LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài:
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh luôn gắn liền với nhiều rủi ro
tiềm ẩn như: rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro mất khả năng thanh toán…
Vì vậy việc đổ vỡ và phá sản của các tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém là điều
khó tránh khỏi. Đối với nền kinh tế, việc xử lý những hậu quả do quá trình kinh
doanh không thành công của các tổ chức tín dụng không đơn giản chỉ là tuyên bố
phá sản tổ chức này hay tổ chức kia mà trước hết no làm tổn thương đến niềm tin
của dân chúng. Nếu không có những biện pháp thích hợp sẽ còn gây ra những bất
ổn khôn lường về kinh tế chính trị, xã hội, gây hoang mang giao động trong dân
chúng và tạo ra tâm lý bất lợi cho hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng.
Chính vì thế, bên cạnh sự ổn định về chính trị xã hội thì việc bảo đảm cho một nền
kinh tế phát triển an toàn, lành mạnh luôn là một mục tiêu và là nhiệm vụ quan
trọng đối với mỗi quốc gia. Vậy vấn đề đặt ra là làm sao giữ được lòng tin của dân
chúng? làm sao giữ được ổn định cho hoạt động tín dụng?
Nhận thức rõ được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta đã đưa ra những chính
sách cũng như ban hành các văn bản pháp luật nhằm tạo ra một môi trường lành
mạnh, an toàn cho hoạt động tài chính – tiền tệ. Riêng đối với ngành ngân hàng,
bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật về ngân hàng, Chính phủ cũng đã
ban hành những văn bản pháp luật mới để điều chỉnh một nghiệp vụ mới ở Việt
Nam, đó là nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi. Qua việc học hỏi kinh nghiệm về mô hình,
tổ chức quản lý về bảo hiểm tiền gửi của các quốc gia trên thế giới, lần đầu tiên tổ
chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam được thành lập theo Quyết định số
218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng chính phủ. Tổ chức bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo hiểm trên cơ sở pháp lý là Nghị định
89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi và nghị định
109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP, cùng các văn bản hướng dẫn. Trong thời gian
qua, cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã thể hiện được
nhiều ưu điểm. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang
1
2
Ngoài ra để thực hiện luận văn này, những phương pháp được sử dụng kết
hợp như: phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp quy nạp.
5. Kết cấu của luận văn:
Ngoài hai phần mở đầu và kết luận chung, luận văn “chế độ bảo hiểm tiền
gửi ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện” được trình bày theo hai
chương sau:
Chương I: Những vấn đề chung về bảo hiểm tiền gửi.
Chương II: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam và phương
hướng hoàn thiện.
Trong khuân khổ của một luận văn tốt nghiệp, cùng với vốn hiểu biết có hạn
của một sinh viên, nên bản luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì
vậy tôi rất mong được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn sinh viên
để giúp tôi hoàn thiện kiến thức bản thân.
3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BHTG
VÀ CHẾ ĐỘ BHTG Ở VIỆT NAM.
1.1. Những vấn đề chung về BHTG:
1.1.1. Khái niệm chung về BHTG:
BHTG đã xuất hiện rất lâu trên thế giới, từ năm 1829, hoạt động BHTG
được thực hiện tại Mỹ nhằm phòng ngừa sự đổ vỡ mang tính chất dây chuyền của
ngân hàng vào thế kỷ 19. Mãi đến năm 1934, cơ quan BHTG công khai của Nhà
khoản tiền gửi nhằm củng cố lòng tin của công chúng vào hệ thống tài chính, duy
trì sự ổn định hoạt động của hệ thống này. Khi nền kinh tế bị khủng hoảng, các
quốc gia lại áp dụng cơ chế bảo hiểm hoàn toàn nhằm ngăn chặn một cách hữu hiệu
hiện tượng rút tiền đồng loạt, bởi lẽ người gửi tiền trong trường hợp nay hoàn toàn
tin tưởng rằng BHTG sẽ bảo vệ quyền lợi của họ một cách triệt để khi ngân hàng
nào đó bị đổ vỡ.
