiến tạo mảng cho phép giải thích rất
nhiều sự vật và hiện tượng trên Trái đất, ví dụ sự tạo núi, các vành đai núi
lửa và động đất,...).
- Ngoài các kiến thức cơ bản trên, trong sách giáo khoa còn trình bày về các sự
vật hiện tượng địa lí cụ thể, các biểu tượng địa lí,... Các kiến thức này đóng
vai trò hoặc để cụ thể hoá các kiến thức cơ bản trên, hoặc là cơ sở để rút ra
các kiến thức khái quát.
c) Kiến thức địa lí phổ thông mà HS cần nắm, được chia thành 6 mức độ :
Biết : Ghi nhớ được các sự kiện, khái niệm, định nghĩa, hệ quả, thuật ngữ và
các nguyên lí dưới hình thức được học.
Hiểu : Hiểu được kí hiệu, ý nghĩa và mối liên hệ trong khái niệm, định lí, hệ
quả, công thức,... Có khả năng diễn giải, mô tả, tóm tắt thông tin đã thu
được, không nhất thiết phải liên hệ tư liệu này với tư liệu khác.
Vận dụng : Sử dụng thông tin trong các tình huống khác với tình huống đã
học ; khái quát hoá, trừu tượng hoá những kiến thức đã biết.
Phân tích : Biết cách tách tổng thể thành các bộ phận và biết rõ sự liên hệ
giữa các bộ phận đó với nhau trong cùng một cấu trúc.
Tổng hợp : Biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể cũ.
Cần có khả năng phân tích để đi đến tổng hợp. Ở đây bắt đầu thể hiện sự
sáng tạo của cá nhân.

- Tổng hợp : Có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng trên cơ sở phân tích
trên, có thể HS dự đoán được kết quả của trường hợp giả định nếu Trái Đất
không tự quay quanh trục, thì có hiện tượng ngày đêm không ? Lúc đó thời
gian một ngày đêm trên Trái Đất là bao nhiêu ? Hay, nếu không đặt ra
đường chuyển ngày quốc tế, điều gì sẽ xảy ra trong quan hệ quốc tế giữa các
nước thuộc các múi giờ khác nhau ?...
HS bình thường, về cơ bản chỉ cần đạt ở mức 1 và 2, một số kiến thức có thể
đạt ở mức 3, 4... là được. HS giỏi cần phải có kiến thức đạt ở mức cao hơn,
như phân tích, tổng hợp, đặc biệt là đánh giá. Những mức này đòi hỏi các
em phải có một hệ thống tri thức địa lí nhất định, đồng thời có được các kĩ
năng tư duy cần thiết.
2. Kĩ năng địa lí
a) Học Địa lí ở THPT, HS cần phải củng cố và phát triển các kĩ năng :
- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện
tượng địa lí ; sử dụng bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống kê,...
- Thu thập, xử lí, trình bày các thông tin địa lí.
- Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải quyết
một số vấn đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với HS trên cơ sở tư duy kinh
tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán.
b) Kĩ năng địa lí trong nhà trường phổ thông được chia ra 5 mức độ :
Bắt chước : Quan sát và cố gắng lặp lại một kĩ năng nào đó.
131
Thao tác : Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo chỉ dẫn hơn là bắt chước
máy móc.
Chuẩn hoá : Lặp lại một kĩ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng,
đúng đắn và thường được thực hiện một cách độc lập, không phải
hướng dẫn.
Phối hợp : Kết hợp nhiều kĩ năng theo một trật tự, một cách nhịp nhàng và
ổn định.
Tự động hoá : Hoàn thành một hay nhiều kĩ năng một cách dễ dàng và trở