1.1.2. Đặc điểm của BHTG:
- BHTG là loại nghiệp vụ bảo hiểm phi thương mại, tính phi thương mại của
BHTG thể hiện ở chỗ: hoạt động BHTG không nhằm mục tiêu sinh lời mà nhằm
mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, thực hiện những
mục tiêu xã hội, vì mục đích của cộng đồng.
Ở một số nước, BHTG là loại nghiệp vụ bảo hiểm mang tính thương mại,
thực hiện theo nguyên tắc hạch toán. Chẳng hạn ở Đức, quỹ BHTG do Hiệp hội
ngân hàng thương mại Đức tổ chức. Nó được thành lập, hoạt động như là một tổ
chức phi Chính phủ nhằm tạo ra tính liên kết, tương trợ giữa các ngân hàng hội
viên nhằm bảo đảm an toàn cho cả hệ thống. Các hội viên đóng góp tiền theo quy
định vào quỹ bảo hiểm. Khi quỹ tạm thời nhàn rỗi, số tiền trong quỹ sẽ được tận
dụng một cách hợp pháp để tạo khả năng sinh lời. Quỹ bảo hiểm lập ra nhằm hai
mục đích là phòng ngừa các rủi ro bằng cách quỹ giúp đỡ các thành viên khi gặp
khó khăn về khả năng thanh toán và để thanh toán cho khách hàng khi ngân hàng là
thành viên bị phá sản1
1
Trang 116 Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam-NXB công an nhân dân năm 2007.
5
- Chủ thể tham gia BHTG chỉ có thể là tổ chức tài chính có nhận tiền gửi của
cộng đồng dưới các hình thức nhất định. Với hệ thống BHTG công khai thì sự tham
www.div.gov.vn
1
6
quan mật thiết với hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi. Việc xác định loại tiền
gửi nào được bảo hiểm là cơ sở tính phí BHTG định kỳ, phụ thuộc vào chính sách
tiền tệ của mỗi quốc gia.
1.1.3. Vai trò của BHTG :
An toàn trong kinh doanh là yêu cầu bức thiết đối với hoạt động của các
TCTD. Do hoạt động của các TCTD là hoạt động kinh doanh có độ rủi ro cao, hậu
quả của rủi ro mang tính phản ứng dây chuyền; vì vậy ở các quốc gia hoạt động tín
dụng được đặt trong một hành lang pháp lý chặt chẽ với những điều khoản đặc biệt,
nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động của
các TCTD được điều chỉnh bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các
TCTD ngày 15/06/2004.
Tại điều 20 khoản 1, khoản 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
các TCTD ngày 15/06/2004 quy định:
“TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các TCTD
và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng”
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
Theo những quy định này, cho thấy TCTD là doanh nghiệp có hoạt động
kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động
ngân hàng. Vậy nội dung hoạt động chủ yếu của TCTD là nhận tiền gửi và sử dụng
tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán. Qua nội dung hoạt động
chủ yếu này, cho thấy các TCTD luôn có 2 tư cách vừa là “chủ nợ” xong lại vừa là
“người đi vay”. Với tư cách chủ nợ họ thường đặt ra cho khách hàng những yêu
nền kinh tế thị trường.
Vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính là luôn gắn
liền với yếu tố niềm tin và mang tính nhạy cảm, lan truyền cao. Mặc dù mỗi quốc
gia có mô hình tổ chức BHTG khác nhau nhưng bản chất hoạt động BHTG đều
hướng tới mục tiêu chung. BHTG trước hết là vì mục tiêu bảo vệ quyền lợi của
người gửi tiền. Khi có ngân hàng hay TCTD nào đó bị phá sản, nếu ngân hàng đó
tham gia vào cơ chế BHTG hoặc được Chính phủ tuyên bố chi trả BHTG thì những
người gửi tiền tại ngân hàng phá sản đó có cơ hội được trả một phần hay toàn bộ số
tiền gửi của mình. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là BHTG sẽ làm cho tâm lý của
8
người gửi tiền không bị hoang mang, mất lòng tin và người ta sẽ không nghĩ đến
việc phải vội vã rút tiền từ các ngân hàng, điều đó tránh được sự đổ vỡ mang tính
dây chuyền có thể xảy ra đối với hệ thống ngân hàng. Việc trả BHTG khi TCTD bị
phá sản chỉ là giải pháp cuối cùng nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.
Cần phải nhấn mạnh rằng, với sự tham gia BHTG, các TCTD sẽ có lợi thế
hơn nhiều trong huy động vốn từ tiền gửi và tính an toàn tín dụng, an toàn hệ thống
được nâng lên rất nhiều, đó thực sự là cái lợi không nhìn rõ được của BHTG đối
với các TCTD. Do vậy, BHTG không chỉ dừng lại ở mục tiêu bảo vệ quyền lợi trực
tiếp của người gửi tiền ở ngân hàng, TCTD bị phá sản mà nó còn là một sợi dây vô
hình bảo đảm an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro và tránh được sự đổ vỡ có tính dây
chuyền của hệ thống tín dụng, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách vững
chắc. Theo Hiệp hội BHTG quốc tế, tính đến thời điểm này đã có gần 100 quốc gia
có hệ thống BHTG 1. và xu hướng này đang gia tăng với thực tế là nhiều nước, nhất
là các nước đang phát triển thành lập hệ thống BHTG. Sự ra đời của cơ quan
BHTG đã thực sự đánh dấu một bước ngoặt mới, BHTG đã trở thành chỗ dựa vô
cùng quan trọng cho các TCTD trong việc củng cố, duy trì và làm tăng niềm tin của
công chúng trong việc mở rộng hoạt động huy động vốn.
1.2: Chế độ BHTG ở Việt Nam:
Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty
tài chính. Sự ra đời của Pháp lệnh này đã tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi
cho sự tồn tại, hoạt động và sự phát triển của hệ thống ngân hàng và TCTD ở Việt
Nam. Năm 1993, Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập theo Quyết định số
390/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/03/1993. Theo Quyết định này, Quỹ tín
dụng nhân dân được thừa nhận là một tổ chức thuộc sở hữu tập thể, tồn tại dưới
hình thức Hợp tác xã, hoạt động theo nguyên tắc chung của TCTD Việt Nam.
Ngoài các biện pháp an toàn được áp dụng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của
TCTD nói chung, Chính phủ còn rất quan tâm đến sự bảo đảm đối với tiền gửi của
khách hàng khi tham gia Quỹ tín dụng nhân dân.
BHTG bắt đầu được áp dụng vào năm 1994 theo Quyết định số 101/ TC-QĐ
ngày 01/02/1994 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành các quy tắc bảo hiểm
trách nhiệm của Quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền gửi có kì hạn. Tuy
nhiên, BHTG theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ tài chính số 101/TC-QĐ chỉ là
một trong những nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm
thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện. Phạm vi BHTG còn rất hạn hẹp vì đối tượng
tham gia bảo hiểm chỉ là các Quỹ tín dụng nhân dân và tiền gửi được bảo hiểm chỉ
với các khoản tiền gửi có kỳ hạn bằng đồng Việt Nam. Nhận thức được tầm quan
10
trọng của BHTG đối với hoạt động ngân hàng trong thời kỳ mới, ngày 12/12/1997,
Quốc hội đã ban hành Luật các TCTD, trong đó có quy định: “TCTD có trách
nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn hoặc BHTG, mức bảo toàn hoặc BHTG do Chính
phủ quy định” 1. Với quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự ra đời
chế độ BHTG mới ở nước ta. Ngày 01/09/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 89/1999/NĐ-CP về BHTG, quy định mục đích, tính chất của BHTG, đối tượng
tham gia BHTG, các loại tiền gửi được bảo hiểm, phí bảo hiểm… Ngày
09/11/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg về việc
thành lập Tổ chức BHTG Việt Nam – một tổ chức độc lập chuyên thực hiên nghiệp
hàng quốc gia. Chế độ BHTG Việt Nam có những đặc trưng cơ bản sau:
- BHTG ở nước ta, xét về tính chất là loại hình bảo hiểm bắt buộc. Pháp luật
về BHTG có quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm mà các TCTD
tham gia quan hệ bảo hiểm có nghĩa vụ phải thực hiện. Việc áp dụng chế độ bảo
hiểm bắt buộc đối với tiền gửi không chỉ nhằm xử lý rủi ro của tổ chức nhận tiền