nghiên cứu của các nhà khoa học sư phạm trên thế giới chỉ ra rằng, sở dĩ
trong môn Địa lí, HS THPT hiện nay có tư duy không tốt là do thiếu những
kiến thức cần thiết, trong đó đặc biệt là hệ thống khái niệm địa lí. Việc nắm
vững một hệ thống kiến thức địa lí cơ bản làm cơ sở cho tư duy, sẽ tạo cơ sở
cho việc nắm những kiến thức địa lí mới. Kiến thức mới lại tiếp tục làm cơ
sở cho tư duy để nhận thức được những kiến thức khác mới hơn...
Hiện nay, một số HS có quan niệm cực đoan rằng chỉ cần có tư duy tốt là đủ
để nắm được các kiến thức cần thiết ; hay nói cách khác, chỉ cần thông minh
là thi được HS giỏi địa lí. Đó là một quan niệm không đúng. Cần nhớ rằng
mục tiêu của việc học tập là vừa có được những kiến thức cơ bản, vừa phát
triển được năng lực tư duy. Muốn tư duy phải có kiến thức (tựa như "có bột
mới gột nên hồ" vậy). Không có đủ kiến thức cần thiết, như nói ở trên,
không thể có tư duy địa lí được. Chính vì vậy, học để nắm chắc kiến thức là
việc làm hết sức quan trọng, không chỉ riêng đối với HS giỏi địa lí, mà đối
với tất cả các em học sinh nói chung.
Nắm chắc kiến thức có nghĩa là hiểu được, nhớ lâu bền kiến thức địa lí cần
thiết và có thể vận dụng được vào các trường hợp cụ thể. Để nhớ lâu bền,
cần phải có trí nhớ lôgic. Muốn ghi nhớ lôgic, trong quá trình ghi nhớ phải
hiểu và vận dụng được các quy luật của trí nhớ.
a) Trí nhớ là hoạt động phản xạ có điều kiện. Muốn lập được phản xạ có điều
kiện, thông tin phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Do vậy, trong ghi nhớ kiến thức,
việc ôn tập thường xuyên tỏ ra hết sức cần thiết. Sau một số bài, sau một
chương hoặc một số chương, cần phải ôn tập để tăng cường ghi nhớ.
b) Nhớ lâu được dựa trên ấn tượng mạnh. Một kiến thức hay, một cách giải
quyết vấn đề độc đáo, một lần bị sai lầm và nhận ra được,... là những ấn
tượng khó quên, lưu lại lâu bền trong trí nhớ mỗi HS. Vì vậy, khi học bài địa
lí, cần chú ý tạo ra các ấn tượng sâu về kiến thức. Các ấn tượng có thể bắt
nguồn từ việc sử dụng phương tiện trực quan trong khi học bài (ví dụ khi
học về các sự vật, hiện tượng địa lí nên sử dụng Atlát địa lí, hay bản đồ
trong SGK, bản đồ treo tường ; khi học về các tầng đất nên quan sát phẫu

tập...). Học xong, mới tập trung vào việc khác.
g) Những thông tin sau cản trở, góp phần xoá đi những thông tin trước cùng
loại và liên tục. Đó là quy luật về ức chế tương đồng của trí nhớ. Do vậy,
nếu vừa nghe giảng xong trên lớp, về nhà học bài ngay, không tốt bằng để
sau 5 - 6 tiếng đồng hồ mới học lại bài trên lớp. Tuy nhiên, nếu khoảng thời
gian đó để quá lâu (sau 11 - 12 tiếng đồng hồ chẳng hạn), sự ghi nhớ sẽ bị
suy giảm rất nhiều.
h) Thông tin đơn giản dễ nhớ hơn thông tin phức tạp. Vận dụng quy luật này
của trí nhớ, trong học tập cần xác định các kiến thức cơ bản, hoặc các đề
mục một cách gọn rõ để dễ nhớ.
134
i) Khả năng não bộ trong ghi nhớ không phải là vô hạn. Theo nhiều nhà khoa
học, một người trong một phút chỉ học được khoảng 75 đơn vị thông tin,
trong suốt cuộc đời chỉ nhớ nổi 58 tỉ đơn vị thông tin. Do đó, trong học tập,
cần biết chọn nhớ những thông tin có ích, biết quên đi những thông tin
không cần thiết. Việc xác định những kiến thức cơ bản cần thiết khi học địa
lí là việc làm cần thiết đối với mỗi HS giỏi. Có thể chỉ cần nhớ những kiến
thức "chìa khoá", khi cần sẽ sử dụng nó để phát triển đến những kiến thức
khác. Ví dụ, khi học về Địa lí tự nhiên đại cương, việc thông hiểu và ghi nhớ
các quy luật địa đới, phi địa đới cho phép vận dụng chúng vào việc nhận
biết và giải thích các hiện tượng khí hậu khác nhau theo vĩ độ, theo đai cao,
theo bờ đông hay bờ tây lục địa....
2. Rèn luyện kĩ năng tư duy
Tư duy được biểu hiện bằng các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so
sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá). Để đánh giá một người có tư duy tốt
hay không tốt (nôm na là thông minh hay ít thông minh hơn), thường dựa
vào việc đánh giá khả năng của các thao tác tư duy. Do vậy, rèn luyện kĩ
năng tư duy, chính là rèn luyện việc sử dụng các thao tác tư duy.
a) Việc rèn luyện tư duy một cách thông dụng nhất trong thực tế học tập là
dựa vào việc tự trả lời các câu hỏi và thực hiện các bài tập (ở SGK, sách bài