gửi, bảo vệ lợi ích của người gửi tiền mà còn bảo vệ sự an toàn cho cả hệ thống
TCTD, sự ổn định của tiền tệ quốc gia. Đồng thời nó còn tạo ra sự bình đẳng, công
bằng giữa các tổ chức có hoạt động ngân hàng, góp phần nâng cao uy tín của các
TCTD đối với người dân trong giai đoạn hiện này nhằm khai thác tối đa các nguồn
vốn nhàn rỗi để tập trung cho đầu tư phát triển kinh tế. Việc quy định bắt buộc
tham gia BHTG đối với các TCTD được áp dụng ở nhiều nước.
- BHTG ở nước ta là loại hình bảo hiểm trách nhiệm pháp lý dân sự. Nếu xét
về đối tượng bảo hiểm thì BHTG thuộc loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh
trong hợp đồng. Đối tượng của BHTG chính là nghĩa vụ hoàn trả tiền gửi cả lãi lẫn
gốc của tổ chức nhận tiền gửi đối với người gửi tiền. Pháp luật BHTG ở nước taxác
định rõ: người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là tổ chức được
phép nhận tiền gửi của các cá nhân bằng đồng Việt Nam, còn người được hưởng
quyền lợi bảo hiểm là người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm.
- Về bản chất: BHTG ở Việt Nam mang bản chất của loại hình bảo hiểm phi
thương mại. Nó không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm mà
được điều chỉnh bằng một quy chế pháp lý riêng. Tính phi thương mại của BHTG
thể hiện ở chỗ, bên bảo hiểm là tổ chức BHTG Việt Nam- đây là một tổ chức tài
chính Nhà nước, mục tiêu hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm
mục đích bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự
ổn định của các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân
hàng.
1.2.2. Nội dung cơ bản của chế độ BHTG ở Việt Nam:
12
1
13
hàng thương mại sẽ không có khách hàng tham gia quan hệ gửi tiền nhàn rỗi của
mình.
Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm tiếp theo đã đặt ra
yêu cầu cần phải có những quy định chặt chẽ và kịp thời đối với hoạt động ngân
hàng của các TCTD. Khi Quốc hội thông qua hai đạo luật quan trọng trong lĩnh
vực ngân hàng vào tháng 12/1997 là Luật ngân hàng Nhà nước và Luật các TCTD
thì vấn đề BHTG đã được quan tâm sâu sắc hơn. Sự cụ thể hoá Luật các TCTD
bằng việc Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999
về BHTG. Nghị định là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động BHTG ở Việt
Nam. Theo đó các TCTD và tổ chức không phải là TCTD được phép thực hiện một
số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD phải tham gia BHTG bắt
buộc. Đây là một chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta trong việc
điều hành chính sách tiền tệ, góp phần bảo vệ tốt người gửi tiền, tạo ổn định cho
hoạt động tài chính – ngân hàng của quốc gia. Song sau gần 6 năm đi vào thực tiễn
áp dụng, do những chuyển biến không ngừng của nền kinh tế xã hội, việc áp dụng
những quy định của Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ đã cho thấy một số
quy định không còn phù hợp với thực tế (như: về hạn mức chi trả, người được
hưởng quyền lợi bảo hiểm…). Để khắc phục những hạn chế này, ngày 24/08/2005,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP. Tổ chức BHTG Việt Nam chính thức được
thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng
Chính phủ, đồng thời quy định rõ mục tiêu của tổ chức BHTG Việt Nam là tổ chức
tài chính Nhà nước, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp
phần duy trỡ sự ổn định của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và sự phát triển
an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng .. Có thể nói các văn bản pháp luật trên và
- Chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền trong phạm vi
mức bảo hiểm tối đa theo quy định.