+ Câu hỏi so sánh, liên hệ : nhằm liên hệ các sự vật và hiện tượng địa lí lại với
nhau trong các mối quan hệ địa lí có thể có và thiết lập sự giống nhau, khác
nhau giữa chúng. Ví dụ : Hai trung tâm công nghiệp lớn Hà Nội và TP. Hồ
Chí Minh có những điểm giống nhau như thế nào về cơ cấu ngành ? Nêu
những điểm giống nhau và khác nhau về nguồn lực phát triển kinh tế - xã
hội của vùng Đông Nam Bộ với Trung du và miền núi Bắc Bộ. Sự khác
nhau đó có tác động như thế nào đến sự phát triển kinh tế của hai vùng ?
Phân biệt các hình thức tổ chức trang trại, thể tổng hợp nông nghiệp và vùng
nông nghiệp... Khi đặt câu hỏi so sánh, những đối tượng so sánh có thể có
những nét tương đồng hay trái ngược nhau.
+ Câu hỏi nguyên nhân - kết quả : là loại câu hỏi nêu lên mối liên hệ nhân quả,
một trong những dạng liên hệ có tính chất phổ biến trong bài địa lí. Ví dụ :
Tại sao thời gian mùa nóng ở Bắc bán cầu dài hơn ở Nam bán cầu ? Tại sao
phân bố dân cư trên thế giới có sự khác nhau giữa các vùng, các châu lục,
các quốc gia ? Giải thích tại sao các thành phố lớn cũng đồng thời là các
trung tâm dịch vụ lớn. Tại sao ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực
phẩm trở thành ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta ?...
+ Câu hỏi khái quát hóa : là loại câu hỏi dùng để khái quát hóa các kiến thức
cụ thể, nêu lên cái chính, cái căn bản, cái "chung", thường dùng vào cuối
chương hay tổng quát cuối bài. Ví dụ : Hãy nêu các thế mạnh của vùng
Đông Nam Bộ trong việc phát triển tổng hợp nền kinh tế vùng ? Nêu những
đặc điểm cơ bản của khu công nghiệp tập trung và trung tâm công nghiệp.
Thực tế cho thấy, để thực hiện một câu hỏi, dù với yêu cầu chính là sử dụng
một thao tác tư duy, nhưng HS vẫn phải vận dụng nhiều thao tác tư duy để
thực hiện. Ví dụ : Để trả lời câu hỏi "Tại sao ở Duyên hải miền Trung cần
136
phải kết hợp nông - lâm - ngư nghiệp trong phát triển kinh tế ?", HS cần phải
sử dụng nhiều thao tác tư duy như : phân tích (để thấy rõ tiềm năng và hiện
trạng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp), tổng hợp (để thấy được bức tranh
chung về tiềm năng và hiện trạng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp), trừu

tượng địa lí, đồng thời cũng rất khó tự mình tìm tòi các kiến thức địa lí khác.
Do tính chất cơ bản của kĩ năng, nên trong các đề thi HS giỏi quốc gia môn
137
Địa lí, việc kiểm tra kĩ năng này được thực hiện chủ yếu thông qua yêu cầu
làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam. Tuy nhiên, nếu HS không rõ các nhiệm
vụ và kĩ thuật sử dụng bản đồ thì không thể làm việc trên các trang bản đồ
của Atlát đươc. Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng làm việc với bản đồ là không
thể thiếu khi học môn Địa lí.
- Thông thường khi làm việc với bản đồ, HS cần phải :
+ Hiểu hệ thống kí, ước hiệu bản đồ.
+ Nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tượng địa lí trên bản đồ
+ Xác định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, kích thước, hình thái
và vị trí các đối tượng địa lí trên lãnh thổ.
+ Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ.
+ Xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ.
+ Xác định các mối quan hệ tương hỗ và nhân quả thể hiện trên bản đồ.
+ Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lí, địa hình, khí
hậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế).
Đối với HS giỏi, những việc làm trên tất yếu phải được thực hiện một cách
thành thạo để đạt mức cao nhất của kĩ năng bản đồ là đọc bản đồ (phân tích
được các mối liên hệ nhân quả, mô tả tổng hợp một lãnh thổ, một ngành,
một thành phần tự nhiên,...).
- Muốn đọc được bản đồ, yêu cầu phải có kiến thức địa lí. Ví dụ, muốn phân
tích được tại sao mưa tập trung nhiều nhất ở vùng xích đạo, mưa tương đối
ít ở hai vùng chí tuyến Bắc và Nam, thì ngoài việc quan sát bản đồ, cần
phải có kiến thức về mối quan hệ giữa lượng mưa và áp thấp, áp cao, sự
bốc hơi nước nhiều từ các đại dương và rừng xích đạo trong điều kiện
nhiệt lượng lớn, sự bốc hơi nước kém hơn ở vùng lục địa có diện tích lớn ở
khu vực chí tuyến...
b) Kĩ năng làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam

+ Nhiều loại đất khác nhau (đất feralit, đất phù sa,...).
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên.
+ Đất feralit trên các loại đá khác : chiếm diện tích lớn và phân bố rộng rãi ở
vùng núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ.
+ Ở các vùng núi, độ cao trên 500 - 600 m đến 1600 - 1700 m có đất mùn vàng
đỏ trên núi, độ cao trên 1600 - 1700 m có đất mùn alit núi cao, diện tích
không lớn.
+ Đất xám bạc màu trên đá axit tập trung ở Tây Nguyên và rải rác ven biển ở
các đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ. Ngoài ra,
còn có ở duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung nhiều ở ven sông Tiền và sông Hậu.
+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ nằm rải rác ven biển.
+ Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài
ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ.
139
+ Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam Trung
Bộ.
- Những kiến thức phải huy động từ vốn tri thức đã có :
+ Đất (thổ nhưỡng) ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như đất ở các
miền tự nhiên khác của nước ta rất đa đạng, với nhiều loại khác nhau.
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên
khoảng trên 1,3 triệu ha. Đất này được hình thành trên cơ sở phong hoá đá
ba dan, có tầng dày, khá phì nhiêu.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ trên
900.000 ha.
+ Đất phù sa của sông Cửu Long là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng, từ
đất thịt đến sét, phần lớn diện tích được bồi tụ phù sa vào mùa lũ.
+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành bởi sự
bồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt

- Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài
ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ. Đất phèn có
đặc tính chua ; đất mặn có loại mặn ít, có loại mặn nhiều,...
- Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam Trung
Bộ ; đất nghèo mùn và chất dinh dưỡng.
- Các yêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam rất đa dạng. Trong phạm vi
ôn luyện thi HS giỏi quốc gia môn Địa lí THPT, cần lưu ý tập trung vào các
chủ điểm sau :
+ Trình bày vị trí địa lí của quốc gia, miền, vùng, tỉnh, trung tâm công
nghiệp/thành phố lớn,... và nêu ý nghĩa (vị trí toán học, vị trí địa lí tự nhiên,
vị trí địa lí kinh tế).
+ Trình bày và giải thích về đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam (địa hình
nhiều đồi núi, tác động đến cảnh quan tự nhiên và sự phát triển KT - XH ;
đặc điểm của Biển Đông, ảnh hưởng đến thiên nhiên nước ta ; thiên nhiên
nhiệt đới ẩm gió mùa (khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, địa hình xâm thực - bồi
tụ, thuỷ văn của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, đất feralit, hệ sinh thái rừng
nhiệt đới ẩm gió mùa) ; thiên nhiên có sự phân hoá đa dạng theo yếu tố và
theo vùng (sự phân hóa địa hình, khí hậu - thuỷ văn, thổ nhưỡng - sinh vật,
cảnh quan thiên nhiên).
+ Trình bày và giải thích một yếu tố, thành phần địa lí tự nhiên, dân cư - xã hội
(địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, nhiệt độ và lượng mưa, sông ngòi,
đất, thực vật và động vật, dân cư, dân tộc, đô thị hoá).
+ Trình bày và giải thích về sự đa dạng của tài nguyên, một số thiên tai chủ
yếu (sự đa dạng của tài nguyên thiên nhiên, một số thiên tai chủ yếu ).
+ Trình bày và giải thích về một miền tự nhiên, so sánh các miền tự nhiên
(trình bày và giải thích về một miền tự nhiên, một khu tự nhiên, một đai cao
141


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status