- Theo dõi, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định tại Nghị định
của Chính phủ về bảo hiềm tiền gửi và các quy định về an toàn trong hoạt động của
các tổ chức tham gia bảo hiềm tiền gửi.
- Hỗ trợ cho các tổ chức tham gia bảo hiềm tiền gửi khi có nguy cơ mất khả
năng chi trả nhưng chưa đến mức phải đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt.
- Tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản.
15
- Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chủ trương chính sách về BHTG.
- Tuyên truyền về bảo hiềm tiền gửi đối với công chúng, tổ chức tập huấn,
đào tạo và tư vấn về nghiệp vụ liên quan đến BHTG.
- Hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm tăng cường năng lực
hoạt động của bảo hiềm tiền gửi Việt Nam và của các tổ chức tham gia bảo hiềm
tiền gửi.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Thủ tướng Chính phủ giao.1
Trên thế giới, có nước áp dụng mô hình thuộc sở hữu Nhà nước, có nước
được thành lập bởi Hiệp hội các ngân hàng – mang tính chất thương mại như ở
Đức. Do hoạt động ngân hàng thường mang tính rủi ro rất cao và những rủi ro luôn
mang tính dây chuyền. Do đó, hình thức bảo hiểm do tư nhân thành lập ít khả thi
hơn so với hình thức thuộc sở hữu Nhà nước. Việc thành lập tổ chức BHTG thuộc
sở hữu Nhà nước với khả năng tài chính và uy tín của tổ chức công quyền chắc
chắn sẽ đem lại niềm tin lớn hơn với ngân hàng và cả người gửi tiền 2. Ở Việt Nam,
việc thành lập tổ chức BHTG thuộc sở hữu Nhà nước là phù hợp với điều kiện của
Việt Nam hiện nay. Trong điều kiện của hệ thống ngân hàng, TCTD chưa thực sự
lớn mạnh và còn nhiều rủi ro, vai trò của Hiệp hội ngân hàng chưa thực sự đủ mạnh
đứng ra để liên kết với các ngân hàng trong cơ chế tự bảo vệ, lòng tin của người
• Ngân hàng phát triển
• Ngân hàng đầu tư
• Ngân hàng chính sách
• Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác
+ TCTD phi ngân hàng (là loại hình TCTD được thực hiện một số hoạt động
ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền
gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. Theo điều 20 khoản 3 Luật sửa
đổi bổ sung Luật các TCTD ngày 15/06/2004 quy định TCTD phi ngân hàng bao
gồm: Công ty tài chính; Công ty cho thuê tài chính và các TCTD phi ngân hàng
khác.
- Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ, các TCTD ở Việt Nam được chia
thành các loại sau:
+TCTD Nhà nước.
+TCTD cổ phần.
“Điều 1 khoản 1 điểm 1 Nghị định số 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
Nghị định của Chính Phủ số 89/1999/NĐ-CP ngày 24/08/2005”.
2 Điều 20 khoản 1 Luật sửa đổi bổ sung Luật các tổ chức tín dụng ngày 15/06/2004 . NXB Chính trị quốc gia,
năm 2008.
1
17
+TCTD hợp tác.
+TCTD có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc các TCTD, tổ chức không phải
là TCTD được pháp thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật
các TCTD. Việc tham gia BHTG phải được thực hiện một cách công khai bằng
cách niêm yết về việc tham gia bảo hiểm tại trụ sở và các điểm giao dịch.
Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm: theo quy định tại điều 3 của Nghị
Theo quy định tại điều 3 Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ: “Tiền
gửi được bảo hiểm là Đồng Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia
BHTG” , theo quy định này BHTG Việt Nam chỉ bảo hiểm cho loại tiền bản tệ là
đồng Việt Nam. Nghị định Chính phủ số 109/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi một số
điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP quy định tại điều 1 khoản 2: “Tiền gửi được
bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia
đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham
gia BHTG”. Như vậy Việt Nam theo nhóm nước chỉ bảo hiểm đồng bản tệ, và
đồng bản tệ được bảo hiểm này là Đồng Việt Nam. Song một điểm mới của Nghị
định Chính phủ số 109/2005/NĐ-CP so với Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính
phủ là đã mở rộng đối tượng được hưởng quyền lợi bảo hiểm, cụ thể: theo quy định
của Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ, người được hưởng quyền lợi bảo
hiểm chỉ có thể là cá nhân gửi tiền bằng đồng Việt Nam tại các tổ chức tham gia
BHTG. Song Nghị định Chính phủ số 109/2005/NĐ-CP đã quy định người được
hưởng quyền lợi bảo hiểm ngoài cá nhân còn có hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh
nghiệp tư nhân, công ty hợp danh gửi tiền bằng đồng Việt Nam tại tổ chức tham gia
BHTG. Cùng với việc mở rộng đối tượng được hưởng quyền lợi bảo hiểm, Nghị
định 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ còn quy định những trường hợp tiền gửi
không được bảo hiểm bao gồm :
-“Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc
nắm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia BHTG đó.
-Tiền gửi của người gửi tiền là thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát,
tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của tổ chức tham gia
BHTG đó.
- Tiền gửi dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền.
Trang 118,119 giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam – trường đại học Luật Hà Nội (Nhà xuất bản Công an nhân
dân,năm 2008.)
1
hiểm tối đa 30 triệu đồng đã không còn phù hợp với thực tế. Nghị định Chính phủ
“Điều 1 khoản 2 điểm a,b,c,d Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi một số
điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP .
2
20
số 109/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
89/1999/NĐ-CP đã quy định về giới hạn số tiền bảo hiểm tại điều 1 khoản 3 như
sau: “Số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và
lãi của một người gửi tiền (một cá nhân hoặc một người đại diện hợp pháp) tại một
tổ chức tham gia BHTG thuộc đối tượng quy định tại Điều 3 của Nghị định này, tối
đa là 50 (năm mươi) triệu đồng”.
Với mức BHTG tối đa ở Việt Nam được quy định 50 triệu đồng vào thời
điểm ban hành Nghị định 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ là phù hợp với mức
tăng trưởng của nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam, là mức
vừa đủ cao để khuyến khích người gửi tiền, có khả năng ngăn chặn được sự rút tiền
hàng loạt khi ngân hàng có sự cố, nhưng cũng vừa đủ thấp để người gửi tiền phải
thận trọng, cân nhắc khi gửi tiền và buộc các TCTD phải hoạt động an toàn, có hiệu
quả. Nhưng trong tương lai gần, khi kinh tế đất nước phát triển, đời sống nhân dân
ngày một nâng cao thì hạn mức chi trả tối đa có thể sẽ cần được điều chỉnh.
Việc thay đổi số tiền bảo hiểm tối đa trên là do Chính phủ Quyết định trên cơ
sở đề nghị của tổ chức BHTG và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước, Bộ tài chính.
Đối với số tiền gửi vượt quá 50 triệu đồng được tổ chức BHTG chi trả cho người
gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG phù hợp với
quy định của Luật phá sản doanh nghiệp. Việc quy định mức tiền gửi được bảo
hiểm tối đa thường được xác định trên cơ sở:
- Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người);
- Mức độ rủi ro trong nền kinh tế cũng như trong hoạt động ngân hàng;
tiền nộp chậm. Nếu sau thời hạn nộp phí 30 ngày, tổ chức tham gia BHTG chưa
nộp phí BHTG, kể cả tiền phạt, tổ chức BHTG có quyền: yêu cầu Ngân hàng Nhà
nước, Kho bạc Nhà nước, TCTD nơi tổ chức tham gia BHTG mở tài khoản, trích
tiền trên tài khoản của tổ chức đó để nộp phí, tiền phạt. Trong trường hợp trên tài
khoản của tổ chức tham gia BHTG không đủ số dư để thực hiện việc trích nộp trên
thì BHTG Việt Nam yêu cầu Ngân hàng Nhà nước, TCTD hoặc Kho bạc Nhà nước
trích để nộp phí BHTG trước và nộp tiền phạt sau, đồng thời thông báo bằng văn
bản cho tổ chức tham gia BHTG yêu cầu nộp phần còn thiếu.
Nếu quá thời hạn nộp phí BHTG 90 ngày (kể cả ngày nghỉ cuối tuần và ngày
nghỉ lễ tết) theo quy định của pháp luật mà tổ chức tham gia BHTG vẫn không nộp
đủ phí BHTG thì tổ chức BHTG Việt Nam có quyền:
1
Trang 120, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam trường đại học luật Hà Nội-NXB Công an nhân dân,năm 2008.
22
- Ra Quyết định chấm dứt BHTG và thông báo trên các phương tiện thông
tin đại chúng.
- Đề nghị Ngân hàng Nhà nước ra Quyết định ngừng huy động tiền gửi cá
nhân của tổ chức đó.
Việc thu phí BHTG được thực hiện thông qua hội sở của các tổ chức tham
gia BHTG hoặc theo phương thức khác do BHTG Việt Nam và tổ chức tham gia
BHTG thoả thuận.
Phần lớn các quốc gia có hệ thống BHTG, phí BHTG là tài chính quan trọng
để đảm bảo cho tổ chức BHTG thực hiện hoạt động của mình, thông thường xây
dựng phí BHTG phải đáp ứng một số yêu cầu như:
- Phí BHTG được thu từ các tổ chức có hoạt động kinh doanh ngân hàng (cụ
của pháp luật về phá sản. Như vậy, sự kiện bảo hiểm trong BHTG được xác định
dựa trên cơ sở có đồng thời cả hai căn cứ sau:
- Một là, tổ chức tham gia BHTG bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác
định là không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
- Hai là, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, có văn bản yêu cầu tổ chức này
chấm dứt các giao dịch để tiến hành thanh lý các tài sản (giải thể) hoặc Toà án
thông báo Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật về
phá sản.
Nếu như TCTD chỉ mới ở tình trạng có nguy cơ mất khả năng chi trả nhưng
chưa đến mức đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, TCTD đó sẽ được tổ chức
BHTG áp dụng biện pháp hỗ trợ như:
- Cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi được bảo hiểm.
- Bảo lãnh cho các khoản vay đặc biệt để có nguồn chi trả tiền gửi được bảo
hiểm.
- Mua lại nợ trong trường hợp khoản nợ đó có tài sản bảo đảm.
Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, tổ chức BHTG Việt Nam có trách nhiệm chi
trả số tiền được bảo hiểm cho những người gửi tiền hoặc người đại diện, người
thừa kế của người gửi tiền theo quy định của pháp luật, căn cứ vào danh sách
những người gửi tiền do tổ chức tham gia BHTG lập, được tổ chức tham gia BHTG
xét duyệt trên cơ sở các chứng từ hợp lệ. Số tiền chi trả bảo hiểm của tổ chức
BHTG cho người gửi tiền là số tiền mà người gửi tiền đã gửi tại tổ chức tham gia
BHTG đó, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi tính đến thời điểm có sự kiện bảo hiểm,
nhưng không vượt quá giới hạn tối đa số tiền bảo hiểm 50 triệu mà pháp luật đã
quy định. Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền do tổ chức BHTG trực tiếp
24
tiến hành hoặc uỷ quyền cho TCTD thực hiện trên cơ sở hợp đồng uỷ quyền theo
quy định của pháp luật.